Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Pháp luật về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay" do nghiên cứu sinh Phạm Văn Công thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (năm 2019), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. TS. Nguyễn Ngọc Anh. Luận án thuộc chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự, mã số 9 38 01 04.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Bối cảnh toàn cầu hóa và các thách thức an ninh phi truyền thống làm gia tăng tính chất phức tạp của tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (ước tính doanh thu bất hợp pháp hàng năm đạt khoảng 1,6 đến 2,2 nghìn tỷ đô la Mỹ trên toàn cầu và khoảng 100 tỷ đô la Mỹ tại khu vực Đông Nam Á). Tình hình đối tượng phạm tội trong nước bỏ trốn ra nước ngoài hoặc đối tượng phạm tội ở nước ngoài lẩn trốn vào Việt Nam đặt ra yêu cầu cấp bách phải tăng cường các biện pháp tương trợ tư pháp, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù.

Về mặt lý luận và lập pháp, các quy định điều chỉnh quan hệ hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự được quy định rải rác trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 và các điều ước quốc tế liên quan. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các công trình khoa học trước đây chủ yếu tiếp cận đơn lẻ từng phân mảng nghiệp vụ (như dẫn độ, tương trợ tư pháp hình sự hoặc chuyển giao phạm nhân) dưới góc độ cơ quan thực thi chuyên biệt, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống trên bình diện liên ngành về pháp luật hợp tác quốc tế trong toàn bộ các giai đoạn của tố tụng hình sự tại Việt Nam.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tố tụng hình sự ở Việt Nam; từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật trong lĩnh vực này.

Để đạt được mục đích trên, luận án thực hiện 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước liên quan đến đề tài nhằm xác định các nội dung lý luận và thực tiễn cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu.
  2. Xây dựng và làm rõ cơ sở lý luận về khái niệm, đặc điểm, phạm vi, đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh và các nguyên tắc của pháp luật về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tố tụng hình sự ở Việt Nam.
  3. Khái quát lịch sử hình thành, phát triển; phân tích quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, so sánh với pháp luật của 06 quốc gia đại diện các hệ thống pháp luật trên thế giới và các điều ước quốc tế; đánh giá thực trạng thi hành, chỉ ra những vướng mắc, bất cập và nguyên nhân.
  4. Dự báo tình hình, xác định các yếu tố tác động và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật cùng các biện pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống quy định pháp luật về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tố tụng hình sự ở Việt Nam trên ba bình diện: cơ sở lý luận; pháp luật thực định (bao gồm quy định trong nước, điều ước quốc tế và đối chiếu với pháp luật của 06 quốc gia); thực tiễn tổ chức thi hành pháp luật.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu pháp luật Việt Nam và thực tiễn thực hiện chức năng của các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam gồm Cơ quan điều tra, các đơn vị chức năng thuộc Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Ngoại giao trên lãnh thổ Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát số liệu, thực tiễn thi hành từ năm 2008 (thời điểm Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 có hiệu lực) đến tháng 8/2019; phần lịch sử lập pháp khảo sát các giai đoạn từ năm 1945 đến nay.
Chỉ số / Hoạt động Thống kê đến tháng 8/2019 Thống kê thực tiễn thi hành (2008 – tháng 6/2019)
Điều ước quốc tế về TTTPHS 22 ĐƯQT đa phương; 28 ĐƯQT song phương Tiếp nhận hàng nghìn hồ sơ; gửi gần 1.200 hồ sơ yêu cầu (90% gửi đến nước đã ký hiệp định)
Điều ước quốc tế về dẫn độ 22 ĐƯQT đa phương; 23 ĐƯQT song phương Chuyển 35 yêu cầu dẫn độ ra nước ngoài (07 được chấp nhận, 04 bị từ chối); tiếp nhận 23 yêu cầu từ nước ngoài (73,5% áp dụng nguyên tắc có đi có lại)
Chuyển giao người bị kết án tù 17 ĐƯQT song phương và đa phương Tiếp nhận 61 yêu cầu chuyển giao cho nước ngoài (16 đã chuyển giao, 07 chờ quyết định); tiếp nhận 16 yêu cầu nhận công dân Việt Nam về nước (đã nhận 04; 23,3% áp dụng nguyên tắc có đi có lại)

