Chương I: Những vấn dé lý luận về hop tác quốc tế trong thu hồi tài sản tham nhũng; Chương II: Hợp tác trong thu hồi tài sản tham nhũng theo quy định của pháp luật quốc tế và thực tiễn một số quốc gia: Chương III: Hợp tác giữa Việt Nam và các quốc gia trong thu hồi tài sản tham nhũng — Một số kiến nghị giải pháp. NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE HỢP TÁC QUOC TE TRONG THU HOI TAI SAN THAM NHŨNG 1. Khái niệm tài sản tham nhũng và thu hồi tài sản tham nhũng 1. Khái niệm tài sản tham những Trong Công ước LHQ về chống tham nhũng (UNCAC), khái niệm “tài sản tham nhũng” được hiéu thông qua khái niệm “tài sản do phạm tội mà có”.
Theo Điều 2 (điểm d, e) của Công ước này, “Tài sản” có nghĩa là mọi loại tài sản, vật chất hay phi vật chất, động sản hay bất động sản, hữu hình hay trừu tượng, và các văn bản pháp lý hay giấy tờ chứng minh quyên sở hữu hoặc lợi ích đối với tài sản đó. Khoản 1 (điểm a,b) Điều 31 Công ước quy định: “Tài sản đo phạm tội mà có là tài sản có nguôồn gốc từ tội phạm” được quy định theo Công ước này hoặc “tài sản có giá trị tương đương” với giá trị của tài sản do phạm tội mà có. Ngoài những yếu tố đã được UNCAC xác định, Cơ quan phòng chống tội phạm và ma túy của LHQ (UNODC) đã cụ thể hóa khái niệm tài sản do phạm tội mà có bao gồm các loại như sau”: () Tài sản, trang thiết bị hay công cụ khác được sử dụng hoặc sẽ được sử dụng để thực hiện hành vi tham nhũng; (1) Tài sản tham những đã bi biến đổi hoặc chuyền đổi, một phần hoặc toàn bộ, thành tài sản khác, thì tài sản khác này được coi là tài sản tham nhũng bởi dù đã bị biến đổi hoặc chuyển đổi nhưng vẫn là “tài sản có tì vết”. Cần chú trọng đến tính chất không thê huỷ bỏ “tì vết” của tài sản, bất ké số lần tiếp nhận, chuyên nhượng và chuyển đổi; (iii) Trong trường hợp tài sản tham những được trộn lẫn với tài sản có nguồn gốc hợp pháp, tai sản tham nhũng là phần tài sản được định giá là trong đương với những tài sản do tham nhũng mà có từ khối tài sản hợp pháp: (iv) Thu nhập hoặc các lợi ích khác có được từ tài sản do tham nhũng mà có, từ tài sản được biến đổi hoặc chuyền đổi từ tài sản do tham nhũng mà có hoặc từ tài sản mà trong đó lẫn lộn một phân là tài sản do tham nhũng mà có.
Điều đó có nghĩa là bên cạnh tài sản gốc, nhà nước có thé thu hồi cả tài sản thứ cấp, hay tài sản phát ? UNODC (2009), Hướng dẫn kỹ thuật về việc thực thi UNCAC, Nxb. Lao động, tr.169 sinh từ tài sản gốc của tội phạm. Đây là những tài sản liên quan đến các lợi ích thu được từ tài sản ban đầu, ví dụ như lãi suất ngân hàng từ khoản tiền tham nhũng hoặc số tiền cho thuê ngôi nhà do tham nhũng mà có. Các hướng dẫn ké trên cho thấy, cách hiểu và vận dụng phù hợp về tài sản tham những là mở rộng diện tài sản được coi là tài sản tham những.
