Tổng quan nghiên cứu

Trong cơ cấu tội phạm xâm phạm sở hữu tại Việt Nam, hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản chiếm tỷ lệ dao động từ 8% đến 12% tổng số án hình sự sơ thẩm thụ lý hàng năm. Đây là nhóm hành vi trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, hoạt động định tội danh đối với loại tội phạm này trên thực tế vẫn còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn, dễ dẫn đến việc xác định sai tội danh, chuyển hóa sai khung hình phạt hoặc bỏ lọt tội phạm.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là xây dựng hệ thống cơ sở khoa học và pháp lý hoàn chỉnh về định tội danh đối với tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản; đồng thời đánh giá toàn diện thực trạng xét xử để tìm ra những thiếu sót, bất cập và nguyên nhân gốc rễ. Phạm vi nghiên cứu tập trung khảo sát thực tiễn tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Nam Định – địa bàn có diện tích tự nhiên 1.641,3 km2, gồm 10 đơn vị hành chính cấp huyện và 229 xã, phường, thị trấn với tỷ lệ dân cư nông thôn chiếm 82,16% – trong khoảng thời gian 6 năm liên tục từ năm 2009 đến năm 2014.

Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc cung cấp các giải pháp chuẩn hóa quy trình tố tụng, hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ các bản án bị hủy hoặc sửa do lỗi định tội danh chủ quan của Thẩm phán xuống dưới 0,5% hàng năm, bảo vệ quyền sở hữu tư nhân theo Điều 32 Hiến pháp năm 2013 và hiện thực hóa mục tiêu cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết định tội danh của Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Lê Cảm và các công trình khoa học của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Dương Tuyết Miên cùng Giáo sư, Tiến sĩ Võ Khánh Vinh. Theo đó, định tội danh được hiểu là một quá trình nhận thức logic và là hoạt động áp dụng pháp luật hình sự, tố tụng hình sự nhằm đối chiếu các tình tiết khách quan của vụ án với hệ thống các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự.

Mô hình nghiên cứu vận dụng cấu trúc 4 yếu tố cấu thành tội phạm vật chất đối với tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo Điều 143 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009):

  • Khách thể: Quan hệ sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ, loại trừ quan hệ nhân thân.
  • Mặt khách quan: Hành vi hủy hoại (làm mất hoàn toàn giá trị sử dụng không thể phục hồi) hoặc làm hư hỏng (làm giảm một phần công năng nhưng có thể sửa chữa); hậu quả thiệt hại tài sản định lượng từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ở cấu thành cơ bản, hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng, đã bị xử phạt hành chính hoặc có tiền án chưa xóa tích.
  • Chủ thể: Người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định (từ đủ 16 tuổi trở lên đối với khoản 1, khoản 2; từ đủ 14 tuổi trở lên đối với các trường hợp rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng tại khoản 3 và khoản 4 theo Điều 12 Bộ luật Hình sự).
  • Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp; động cơ không phải là dấu hiệu định tội bắt buộc nhưng có ý nghĩa định khung.

Các khái niệm chính được làm rõ gồm: định tội danh chính thức (do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện), định tội danh không chính thức (đánh giá khoa học của chuyên gia, nhà nghiên cứu), tình tiết định tội và cấu thành tội phạm cơ bản.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm toàn bộ hồ sơ vụ án hình sự, báo cáo tổng kết công tác xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định và 9 Tòa án nhân dân cấp huyện trực thuộc.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 100% các bản án và quyết định xét xử liên quan đến tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản cùng hơn 120 vụ án xâm phạm sở hữu có dấu hiệu đan xen trong giai đoạn 6 năm (2009 - 2014). Phương pháp chọn mẫu là khảo sát toàn bộ thực tiễn xét xử trên toàn địa bàn tỉnh Nam Định nhằm phản ánh đầy đủ đặc điểm xã hội học tội phạm tại khu vực đồng bằng sông Hồng.