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu ngoài nước

Tác giả đã khảo cứu các công trình quốc tế tiêu biểu về hợp tác quốc tế trong tư pháp hình sự và tội phạm xuyên quốc gia:

  • Christine Jojarth (2009): Crime, War, and Global Trafficking: Designing International Cooperation, Cambridge University Press. Công trình nghiên cứu mô hình, mức độ ràng buộc pháp lý trong thiết kế các cơ chế hợp tác quốc tế phòng chống tội phạm từ năm 1988 đến 2009.
  • Gert Vermeulen, Wendy De Bondt, Charlotte Ryckman (2012): EUCap: European Union Information Policy on Crime and Criminal Justice, Maklu. Tác phẩm phân tích toàn diện hệ thống pháp luật về hợp tác tư pháp hình sự tại Liên minh châu Âu (EU), chỉ ra các vấn đề hoàn thiện cơ chế tương trợ tư pháp trong và ngoài khối.
  • Văn phòng Liên hợp quốc về Ma túy và Tội phạm (UNODC): Legislative guide for the implementation of the United Nations Convention against Corruption (2006) và Manual on Mutual Legal Assistance and Extradition (2012). Cung cấp các tiêu chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật và nghĩa vụ nội luật hóa các quy định của Công ước UNCAC và UNTOC về tương trợ tư pháp hình sự và dẫn độ.
  • M. Cherif Bassiouni (1992): Policy considerations on inter-state cooperation in criminal matters, Pace International Law Review. Đánh giá chính sách và cơ sở xác định thẩm quyền tài phán quốc gia trong hợp tác tư pháp quốc tế.
  • Thomas Risse-Kappen (1999): Bringing transnational relations back in, Cambridge University Press. Phân tích tác động của các yếu tố xuyên quốc gia và thể chế quốc tế đến chính sách của nhà nước.
  • Sonny Shiu-Hing Lo (2009): The Politics of Cross-border Crime in Greater China, An East Gate Book. Nghiên cứu thực tiễn hợp tác tư pháp và đấu tranh phòng chống tội phạm xuyên biên giới giữa Trung Quốc đại lục, Hồng Kông và Ma Cao.
  • Anne-Marie Slaughter, Andrew S. Tulumello, Stean Wood (1998): Nghiên cứu phương pháp tiếp cận liên ngành giữa luật quốc tế và lý thuyết quan hệ quốc tế.
  • Neil Boister, Robert J. Currie (2015): Routledge Handbook of Transnational Criminal Law. Khái quát hóa lý luận về luật hình sự xuyên quốc gia và tố tụng hình sự quốc tế.

Các hướng nghiên cứu trong nước

Tác giả tổng hợp các công trình khoa học trong nước theo từng nhóm chuyên đề:

