Chương 1. Một số vấn đề lý luận về tương trợ tư pháp trong tố tụng hình sự Chương 2. Quy định của pháp luật Việt Nam về tương trợ tư pháp trong Tố tụng hình sự. Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tương trợ tư pháp trong tố tụng hình sự Việt Nam.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TƢƠNG TRỢ TƢ PHÁP TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của tƣơng trơ ̣ tƣ pháp trong tố tu ̣ng hình sự 1. Khái niệm tương trợ tư pháp trong tố tụng hình sự Trong quan hệ quốc tế, chủ quyền quốc gia được xem là nguyên tắc tối cao và bất khả xâm phạm. Điều đó dẫn đến hệ quả là quyền lực của một quốc gia chấm dứt tại biên giới nước đó.
Do vậy, khi giải quyết một vụ án có yếu tố nước ngoài, quốc gia không thể trực tiếp tiến hành các hoạt động tố tụng như thu thập, xác minh chứng cứ, tong đạt giấy tờ, tài liệu tố tụng, truy tìm, bắt giữ người khác phạm tội mà phải yêu cầu sự hợp tác, tương trợ của các quốc gia khác. Thủ tục đó được gọi là tương trợ tư pháp giữa các nước trong giải quyết vụ án hình sự. Xét về mặt lý luận, quốc gia có quyền tối cao trong phạm vi lãnh thổ của mình để thực hiện mọi hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp và quản lý cần thiết đối với các cơ quan, tổ chức, công dân của mình trên mọi phương tiện, đặc biệt là quyền tài phán. Khi toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại thụ lý giải quyết các vụ việc có yếu tố nước ngoài đó, thì các cơ quan này không chỉ căn cứ vào pháp luật của nước mình, điều ước mà nước đó là thành viên, trong nhiều trường hợp còn phải dựa vào sự phối hợp, giúp đỡ của các toà án, các cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài liên quan trong quá trình tiến hành một số hành vi tố tụng riêng biệt cần thiết cho việc giải quyết các vụ việc cụ thể đó.
Nhưng quốc gia khó có thể thực hiện thành công quyền tài phán đó của mình đối với các cơ quan, tổ chức, công dân của mình trong phạm vi lãnh thổ nước khác, nếu không có sự cho phép, sự tương trợ tư pháp cần thiết (có thể là tống đạt giấy tờ, tiến hành thu thập chứng cứ, thực hiện các uỷ thác điều tra hình sự, …) của các cơ quan hữu quan nước ngoài. Hoạt động tương trợ tư pháp (Mutual Assistance in Juridical Matters) trên thế giới từ xưa đến nay đều do thực tiễn cuộc sống phong phú của 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các quốc gia đặt ra trong từng thời kỳ lịch sử. Từ những hoạt động hợp tác sơ khai xuất phát từ nhu cầu cụ thể của từng vùng lãnh thổ, hệ thống pháp luật quốc tế được xây dựng và đến nay đã trở thành một công cụ chung để các quốc gia có thể sử dụng nhằm bảo vệ lợi ích của mình cũng như hỗ trợ các nước khác vì hòa bình và thịnh vượng chung. Tương trợ tư pháp giữ một vị trí quan trọng trong hoạt động tố tụng của mỗi quốc gia và trong quy định của luật hình sự quốc tế.
Để hỗ trợ cho việc thực thi pháp luật hình sự trong nước, các chính phủ hợp tác với nhau trong việc chuyển giao tội phạm và hàng loạt các biện pháp khác liên quan đến hoạt động điều tra tội phạm và thu thập, cung cấp chứng cứ. Hiệp định tương trợ tư pháp sớm nhất được biết đến là Hiệp ước hòa bình giữa người Ai Cập và người Hittite vào khoảng năm 1280 trước Công nguyên. Bản hiệp ước đó được khắc lên những bức tường của một ngôi đền ở Karnak, Ai Cập, ngày nay vẫn còn được lưu lại ở đó [2, tr. Từ đó đến nay, lịch sử đã ghi nhận việc các quốc gia tiếp tục ký kết các văn bản pháp lý để giúp đỡ lẫn nhau trong quá trình đấu tranh chống tội phạm và phát triển đất nước.
Căn cứ vào phạm vi, mức độ quan hệ giữa các quốc gia với nhau, xuất phát từ nhu cầu các vấn đề cần có tương trợ tư pháp, trên cơ sở phù hợp với tính chất và khả năng thực tế của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ mà các nước đưa ra những học thuyết, quan niệm, các cơ sở lý luận tương ứng về tương trợ tư pháp của mình trong quan hệ quốc tế. Trong các giao dịch dân sự, kinh tế - thương mại hàng ngày giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân các nước khác nhau với các cơ quan, tổ chức, cá nhân nước sở tại đã làm phát sinh không ít vụ hình sự và tội phạm đang có sự giao lưu, xen kẽ và đồng hành với sự phát triển quan hệ kinh tế, xã hội giữa các nước đòi hỏi phải được pháp luật điều chỉnh kịp thời. Tuy nhiên, phạm vi, mức độ, trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp và các vấn đề khác liên quan đến hoạt động tương trợ tư pháp phần lớn lại phụ thuộc vào ý chí chủ quyền của các quốc gia được yêu cầu. Xét về mặt này trên phương diện quốc tế, thì tương trợ tư pháp còn được hiểu như một biểu hiện cụ thể của chủ quyền quốc gia và các quốc gia khác phải hết sức tôn 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trọng, không được ép buộc hoặc áp đặt để can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác dưới bất kỳ hình thức nào.
