Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU TRA VỤ ÁN THAM NHŨNG 1. Một số vấn đề lý luận về tội phạm tham nhũng 1. Khái niệm tội phạm tham nhũng Hiện nay, vấn đề tham nhũng không còn là vấn đề của riêng một quốc gia mà đã trở thành một vấn đề toàn cầu. Không một nước nào miễn dịch với tham nhũng, các nước phát triển, đang phát triển hay kém phát triển, tuy nhiên tham nhũng dường như xâm hại tỷ lệ cao hơn ở các nước đang phát triển, nền kinh tế đang chuyển đổi [20].
Tham nhũng đã ngăn cản sự vượt qua những thách thức cho sự phát triển, đầu tư trong nước và ngoài nước, làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Chính phủ và thậm chí có thể dẫn đến sự sụp đổ của cả một chế độ. Tham nhũng thường gắn với yếu tố quyền lực, khi một người được giao nắm giữ quyền lực trong tay, thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao trong hoàn cảnh cụ thể thì những người đó đã thực hiện những hành vi trái với quy định của pháp luật, được luật hình sự bảo vệ, xâm phàm đến những hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức, Nhà nước, xã hội nhằm mục đích vụ lợi cho cá nhân [46]. Để đưa ra một khái niệm về tội phạm tham nhũng chính xác thì trước hết cần tìm hiểu về khái niệm tham nhũng. Trong khoa học pháp lý và thực tiễn hiện nay còn có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm tham nhũng và tội phạm tham nhũng.
Theo từ điển Tiếng Việt:“tham nhũng là lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu nhân dân lấy của dân” [56, tr. Ban nghiên cứu thuộc Hội đồng Châu Âu cũng đã đưa ra khái niệm về tham nhũng như sau:“tham nhũng bao gồm hành vi hối lộ và bất kỳ một hành vi nào khác của những người được giao thực hiên một trách nhiệm nào đó trong khu vực Nhà nước hoặc tư nhân nhưng đã vi phạm về trách nhiệm được giao để thu bất kỳ một lợi ích bất hợp pháp nào cho cá nhân hoặc cho người khác” [54, tr. Trên thực tế ở Việt Nam ta hiện nay cũng có nhiều quan điểm về tham nhũng khác nhau, cũng nhiều quan điểm cho rằng tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn này để nhằm mục đích vụ lợi. Chủ tịch Hồ Chí Minh: lúc sinh thời người đã nhận thấy mầm mống của tệ nạn tham nhũng trong chính quyền cách mạng và Người kiên quyết đấu tranh với tệ nạn này, “tham ô, lãng phí, quan liêu là những xấu xa của xã hội cũ.
Nó do lòng tư 9 luan an lợi ích kỷ hại nhân dân mà ra, dó do chế độ người boc lột người mà ra” [26, tr. Hồ Chí Minh cũng đã từng nói tham ô là biểu hiện đặc trưng của tham nhũng. Đồng thời Hồ Chí Minh cũng khẳng định “tham ô là hành động xấu xa nhất, tội lỗi, đê tiện nhất trong xã hội. Tham ô là trộm cắp của công, chiếm đoạt của công làm của tư” [27, tr.
Đinh Văn Quế cũng đưa ra định nghĩa tham nhũng: “Tham nhũng là lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu nhân dân và lấy của. Các tội phạm tham nhũng là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện một cách cố ý xâm phạm đến tài sản, uy tín của các cơ quan, tổ chức, xâm phạm đến tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân” [30].TS Nguyễn Xuân Yêm, PGS. Nguyễn Hòa Bình, TS. Bùi Minh Thanh cho rằng: “Tham nhũng là hiện tượng xã hội tiêu cực có tính lịch sử, xuất hiện và tồn tại trong xã hội phân chia giai cấp và hình thành Nhà nước, được thể hiện bằng hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi cho cá nhân hoặc người khác dưới bất kỳ hình thức nào, gây thiệt hại tài sản của Nhà nước, của tập thể, của công dân hoặc đe dọa gây thiệt hại cho hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của công dân” [55, tr.
Phạm Xuân Sơn và Ths. Hoàng Thế Lực: “Tham nhũng là một hiện tượng xã hội, trong đó có các tổ chức, tập đoàn, cá nhân … lợi dụng những ưu thế về chức vụ, cương vị, uy tín, nghề nghiệp, hoàn cảnh của mình hoặc người khác, lợi dụng những sơ hở của pháp luật để trục lợi bất chính” [45, tr. Nhìn chung các quan điểm đưa ra định nghĩa tham nhũng đã bao quát được một cách đầy đủ về bản chất của tham nhũng. Văn bản pháp lý chuyên biệt đầu tiên của nước ta về chống tham nhũng đó là Pháp lệnh Chống tham nhũng ngày 26/2/1998.