  • Nhóm nghiên cứu về phòng chống tội phạm xuyên quốc gia và hợp tác quốc tế của lực lượng chuyên trách: Đặng Xuân Khang (2014) với sách chuyên khảo Phòng, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia trong thời kỳ hội nhập quốc tế; Nguyễn Ngọc Anh (2009) với Hợp tác quốc tế phòng, chống tội phạm của lực lượng Cảnh sát nhân dân Việt Nam; Lê Hồng Hải (luận án tiến sĩ năm 2014) về hợp tác giữa Cảnh sát Việt Nam và Cảnh sát các nước ASEAN; Nguyễn Thị Quế Thu (luận án tiến sĩ năm 2012) về áp dụng điều ước quốc tế về phòng, chống tội phạm.
  • Nhóm nghiên cứu về các chế định chuyên biệt (dẫn độ, TTTPHS, chuyển giao người chấp hành án phạt tù): Nguyễn Ngọc Anh, Nguyễn Việt Hồng, Phạm Khắc Hạnh (2008) với Dẫn độ - Những vấn đề lý luận và thực tiễn; Nguyễn Ngọc Anh, Nguyễn Văn Mạnh, Phạm Văn Công (2011) với Tương trợ tư pháp về hình sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn; Nguyễn Ngọc Anh, Phạm Văn Công, Nguyễn Thị Thu Hương (2014) với Hợp tác quốc tế trong chuyển giao người bị kết án phạt tù; Ngô Hữu Phước (luận án tiến sĩ năm 2010) về Dẫn độ trong luật quốc tế và pháp luật Việt Nam; Nguyễn Thành Long (luận văn thạc sĩ năm 2004) về chế định hợp tác quốc tế trong BLTTHS năm 2003; các sách cẩm nang chuyên sâu do Nguyễn Ngọc Anh chủ biên như Sổ tay công tác dẫn độ (2013), Đàm phán, ký kết Hiệp định về dẫn độ (2014), Tuyển tập các văn kiện pháp lý quốc tế (2010), Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và sự tham gia của Việt Nam (2013).
  • Nhóm giáo trình và bình luận khoa học: Giáo trình Luật quốc tế và Giáo trình Luật tố tụng hình sự của Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật tố tụng hình sự của Đại học Quốc gia Hà Nội (Nguyễn Ngọc Chí chủ biên); công trình Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 do Nguyễn Ngọc Anh và Phan Trung Hoài đồng chủ biên (2017); Những vấn đề lý luận, thực tiễn về Luật hình sự quốc tế (Nguyễn Ngọc Chí chủ biên, 2011).
  • Các bài báo khoa học chuyên đề: Các bài viết của Nguyễn Ngọc Anh (2008, 2012, 2016), Nguyễn Ngọc Chí (2018), Dương Tuyết Miên (2004), Mai Thanh Hiếu (2004), Nguyễn Khắc Hải (2013), Nguyễn Thị Phương Hoa (2010), Nguyễn Văn Hùng (2013), Trần Công Phàn, Lê Tiến, Mai Thế Bày, Vũ Quốc Thắng, Trần Thế Quân, Ngô Thị Quỳnh Anh (Tạp chí Kiểm sát, 2014).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Trên cơ sở phân tích các công trình đã công bố, tác giả chỉ ra các điểm còn trống mà luận án tập trung giải quyết:

  1. Xây dựng hệ thống lý luận hoàn chỉnh về pháp luật hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tố tụng hình sự dựa trên phương pháp tiếp cận liên ngành (kết hợp luật hình sự, tố tụng hình sự, công pháp quốc tế và quan hệ quốc tế).
  2. Nghiên cứu toàn diện các quy định về hợp tác quốc tế trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 và các điều ước quốc tế mới mà Việt Nam tham gia.
  3. Khảo sát thực tiễn áp dụng từ năm 2008 đến tháng 8/2019 qua nguồn dữ liệu tổng kết thực tế của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Ngoại giao.
  4. Đề xuất các nhóm giải pháp đồng bộ về lập pháp, đàm phán điều ước quốc tế và tổ chức thực thi nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và các khái niệm sử dụng

