Chương 1. Lý luận về thu hồi tài sản tham nhũng không dựa trên kết án; Chương 2. Thực trạng thu hồi tài sản tham nhũng không dựa trên kết án ở Việt Nam trong tương quan với kinh nghiệm thế giới và khả năng vận dụng: Chương 3. Giải pháp vận dụng kinh nghiệm thế giới vào hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động thu hồi tài sản tham nhũng không dựa trên kết án ở Việt Nam.
LÝ LUẬN VE THU HOI TAI SAN THAM NHŨNG KHONG DỰA TREN KET ÁN 1. Triết lý, khái niệm, đặc điểm của thu hồi tài sản tham nhũng không dựa trên kết án 1. Triết lý của thu hồi tài sản tham những Chế định THTSTN trước tiên bắt nguồn từ một nguyên tắc đạo đức lâu đời của các tòa án trong các nước theo hệ thống thông luật, được thể hiện qua thuật ngữ gốc La-tinh: Không ai được phép hưởng lợi từ những hành vi sai trải (commodum ex injuria sua non habere debet).12] Với cách tiếp cận mang tính trừng phạt của pháp luật hình sự, chế định thu hồi tài sản do phạm tội mà có thé hiện quyết tâm tước đoạt tất cả những lợi ích mà tội phạm thu được từ hành vi phạm tội. Nền tảng triết lý của chế định THTSTN tiếp tục được củng cố vào đầu những năm 1970, khi những quan điểm tân cô điền xuất hiện trong nghiên cứu về tội phạm học đã dẫn đến sự ra đời của Thuyết Cơ hội phạm tội (Crime Opportunity Theory) [31, tr.14], một học thuyết được cho là đã có ảnh hưởng rat sâu sắc tới tư duy pháp luật và cuộc dau tranh chống tội phạm trên toàn thé giới.
Thuyết Cơ hội phạm tội cho rằng, kẻ phạm tội thường đưa ra những lựa chọn mang tính duy lý và thường chọn hướng tới những mục tiêu mà chúng cho rằng đem lại lợi ích lớn nhất với những nỗ lực và rủi ro thấp nhất. Trong số ba nội dung nền tảng của Thuyết cơ hội phạm tội, Lý thuyết về sự lựa chọn duy lý (Rational Choice Theory) cung cấp những luận điểm quan trọng nhất, góp phần hình thành nên nền tảng triết lý cho các chính sách, chiến lược phòng ngừa tội phạm nói chung và THTSTN nói riéng. I5] Nhìn nhận thế giới từ cảm quan của tội phạm dé hình dung về tâm lý tội phạm trước khi phạm tội, Lý thuyết về sự lựa chọn duy lý được xây dựng dựa trên giả định răng, ban chat hành vi con người là xử sự có lý trí va logic, hành 15 động phạm tội của con người thường là kết quả của sự tính toán dựa trên lý trí về các yếu tô liên quan đến chi phí hành động, khả năng thành công và lợi ích đạt được.[33] Hành động phạm tội được thực hiện là kết quả nỗ lực ý chí của kẻ phạm tội khi tin tưởng rằng những lợi ích thu được từ hành vi phạm tội sẽ lớn hơn chi phí hành động. Với tư duy như vậy, kẻ phạm tội sẵn sàng chấp nhận những rủi ro có thể xảy ra khi thực hiện hành vi phạm tội.