Chính vì vậy, các nước có các quy định khác nhau về tương trợ tư pháp để khẳng định rõ nội dung chủ quyền của mình trong quan hệ quốc tế, tuyên bố rõ với cộng đồng quốc tế những hành vi tố tụng riêng biệt không được tiến hành, những hành vi tố tụng được phép tiến hành, cũng như các quy chuẩn tối thiểu phải tuân theo trong thực hiện các hoạt động tương trợ tư pháp. Như vậy, dưới góc độ pháp luật quốc tế, việc cho phép tiến hành hoặc không tiến hành những hành vi tố tụng riêng biệt trong hoạt động tương trợ tư pháp chính là sự biểu hiện về mặt đối ngoại của chủ quyền quốc gia, không giản đơn là một nội dung của nghĩa vụ hợp tác quốc tế. Tương trợ tư pháp, hợp tác quốc tế phòng chống tội phạm trong thời đại ngày nay phải được nhìn nhận như một đòi hỏi khách quan, một nhu cầu tất yếu trọng sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của các trào lưu quan hệ quốc tế giữa các quốc gia nói chung, của các giao dịch dân sự, kinh tế - thương mại giữa các tổ chức, cá nhân các nước khác nhau nói riêng. Trong xu hướng mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu, thì nhu cầu tương trợ tư pháp càng trở nên bức thiết; mở rộng và tăng cường quan hệ tương trợ tư pháp về các vấn đề hình sự đã và đang trở thành vấn đề thời sự đối với những nước có số lượng khá lớn người nước ngoài xuất nhập cảnh, cư trú, làm ăn sinh sống, cũng như với các nước có nhiều công dân xuất nhập cảnh, cư trú, làm ăn sinh sống ở nước ngoài.
Vì vậy, nhu cầu tương trợ tư pháp về hình sự giữa các quốc gia ngày càng trở nên bức thiết.Tương trợ tư pháp ngày càng có vai trò quan trọng trong quá trình hợp tác nhiều mặt giữa các nước. Điều đó được giải thích bởi xu hướng xích lại gần hơn trong đời sống kinh tế - xã hội của các nước, xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, ngày càng có nhiều người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống trên lãnh thổ của mỗi quốc gia. Ngày 24/10/1970 Đại hội đồng Liên hợp quốc đã tuyên bố về những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương của Liên hợp quốc, các quốc gia - chủ thể cơ bản của Luật quốc tế, phải có nghĩa vụ hợp tác với nhau. Về nghĩa vụ hợp tác có phạm vi rất rộng, bao gồm cả hợp tác tương trợ tư pháp về hình sự [27, tr.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hiện nay, trên thế giới vẫn tồn tại rất nhiều quan niệm, cơ sở lý luận khác nhau về tương trợ tư pháp. Thậm chí, trong pháp luật các nước vẫn thường gặp cái gọi là xung đột về danh pháp (Conflict of Qualifications), tức cùng một danh từ pháp lý nhưng nội hàm của chúng lại có thể rất khác nhau. Các nước thuộc hệ thống pháp luật châu Âu lục địa về cơ bản có chung quan niệm về tương trợ tư pháp, điển hình ở Đức và Pháp, theo đó tương trợ tư pháp được hiểu là việc các cơ quan có thẩm quyền của các quốc gia khác nhau trợ giúp lẫn nhau trong tống đạt giấy tờ, tài liệu tư pháp và thực hiện các hành vi tố tụng riêng biệt để thu thập chứng cứ trong một vụ việc giải quyết một vụ án. Sau khi mở rộng hợp tác trong khuôn khổ Cộng đồng kinh tế châu Âu, quan niệm truyền thống tư pháp về tương trợ tư pháp được mở rộng, bao gồm việc trợ giúp lẫn nhau trong trao đổi thông tin pháp luật nước ngoài, tống đạt tài liệu, giấy tờ bổ trợ hoạt động tư pháp, các thông báo của tòa án và của các cơ quan hữu quan khác.
Các nước thuộc hệ thống pháp luật án lệ như Anh – Mỹ thì không có quan niệm chung về tương trợ tư pháp và trong hoạt động tố tụng như các nước châu Âu lục địa. Theo đó, tương trợ tư pháp được hiểu đơn giản là các hoạt động dịch vụ trong tống đạt giấy tờ, tài liệu tư pháp và hoạt động thu thập chứng cứ ở nước ngoài. Trong thực tiễn tư pháp, tòa án các nước thuộc hệ thống pháp luật án lệ thường thực hiện việc lấy lời khai của người làm chứng ở nước ngoài thông qua một người được tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền ủy nhiệm làm việc đó. Khi thẩm vấn trực tiếp hoặc đối chất, lấy lời khai của đương sự, người làm chứng, người có quyền và lợi ích liên quan phải có đại diện của các bên tham gia tố tụng cùng tiến hành các hoạt động này.
Các biên bản lấy lời khai phải được gửi cho tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền đã chỉ định ủy nhiệm.