  • Khái niệm Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự: Luận án dựa trên quy định tại khoản 1 Điều 491 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: "Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự là việc các cơ quan có thẩm quyền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài phối hợp, hỗ trợ nhau để thực hiện hoạt động phục vụ yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự".
  • Phân định các khái niệm liên quan:
    • Tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia: Tiếp cận theo định nghĩa của Công ước UNTOC (nhóm có tổ chức từ 3 người trở lên, tồn tại trong một thời gian, thực hiện tội phạm nghiêm trọng nhằm đạt lợi ích vật chất/tài chính và có tính chất xuyên quốc gia).
    • Tội phạm xuyên biên giới: Nhấn mạnh hành vi phạm tội diễn ra qua lại khu vực biên giới của hai quốc gia láng giềng.
    • Tội phạm quốc tế: Gồm 4 nhóm tội chính thuộc thẩm quyền tài phán của Tòa án hình sự quốc tế (ICC) hoặc các tòa án đặc biệt (tội diệt chủng, tội ác chống loài người, tội ác chiến tranh, tội phá hoại hòa bình).
    • Tội phạm có yếu tố nước ngoài: Khái niệm rộng, bao hàm cả tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm quốc tế và tội phạm do người nước ngoài thực hiện trên lãnh thổ quốc gia hoặc gây thiệt hại cho quyền lợi của quốc gia, công dân, pháp nhân nước ngoài.
  • Đặc điểm của pháp luật về hợp tác quốc tế trong TTHS:
    • Tính thống nhất nội tại: Bảo đảm sự hài hòa giữa quy định nội luật và các cam kết trong điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
    • Tính quy phạm: Là hệ thống quy tắc xử sự mang tính mẫu mực, bắt buộc áp dụng đối với các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
    • Tính quyền lực nhà nước: Thể hiện ý chí của Nhà nước, trao thẩm quyền cưỡng chế hợp pháp cho các cơ quan chức năng.
    • Tính bắt buộc tuân thủ: Đòi hỏi chấp hành nghiêm ngặt trình tự, thủ tục nhằm tránh vi phạm pháp luật và không gây ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ đối ngoại.
    • Tính bảo đảm thực hiện: Được bảo đảm bằng trách nhiệm pháp lý của hệ thống các cơ quan chuyên trách (Công an, Viện kiểm sát, Tòa án, Ngoại giao).
  • Đối tượng và phương pháp điều chỉnh:
    • Đối tượng điều chỉnh: Các quan hệ xã hội phát sinh giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài và các cá nhân, pháp nhân liên quan trong quá trình thực hiện hoạt động tương trợ tư pháp hình sự, dẫn độ, tiếp nhận/chuyển giao người chấp hành án phạt tù và các hoạt động hợp tác khác qua từng giai đoạn tố tụng.
    • Phương pháp điều chỉnh: Kết hợp 3 phương pháp gồm phương pháp quyền uy, phương pháp phối hợp – chế ước và phương pháp ghi nhận (công nhận giá trị pháp lý, áp dụng nguyên tắc có đi có lại hoặc thừa nhận hiệu lực của văn bản tư pháp nước ngoài theo luật định).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  1. Phương pháp tiếp cận liên ngành, đa ngành: Kết hợp tri thức luật học, khoa học chính trị và quan hệ quốc tế (sử dụng chủ yếu tại Chương 1 và Chương 2).
  2. Phương pháp phân tích, tổng hợp quy phạm pháp luật và pháp luật so sánh: Phân tích nội dung các điều luật, so sánh pháp luật Việt Nam với điều ước quốc tế và pháp luật của 06 quốc gia (sử dụng xuyên suốt các chương).
  3. Phương pháp thống kê, tổng hợp: Hệ thống hóa số liệu về yêu cầu tương trợ tư pháp hình sự, dẫn độ, chuyển giao phạm nhân từ năm 2008 đến 2019 (sử dụng tại Chương 1, Chương 2, Chương 3).
  4. Phương pháp tiếp cận hệ thống: Khảo sát các quy định pháp luật trong tính chỉnh thể của hệ thống tố tụng hình sự.
  5. Phương pháp khảo sát thực tiễn: Thu thập thông tin từ báo cáo tổng kết, thực tiễn hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng (Chương 3 và Chương 4).
  6. Phương pháp nghiên cứu điển hình: Phân tích các vụ án, vụ việc cụ thể về dẫn độ, ủy thác tư pháp và bàn giao đối tượng truy nã quốc tế.
  7. Phương pháp dự báo khoa học: Đánh giá xu hướng vận động của tội phạm có yếu tố nước ngoài và xu hướng lập pháp quốc tế (Chương 4).
  8. Phương pháp tư vấn chuyên gia: Tiếp thu ý kiến đóng góp của các chuyên gia thực tiễn tại Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao (Chương 2 và Chương 3).