Vận dụng Lý thuyết về sự lựa chọn duy lý vào vấn đề THTSTN để thấy, thành công của các chiến lược THTSTN phụ thuộc rất nhiều vào nỗ lực của các quốc gia trong việc: (i) Gia tăng mức độ rủi ro đối với việc thực hiện tội phạm; (ii) Giảm thiểu những điều kiện thuận lợi cho hành vi phạm tội va đặc biệt là; (iii) Xóa bỏ những lợi ich mà tội phạm trông đợi, đó là tài sản do phạm tội mà có.42] Các nỗ lực nêu trên về nguyên tắc cần được thực hiện đồng thời nhưng việc xoá bỏ, triệt tiêu những lợi ích mà tội phạm trông đợi được xem là biện pháp trực tiếp nhắm vào động cơ của tội phạm tham nhũng, đó chủ yếu là lợi ích kinh tế, có tác dụng ngăn ngừa các hành vi tham nhũng ngay từ đầu. Thu hồi tài sản tham những không dựa trên kết án Theo Từ điển Tiếng Việt, “Thu hồi là việc thu về lại, lấy lại cải trước đó đã đưa ra, đã cấp phát hoặc bị mắt vào tay kẻ khác để trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp”.924] Cũng theo Từ điền tiếng Việt, “Tịch thu là việc cơ quan nhà nước tước đoạt một phan hoặc toàn bộ tai sản thuộc quyền Sở hữu tài sản cua một người, thường là do phạm tội, sung làm cua công”.948] Tiếp cận pháp lý, Từ điển Luật Black (Black Law Dictionary) định nghĩa “tịch thu (to confiscate) là việc tước đoạt lại tài san bởi cơ quan nhà nước (được cho là) có thẩm quyên”[32, tr.340], còn “thu hồi (to recover) là việc lấy lại hoặc thu lại đây đủ hoặc tương đương, việc thu lại hoặc phục hồi lại những thứ đã mat hoặc bi lay di” (32, tr.1388] O trong nước, Tu điển Luật học của Bộ Tư pháp định nghĩa: “Tịch thu tài sản tước của người bị kết án một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của họ để sung quỹ nhà nước ”. 761] 16 Ở cấp độ quốc tế, UNCAC là văn kiện đề cập trực tiếp và sâu rộng nhất đến vấn đề THTSTN. UNCAC quy định về cả quá trình từ khâu xác định, truy tìm, phong toa, tam giữ, tịch thu nhằm trả lại tài sản tham nhũng cho các chủ sở hữu hợp pháp của nó.
Công ước gọi cả quá trình này là “thu hồi tài sản” (asset recovery).3-5] Một số văn kiện pháp lý quốc tế khác định nghĩa THTSTN bao gồm cả bước “quan lý những tài sản đã hồi hương” (management of returned assets) dé dam bao những tai sản nay được sử dung minh bach va hiệu qua, vì lợi ich cua người dan. Trong khi đó, thuật ngữ “thu hồi tài san” (asset recovery) được sử dụng nhiều hơn trong các vụ án tham nhũng có yếu tố nước ngoài. Từ đó, có thể hiểu, “tịch thu” là khái niệm có nội hàm hẹp hơn “thu hồi”. “Tịch thu” là một bước trong quá trình THTSTN, “thu hồi” có nội hàm rộng hơn, bao gồm không chỉ hành động “lấy lại” mà còn là sự “trả lại” cho nhà nước hoặc chủ sở hữu hợp pháp khác.
Trên cơ sở cách tiếp cận cho rằng “THTSTN” bao hàm cả hoạt động “tịch thu tài sản” với mục đích “trả lại tài sản” tham nhũng cho nhà nước hoặc chủ sở hữu hợp pháp của nó. Và cũng dé tương thích với quan niệm quốc tế, tác giả đưa ra định nghĩa về THTSTN được hiểu như sau trong luận văn này như sau: “Thu hồi tài sản tham những là quá trình các cơ quan có thẩm quyên phát hiện, truy tìm, phong tod, tạm giữ, tịch thu một phan hoặc toàn bộ tài sản do tham những mà có theo các trình tự, thủ tục luật định. Mục đích của thu hồi tài sản tham những là dé trả lại tài sản cho nhà nước hoặc cho chủ sở hữu hợp pháp của tài sản.” Dựa trên quan điểm coi bản chất của thu hồi là chế tài hướng tới cá nhân bị cáo hay chỉ tập trung vào mục đích bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, có thể chia THTSTN thành các phương thức sau: 17 Thu hồi tài sản tham những dựa trên kết án (Conviction-based confiscation/In Personam Forfeiture): Dựa trên quan điềm coi THTSTN là hình phạt nhằm răn đe và trấn áp đối với cá nhân tội phạm, các cơ quan tiến hành tố tụng chứng minh những yếu t6 cấu thành tội phạm dé trừng phạt người phạm tội thông qua một phán quyết của tòa án. Đây là hình thức THTSTN phổ biến hiện nay trên thế giới, theo đó, kết án là điều kiện tiên quyết dé tiến hành THTSTN.