Trong phạm vi luận văn này, tác giả chia sẻ những yếu tố dùng dé xác định tài sản tham nhũng được nêu trong UNCAC và được phân tích bởi UNODC. Thêm vào đó, cần linh hoạt trong việc xác định tài sản tham những nhưng việc xác định một tai sản có phải là tài sản tham nhũng hay không cần đáp ứng các tiêu chí, quy định của pháp luật để đâm bảo quyền tài sản của công dân. Vì vậy, tác giả luận văn cho rang, chi cần đưa ra một khái niệm mở: “Tài sản tham nhũng là bất cứ tài sản nào được pháp luật xác định là do tham nhũng mà có”. Quy định mở này cho phép việc hiểu và vận dụng linh hoạt trong thực tế, từ đó đạt được mục đích thu hồi tối đa tài sản tham nhũng.
Khái niệm thu hồi tài sản tham những Theo Từ điển Tiếng Việt, “thu hồi” là “việc thu về lại, lấy lại cái trước đó đã đưa ra, đã cấp phát hoặc bi mất vào tay kẻ khác dé trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp”Ẻ. Mặc dù các cụm từ “thu hồi”, “thu hồi tài sản tham những” đã được nêu trong Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 (sau đây viết tắt là Luật PCTN) nhưng cách sử dụng còn chưa thống nhất và chưa được giải thích nội hàm. Cụ thể, khoản 1 Điều 93 Luật PCTN năm 2018 quy định về xử lý tài sản tham nhũng thi “tai sản tham những phải được thu hồi, trả lại cho chủ sở hữu, người quản ly hợp pháp hoặc tịch thu theo quy định của pháp luật. Thiệt hại do hành vi tham những gây ra phải được khắc phục; người có hành vi tham những gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật".
Từ điển tiếng Việt định nghĩa “tịch thu” là “việc cơ quan nhà nước tước đoạt một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu tài sản của một người, thường là do phạm tội, sung làm của công”Ý. Từ điển Luật học của Bộ Tư pháp năm 2006 định nghĩa, “Tich thu tai sản” là “tước của người bi kết án một phần hoặc toàn bộ tài sản > Hoàng Phê (chủ biên) (1997), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Da Nẵng, Da Nẵng, tr.924 * Hoàng Phê (chủ biên) (1997), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr.948 thuộc sở hữu của họ để sung quỹ nhà nước ”Ÿ.
Điều 45 Bộ luật Hình sự (BLHS) 2015 định nghĩa “tịch thu tài sản” là “tước một phan hoặc toàn bộ tài san thuộc sở hữu của người bị kết án để nộp vào ngân sách nhà nước”. Từ điển Black Law Dictionary định nghĩa “tịch thu (to confiscate) là “việc tước đoạt lại tài sản bởi cơ quan nhà nước (được cho là) có thâm quyền ”6. còn “thu hồi” (to recover) là việc lay lại hoặc thu lai đầy đủ hoặc tương đương; việc thu lại hoặc phục hồi lại những thứ đã mat hoặc bị lay di’. Mặc dù không phải là điều ước quốc tế đầu tiên dé cập đến vấn đề THTSTN song ƯNCAC là văn kiện để cập trực tiếp và sâu rộng nhất đến vấn đề THTSTN.
UNCAC quy định về cả quá trình từ khâu xác định, truy tìm, phong toa, tạm giữ, tịch thu nhằm trả lại tài sản tham nhũng cho các chủ sở hữu hợp pháp của nó. Công ước gọi cả quá trình nay là “thu hỗi tài sản (tham nhũng)” (asset recovery)Ÿ. Một số văn kiện pháp lý quốc tế khác định nghĩa THTSTN bao gồm cả bước “quản lý những tài sản đã thu hồi” (management of returned assets) dé dam bảo những tài sản nay được sử dụng minh bạch và hiệu quả, vì lợi ích của người dân”. Ở cấp độ quốc gia, pháp luật các nước thường sử dụng thuật ngữ “tịch thu tài sản” (confiscation).