Nguồn dữ liệu

  • Văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam (Hiến pháp 2013, BLHS 2015, BLTTHS 2003 và 2015, Luật TTTP 2007).
  • Các điều ước quốc tế đa phương và song phương (UNTOC, UNCAC, các hiệp định song phương về TTTPHS, dẫn độ, chuyển giao phạm nhân).
  • Báo cáo tổng kết thực tiễn, số liệu thống kê hồ sơ ủy thác tư pháp hình sự, hồ sơ dẫn độ, hồ sơ chuyển giao người chấp hành án phạt tù của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao từ năm 2008 đến tháng 8/2019.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Chương 1 hệ thống hóa và phân tích tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến hợp tác quốc tế trong tư pháp hình sự. Tác giả phân tích các tài liệu quốc tế tiêu biểu của Christine Jojarth, Gert Vermeulen, M. Cherif Bassiouni, các sổ tay hướng dẫn của UNODC, cùng các công trình nghiên cứu chuyên khảo trong nước của Nguyễn Ngọc Anh, Đặng Xuân Khang, Nguyễn Ngọc Chí, Ngô Hữu Phước.

Chương này đánh giá các thành tựu của các nghiên cứu đi trước về mặt lý luận tội phạm học và luật thực định; đồng thời chỉ rõ hạn chế của các công trình cũ là chưa bao quát toàn diện các hoạt động hợp tác quốc tế theo khung khổ Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và chưa phản ánh đầy đủ thực tiễn thi hành giai đoạn 2008–2019. Qua đó, chương xác định rõ 4 nội dung trọng tâm cần giải quyết trong luận án.

Chương 2. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC TỐ TỤNG HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Chương 2 tập trung luận giải cơ sở lý luận về hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự:

  • Xác lập khái niệm, đặc điểm, vị trí và vai trò của pháp luật hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự; phân biệt rõ hợp tác quốc tế mang tính liên chính phủ với các quan hệ hợp tác phi chính phủ hoặc xuyên biên giới đơn thuần.
  • Phân tích thẩm quyền tài phán quốc gia và thẩm quyền ngoài lãnh thổ (dựa trên nguyên tắc lãnh thổ, nguyên tắc quốc tịch, nguyên tắc bảo vệ và nghĩa vụ hợp tác quốc tế).
  • Làm rõ cấu trúc nội dung hợp tác quốc tế trong từng giai đoạn tố tụng: tương trợ tư pháp hình sự, dẫn độ, tiếp nhận/chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và các hoạt động khác (như phối hợp điều tra chung, áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, thu hồi tài sản phạm tội).
  • Trình bày kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về thẩm quyền, thủ tục tương trợ tư pháp hình sự và dẫn độ, rút ra các bài học có giá trị vận dụng cho Việt Nam.

Chương 3. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC TỐ TỤNG HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH

Chương 3 đi sâu phân tích hệ thống pháp luật thực định và đánh giá thực tiễn thi hành:

  • Khái lược lịch sử phát triển của pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự qua các thời kỳ từ năm 1945 đến trước năm 2015.
  • Phân tích chi tiết các quy định hiện hành trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Phần thứ tám, gồm Chương XXXV và Chương XXXVI), Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; làm rõ thẩm quyền của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Ngoại giao.
  • Phân tích thực trạng tổ chức thi hành thông qua các số liệu cụ thể giai đoạn 2008 – tháng 6/2019: xử lý hàng nghìn hồ sơ tương trợ tư pháp hình sự, 35 hồ sơ yêu cầu dẫn độ đi nước ngoài (07 vụ thành công, 04 vụ bị từ chối), 23 yêu cầu dẫn độ từ nước ngoài gửi đến; 61 hồ sơ chuyển giao phạm nhân cho nước ngoài (16 vụ đã thực hiện) và 16 hồ sơ tiếp nhận phạm nhân về Việt Nam.
  • Đánh giá những bất cập, vướng mắc: sự thiếu đồng bộ giữa Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; quy trình thủ tục qua nhiều khâu trung gian kéo dài thời gian; khó khăn trong việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại khi chưa có hiệp định song phương; hạn chế về nguồn lực và trình độ ngoại ngữ, pháp luật quốc tế của cán bộ thực thi.