Trong đó, tại Điều 1 đã xác định: “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó để tham ô, hối lộ hoặc cố ý làm trái pháp luật vì động cơ vụ lợi, gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, tập thể và cá nhân, xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức” [52]. Theo Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 cũng đã định nghĩa: “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi. Người có chức vụ quyền hạn bao gồm: Cán bộ, công chức, viên chức; 10 luan an Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn - kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; Cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; Người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó” [40]. Từ những quan điểm của các nhà nghiên cứu trên về tham nhũng thì có thể thấy khái niệm tham nhũng được hiểu theo nghĩa chung nhất đó là “tham nhũng là lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi trái pháp luật nhằm trục lợi”.
Khái niệm tội phạm là một trong những vấn đề quan trọng nhất của luật hình sự. Chế định tội phạm là chế định trung tâm thể hiện rõ nét nhất về bản chất giai cấp, đặc điểm về chính trị, xã hội cũng như về quy pháp pháp luật hình sự của mỗi nước. Tội phạm là một hiện tượng xã hội, vì vậy khái niệm của nó sẽ gắn liền với sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh hiện nay việc hoàn thiện quy định về tội phạm trong luật hình sự nói chung và tội phạm tham nhũng nói riêng là điều hết sức cần thiết.
Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 sửa đổi, bổ sung đã đưa ra định nghĩa khá hoàn thiện về tội phạm, được quy định tại Điều 8 của BLHS “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự” [36]. Tuy nhiên Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 không đưa ra định nghĩa về tội phạm tham nhũng, nhưng căn cứ vào quy định về khái niệm tội phạm và các quy định về các tội phạm tham nhũng tại Mục 1 Chương XXIII thì chúng ta có thể đưa ra định nghĩa tội phạm tham nhũng như sau: Tội phạm tham nhũng là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có chức vụ, quyền hạn được giao thực hiện một số công vụ, nhiệm vụ đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó để thực hiện một cách cố ý xâm phạm đến hoạt 11 luan an động đúng đắn, uy tín và lợi ích của Nhà nước, tổ chức, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và tổ chức khác nhằm mục đích vụ lợi cá nhân. Dấu hiệu pháp lý của tội phạm tham nhũng Trong thực tế đấu tranh chống tội phạm tham nhũng nói chung và hoạt động điều tra vụ án tham nhũng nói riêng việc xác định các dấu hiệu pháp lý của tội phạm tham nhũng là hoạt động vô cùng quan trọng. Từ góc độ TTHS thì xác định được dấu hiệu pháp lý của tội phạm giúp CQĐT xác định được có tội phạm xảy ra hay không, xác định được người phạm tội, thiệt hại cho xã hội do hành vi phạm tội gây ra và tạo tiền đề để xác định các bước tiếp theo của hoạt động điều tra vụ án tham nhũng.
Khi xác định được đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm tham nhũng thì CQĐT sẽ tiến hành hoạt động tố tụng như khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can hoặc tiến hành áp dụng các biện pháp ngăn chặn phù hợp đối với bị can. Xác định đầy đủ các dấu hiệu pháp lý của tội phạm tham nhũng có ý nghĩa to lớn không những đối với hoạt động điều tra mà còn có ý nghĩa trong hoạt động truy tố, xét xử vụ án tham nhũng đúng người, đúng tội và đúng pháp luật tránh được trường hợp bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội. Hoạt động xác định các dấu hiệu pháp lý của tội phạm tham nhũng trong thực tế còn gặp nhiều trường hợp khó khăn, do chủ thể thực hiện là những người có chức vụ, quyền hạn nên họ có điều kiện che dấu hành vi phạm tội của mình. Hơn nữa, sự lẫn lộn giữa cơ chế quản lý, chức năng nghề nghiệp với sự lợi dụng chức vụ, quyền hạn của người có chức vụ đã tạo nên điều kiện thực hiện hành vi phạm tội vì vụ lợi một cách trót lọt.
Vì vậy, việc làm rõ dấu hiệu pháp lý đặc trưng nhìn từ góc độ pháp luật tố tụng hình sự giúp cho việc điều tra nhận diện vụ án tham nhũng dễ dàng hơn trong thực tiễn áp dụng pháp luật.