Trong khi đó, thuật ngữ “thu hôi tài sản” (asset recovery) được sử dụng nhiều hon trong các vụ án tham nhũng có yếu tổ nước ngoài. Từ đó, có thé hiểu, “tịch thu” là khái niệm có nội hàm hẹp hơn “thu hôi”. Từ những trình bày, phân tích ở trên, tác giả cho rang, việc sử dụng thuật ngữ “thu hồi tài sản tham nhũng” có thể phản ánh, bao hàm được cả hoạt động “tịch thu tài sản” với mục đích “trả lại tài sản” tham những cho nhà nước hoặc chủ sở hữu, người quan lý hợp pháp của nó. Trên cơ sở cách tiếp cận này, và cũng dé tương thích với quan niệm quốc tế, luận văn đưa ra định nghĩa về thu hôi tài sản tham nhũng như sau: ` Bộ Tư pháp (2016), Từ điển Luật học, Nxb.
Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr.Garner (2009), Black Law Dictionary, West Publisher, p.Garner (2009), Black Law Dictionary, West Publisher, p.1388 * UNODC (2009), Hướng dẫn kỹ thuật về việc thực thi UNCAC, NXB. Lao động, tr.3-51 ° World Bank & UNDOC (2009), Stolen Asset Recovery: Management of Returned Assets: Policy Considerations, p. 10 “Thu hôi tài sản tham những là quả trình các cơ quan nhà nước có thẩm quyên phát hiện, truy tìm, phong tod, tạm giữ, tịch thu những tài sản do tham những mà có theo các trình tự, thủ tục luật định để sung công quy hoặc trả lai cho chủ sở hữu, người quan lý hợp pháp tài san”. Khái niệm hợp tác quốc tế trong thu hồi tài sản tham nhũng 1.
Định nghĩa hop tác quốc tế trong thu hồi tài sản tham những Đề nghiên cứu về hợp tác quốc tế trong thu hôi tài sản tham những, cần làm rõ khái niệm “hợp tác quốc tế”, dé thống nhất khái niệm về các quan hệ pháp luật và ngành luật điều chỉnh quan hệ xã hội, xác định chủ thể, nguyên tắc, nội dung, hình thức và giới hạn trong quan hệ hợp tác quốc tế trong thu hồi tài sản tham nhũng. Theo tiếng Việt, “hợp tác là cùng chung sức, giúp đỡ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nao đó nhằm một mục đích chung”!9. thuật ngữ “quốc tế” được sử dụng khi đề cập đến những vấn để liên quan đến mối quan hệ giữa các nước trên thế giới với nhau. Từ “quốc tế” theo nghĩa rộng còn bao gồm cả cộng đồng quốc tế, các tổ chức quốc tế khu vực, toàn cầu hoặc tổ chức quốc tế đa phương và có thê là song phương.
Như vậy, trong tiếng Việt, thuật ngữ “hợp tác quốc tế” phản ánh bản chất của hoạt động hợp tác, phối hợp trong một lĩnh vực nhất định của đời sống chính trị, văn hoá, xã hội giữa các quốc gia. Một số nghiên cứu trong chuyên ngành quan hệ quốc tế, pháp luật quốc tế, pháp luật hình sự có sử dụng cụm từ “xuyên quốc gia”, “xuyên biên giới” dé dé cập vấn dé hợp tác xuyên quốc gia, hợp tác xuyên biên giới: tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm xuyên biên giới. Trong đó, quan hệ hợp tác xuyên quốc gia, xuyên biên giới dé chỉ sự hợp tác giữa hai hoặc nhiều đối tác ở các quốc gia hoặc vùng lãnh thổ khác nhau mà một trong các chủ thể của quan hệ đó không đại diện nhà nước. Đặc điểm để phân biệt giữa hợp tác quốc tế và hợp tác xuyên biên giới hoặc hợp tác xuyên quốc gia là, ở hợp tác quốc tế khẳng định tính chất liên chính phủ, liên quốc gia giữa các chủ thể quan hệ hợp tác mà các chủ thê này thực hiện hành vi đại diện cho chính phủ, cho nhà nước!!, !° Viên Ngôn ngữ, Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2010).
Dai từ điển tiếng Việt, tái bản năm 2010, tr.