Chương 4. HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC TỐ TỤNG HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM

Chương 4 đưa ra các dự báo và hệ thống giải pháp:

  • Dự báo tình hình tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, tội phạm công nghệ cao, rửa tiền và xu hướng phát triển của pháp luật quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự.
  • Quán triệt các quan điểm, phương hướng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp, bảo vệ chủ quyền quốc gia và chủ động hội nhập quốc tế.
  • Đề xuất các nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật: tách Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 thành các đạo luật chuyên biệt (Luật Tương trợ tư pháp về hình sự, Luật Dẫn độ, Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù); sửa đổi, bổ sung các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; xây dựng và ban hành các Hiệp định mẫu của Việt Nam về dẫn độ, tương trợ tư pháp hình sự và chuyển giao phạm nhân (được cụ thể hóa tại Bảng 11, Bảng 13, Bảng 14 của luận án).
  • Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành: kiện toàn cơ quan đầu mối quốc gia; hoàn thiện quy chế phối hợp liên ngành giữa Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Ngoại giao; đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng ngoại ngữ cho đội ngũ cán bộ tiến hành tố tụng.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Vận dụng cách tiếp cận liên ngành giữa luật học hình sự, công pháp quốc tế và quan hệ quốc tế để xây dựng hệ thống lý luận hoàn chỉnh về pháp luật hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự tại Việt Nam.
  • Xác định rõ khái niệm, các đặc điểm pháp lý (tính thống nhất nội tại, tính quy phạm, tính quyền lực, tính bắt buộc, tính bảo đảm thực hiện), đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh đặc thù (quyền uy, phối hợp - chế ước, ghi nhận).
  • Làm rõ cơ sở pháp lý về phân định thẩm quyền tài phán quốc gia và thẩm quyền ngoài lãnh thổ trong điều tra, truy tố, xét xử tội phạm xuyên quốc gia.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Hệ thống hóa các giai đoạn lịch sử phát triển pháp luật về hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự của Việt Nam từ năm 1945 đến nay.
  • Khảo sát, phân tích toàn diện thực trạng thi hành pháp luật dựa trên nguồn số liệu chính thức từ năm 2008 đến tháng 8/2019 tại các cơ quan tư pháp và ngoại giao; làm rõ các vướng mắc trong việc thực hiện nguyên tắc có đi có lại và xung đột quy định pháp lý.
  • Đề xuất 3 dự thảo Hiệp định mẫu (Hiệp định mẫu về dẫn độ, Hiệp định mẫu về tương trợ tư pháp hình sự, Hiệp định mẫu về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù) nhằm tạo chuẩn mực pháp lý thống nhất cho công tác đàm phán quốc tế của Việt Nam.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Về mặt lập pháp: Nghiên cứu tách Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 thành 03 luật độc lập điều chỉnh từng lĩnh vực: Luật Tương trợ tư pháp về hình sự, Luật Dẫn độ, Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; rà soát, sửa đổi các quy định liên quan trong Bộ luật Tố tụng hình sự để bảo đảm tính tương thích với các điều ước quốc tế.
  • Về hợp tác quốc tế: Tiếp tục đẩy mạnh đàm phán, ký kết các điều ước quốc tế song phương và đa phương về tương trợ tư pháp hình sự, dẫn độ và chuyển giao phạm nhân với các quốc gia có đông người Việt Nam sinh sống hoặc có diễn biến tội phạm phức tạp.
  • Về tổ chức thi hành: Tăng cường cơ chế phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao (cơ quan đầu mối về TTTPHS), Bộ Công an (cơ quan đầu mối về dẫn độ, chuyển giao người chấp hành án phạt tù), Bộ Ngoại giao và Tòa án nhân dân tối cao; đầu tư cơ sở vật chất, dữ liệu điện tử và đào tạo nguồn nhân lực pháp luật quốc tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Dữ liệu thực tiễn và các số liệu thống kê trong luận án được tổng kết đến mốc thời gian tháng 8/2019, chưa bao quát được các biến động thực tế trong giai đoạn sau năm 2019.
  • Nghiên cứu so sánh quốc tế chủ yếu tập trung vào 06 quốc gia điển hình đại diện cho các hệ thống pháp luật lớn, chưa bao quát toàn bộ các mô hình tố tụng của các nước trong khu vực ASEAN.
  • Luận án tập trung khảo sát ở cấp độ cơ quan trung ương (Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Ngoại giao), chưa đi sâu vào số liệu thực tiễn tại các cơ quan tiến hành tố tụng cấp địa phương.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Tiếp tục nghiên cứu, đánh giá thực tiễn thi hành toàn diện Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 trong giai đoạn áp dụng ổn định sau năm 2019.
  • Đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ cho quá trình xây dựng các đạo luật chuyên biệt thay thế Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 (Luật Tương trợ tư pháp về hình sự, Luật Dẫn độ, Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù).
  • Mở rộng nghiên cứu về các hình thức hợp tác mới phát sinh như: điều tra chung xuyên quốc gia, phối hợp áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, và cơ chế thu hồi tài sản do phạm tội mà có ở nước ngoài.