Hình thức này có ưu điểm là thé hiện rõ nét tính ran đe của pháp luật nhưng được cho là không phù hợp trong đấu tranh chống tội phạm tham nhiing.18] Thực tiễn cho thấy, việc kết án bị cáo nhiều khi không kha thi nếu bị cáo chết, chạy tron, không xác định được người phạm tội, được hưởng quyền miễn trừ truy tố. Trong khi đó, nếu việc chứng minh tội phạm gặp nhiều khó khăn và kéo dài sẽ tạo điều kiện cho tội phạm có nhiều thời gian dé tau tán tài sản. Thu hôi tài sản tham những không dua trên kết án (Non-conviction based confiscation/In Rem Forfeiture) “THTSTN không dựa trên kết án ” là biện pháp mà trong đó các cơ quan chức năng tiến hành THTSTN của người bị tình nghỉ phạm tội mà không can phải có phiên tòa hình sự dé đưa ra phán quyết buộc tội dựa trên quan điểm cho rằng, THTSTN là biện pháp để phục hồi, khắc phục hậu quả của hành vi tội phạm. Theo hình thức này, tài sản có thể bị thu hồi mà không yêu cầu phải truy cứu trách nhiệm hình sự của nghi phạm.
Ưu điểm của hình thức này là tòa án vẫn có thé tién hành THTSTN ngay cả khi không thé kết án người phạm tội do họ đã chết, lân trốn, vắng mặt hoặc được hưởng quyền miễn trừ; khi không tìm được kẻ phạm tội nhưng tìm được tai sản; tài sản đang được nắm giữ bởi một bên thứ ba không bị kết án, bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng nhận thức được (hoặc cé tình coi như không biết rằng) tài sản có nguồn gốc tội phạm, được hiểu là tài sản do phạm tội mà có hoặc tài sản được sử dụng làm công cụ dé phạm tội. Bên cạnh do là van đê hiệu lực hôi tô, đôi với tài san được hình thành 18 vào thời điểm mà hành vi không được xem là tội phạm thì vẫn sẽ bị áp dụng thủ tục thu hồi không dựa trên kết án dé thu hồi tài san. Tuỳ theo hệ thống pháp luật quốc gia, căn cứ để THTSTN có thê dựa trên dau hiệu làm giàu bất chính hoặc nguyên tắc không ai được hưởng lợi từ tài sản được thủ đắc một cách bất hợp pháp trong khi người sở hữu tài sản không thể chứng minh được nguồn gốc của tài sản. Khi đó, nghĩa vụ chứng minh nguồn gốc hợp pháp của tài sản thuộc về người đang nắm giữ tài sản.
Với biện pháp này, cơ quan chức năng chỉ cần chứng minh rằng tài sản có liên quan đến một hành vi bất hợp pháp dựa trên tiêu chuẩn cung cấp được “bằng chứng ưu thể” (preponderance of evidence, balance of propobility). Day là cấp độ chứng minh pho biến ở các nước theo truyền thống pháp luật dân sự (chứng cứ tới đâu, xét xử tới đó). Trong khi đó, tiêu chuân chứng cứ trong tố tụng hình sự đòi hỏi phải đáp ứng được cấp độ cao nhất của chứng minh, đó là “chắc chắn không còn nghỉ ngờ hợp ly nào khác” (beyond reasonable doubt).13] Có nghĩa là một người chỉ bị kết tội khi họ chắc chắn đã thực hiện một tội phạm mà không còn một nghi ngờ hợp lý nào khác.