Giá trị tham khảo

Đối tượng sử dụng

  • Cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự, Luật quốc tế và Quan hệ quốc tế tại các trường đại học, viện nghiên cứu.
  • Cơ quan lập pháp và hoạch định chính sách: Các cơ quan tham mưu, soạn thảo luật của Quốc hội, Bộ Tư pháp, Bộ Công an trong quá trình xây dựng các dự án luật liên quan đến tư pháp hình sự và tương trợ tư pháp.
  • Cơ quan thực thi pháp luật: Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, cán bộ ngoại giao trực tiếp thực hiện công tác đàm phán điều ước quốc tế, lập hồ sơ ủy thác tư pháp hình sự, giải quyết yêu cầu dẫn độ và chuyển giao phạm nhân.

Các nội dung có giá trị tham khảo cao

  • Khung lý luận liên ngành và các tiêu chí phân biệt giữa các loại tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm xuyên biên giới và tội phạm quốc tế.
  • Hệ thống dữ liệu thực tế tại 14 bảng thống kê, biểu tổng hợp hồ sơ tương trợ tư pháp hình sự, dẫn độ, chuyển giao phạm nhân giai đoạn 2008–2019.
  • Cấu trúc nội dung và các điều khoản tại 3 bản dự thảo Hiệp định mẫu (về Dẫn độ, Tương trợ tư pháp về hình sự, Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù) do tác giả xây dựng.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự như thế nào?

Luận án dẫn chiếu và làm rõ định nghĩa tại khoản 1 Điều 491 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự là việc các cơ quan có thẩm quyền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài phối hợp, hỗ trợ nhau để thực hiện hoạt động phục vụ yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Hoạt động này được thực hiện trên cơ sở điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, theo nguyên tắc có đi có lại, tuân thủ pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế.

2. Tính đến tháng 8/2019, Việt Nam đã ký kết và tham gia bao nhiêu điều ước quốc tế về các lĩnh vực này?

Theo số liệu thống kê tại Bảng 1, Bảng 2 và nội dung văn bản luận án, tính đến tháng 8/2019, Việt Nam đã:

  • Là thành viên của 22 điều ước quốc tế đa phương và đã ký kết 28 điều ước quốc tế song phương về tương trợ tư pháp về hình sự.
  • Ký kết 23 điều ước quốc tế song phương và tham gia 22 điều ước quốc tế đa phương có quy định về dẫn độ.
  • Ký kết và tham gia 17 điều ước quốc tế song phương và đa phương về chuyển giao người bị kết án phạt tù.

3. Kết quả giải quyết các yêu cầu dẫn độ và chuyển giao phạm nhân giai đoạn 2008 – tháng 6/2019 ra sao?

Theo số liệu thống kê từ thực tiễn thi hành được nêu trong luận án:

  • Về dẫn độ: Việt Nam đã lập và chuyển 35 hồ sơ yêu cầu dẫn độ từ nước ngoài về Việt Nam (kết quả: 07 yêu cầu được chấp nhận và đã dẫn độ về nước, 04 yêu cầu bị từ chối); tiếp nhận và giải quyết 23 yêu cầu dẫn độ từ Việt Nam ra nước ngoài (trong đó 73,5% số lượng yêu cầu được thực hiện theo nguyên tắc có đi có lại).
  • Về chuyển giao người chấp hành án phạt tù: Tiếp nhận 61 hồ sơ yêu cầu chuyển giao cho nước ngoài (đã chuyển giao 16 đối tượng, 07 đối tượng chờ quyết định); tiếp nhận 16 yêu cầu chuyển công dân Việt Nam về nước tiếp tục thi hành án (đã tiếp nhận 04 đối tượng; 23,3% tổng số yêu cầu thực hiện theo nguyên tắc có đi có lại).

4. Pháp luật về hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự áp dụng những phương pháp điều chỉnh nào?

Pháp luật về hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự sử dụng 3 phương pháp điều chỉnh cơ bản:

  1. Phương pháp quyền uy: Áp dụng trong quan hệ giữa cơ quan tiến hành tố tụng với các cá nhân, tổ chức tham gia tố tụng thông qua các biện pháp cưỡng chế luật định.
  2. Phương pháp phối hợp – chế ước: Điều chỉnh mối quan hệ giữa các cơ quan có thẩm quyền trong nước trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ giải quyết vụ án.
  3. Phương pháp ghi nhận: Công nhận quan hệ phối hợp, giúp đỡ giữa cơ quan có thẩm quyền Việt Nam và cơ quan đối tác nước ngoài; nội luật hóa hoặc thừa nhận giá trị của điều ước quốc tế, văn bản tư pháp nước ngoài và tập quán quốc tế (nguyên tắc có đi có lại) khi thỏa mãn điều kiện pháp luật Việt Nam.

5. Tác giả phân biệt khái niệm tội phạm xuyên quốc gia và tội phạm xuyên biên giới dựa trên tiêu chí nào?

Tác giả phân biệt dựa trên phạm vi và tính chất liên quan giữa các quốc gia:

  • Tội phạm xuyên quốc gia: Có thể liên quan đến từ hai quốc gia trở lên trên phạm vi khu vực hoặc toàn cầu (chuẩn bị, thực hiện, chỉ đạo, hậu quả hoặc đối tượng có mặt ở các quốc gia khác nhau theo quy định của UNTOC).
  • Tội phạm xuyên biên giới: Nhấn mạnh phạm vi hẹp hơn, chỉ liên quan trực tiếp đến khu vực phía bên kia biên giới của hai quốc gia có chung đường biên giới láng giềng.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Văn Công đã nghiên cứu toàn diện hệ thống lý luận và thực tiễn pháp luật về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tố tụng hình sự ở Việt Nam. Bằng phương pháp tiếp cận liên ngành và nguồn dữ liệu thực tế giai đoạn 2008–2019 từ các cơ quan tiến hành tố tụng, công trình đã làm rõ các khái niệm, đặc điểm, phương pháp điều chỉnh cũng như những bất cập trong quy định hiện hành và tổ chức thi hành. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp cụ thể, bao gồm việc hoàn thiện các đạo luật chuyên biệt và xây dựng các dự thảo Hiệp định mẫu, cung cấp tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, đào tạo và thực thi tư pháp hình sự trong bối cảnh hội nhập quốc tế.