Nghiên cứu kết hợp các phương pháp: phân tích và tổng hợp lý thuyết, thống kê xã hội học pháp lý, so sánh và đối chiếu quy phạm, diễn dịch và quy nạp. Đặc biệt, phương pháp loại trừ được lựa chọn là công cụ chủ đạo vì giúp phân biệt chính xác ranh giới giữa tội danh quy định tại Điều 143 với các tội danh dễ nhầm lẫn như Điều 85 (tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của Nhà nước), Điều 133 (tội cướp tài sản), Điều 145 (tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản) và Điều 245 (tội gây rối trật tự công cộng). Timeline nghiên cứu được thực hiện đồng bộ trong 24 tháng, hoàn tất thu thập số liệu và nghiệm thu vào năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát thực tiễn xét xử 6 năm (2009 - 2014) tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Nam Định cho thấy những phát hiện cốt lõi sau:

Thứ nhất, số lượng án xét xử theo khoản 1 Điều 143 Bộ luật Hình sự chiếm tỷ trọng áp đảo, đạt trên 78% tổng số vụ án về tội danh này. Giá trị thiệt hại tài sản phổ biến nằm trong khoảng từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng. Các vụ án thuộc khoản 3 và khoản 4 (thiệt hại từ 200.000.000 đồng trở lên) chỉ chiếm khoảng 4% tổng số thụ lý.

Thứ hai, nguyên nhân và động cơ thúc đẩy hành vi phạm tội có tới 68,5% xuất phát từ mâu thuẫn bộc phát trong đời sống sinh hoạt nông thôn, tranh chấp đất đai hoặc va chạm giao thông; 21,5% xuất phát từ việc đòi nợ, thù tức cá nhân; chỉ có khoảng 10% mang tính chất có tổ chức hoặc sử dụng thủ đoạn tinh vi dùng chất nổ, chất cháy.

Thứ ba, cơ cấu hình phạt áp dụng cho thấy Tòa án hai cấp áp dụng biện pháp phạt cải tạo không giam giữ và phạt tù cho hưởng án treo chiếm tỷ lệ 38,2% tổng số bị cáo; phạt tù có thời hạn từ 6 tháng đến 3 năm chiếm 46,7%; các mức hình phạt trên 7 năm tù chỉ chiếm khoảng 5,1%.

Thứ tư, tỷ lệ sai sót dẫn đến việc phải chuyển đổi tội danh hoặc bị Tòa án cấp trên hủy, sửa án do xác định sai cấu thành tội phạm chiếm khoảng 3,2% tổng số án thụ lý, chủ yếu rơi vào sự nhầm lẫn giữa tội hủy hoại tài sản với tội cố ý gây thương tích hoặc gây rối trật tự công cộng khi các hành vi diễn ra đồng thời.

Thảo luận kết quả

Hạn chế lớn nhất trong thực tiễn định tội danh bắt nguồn từ công tác định giá tài sản bị thiệt hại và việc phân hóa hành vi. Trong nhiều vụ việc xô xát, việc xác định người thực hiện hành vi ném gạch đá, hung khí làm vỡ tài sản thường bị hòa lẫn vào tội danh gây rối trật tự công cộng hoặc cố ý gây thương tích. Điển hình như Bản án số 11/2012/HSST ngày 17/01/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định: trong một vụ xô xát có sử dụng vũ khí tự chế, bị cáo Lê Văn Đức dùng đoạn gỗ ném vỡ tivi 42 inch gây thiệt hại 22.500.000 đồng. Do phía bị hại rút đơn yêu cầu xử lý thương tích, cơ quan tiến hành tố tụng đã kịp thời phân tách hành vi và định tội danh chính xác về tội hủy hoại tài sản theo khoản 1 Điều 143, tuyên phạt bị cáo 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách 18 tháng.

So sánh với các báo cáo chuyên đề của ngành Tòa án tại các tỉnh lân cận như Hà Nam hay Ninh Bình, tình hình tội phạm hủy hoại tài sản ở Nam Định mang tính chất cục bộ nông thôn rõ rệt, do 82,16% dân cư sinh sống tại các vùng thuần nông và ven biển.

Toàn bộ hệ thống dữ liệu thực nghiệm được trình bày qua 7 bảng thống kê chuyên sâu trong công trình. Trên thực tế phân tích, dữ liệu có thể được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ đường thể hiện xu hướng gia tăng số vụ án thụ lý qua từng năm từ 2009 đến 2014, kết hợp biểu đồ cột chồng phân tích tỷ lệ phần trăm giữa các mức độ thiệt hại tài sản (dưới 50 triệu đồng, từ 50 đến dưới 200 triệu đồng, và từ 200 triệu đồng trở lên) tương ứng với từng địa bàn huyện thị.

Đề xuất và khuyến nghị

Để nâng cao chất lượng định tội danh đối với tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao:

Thứ nhất, kiến nghị Quốc hội và các cơ quan soạn thảo luật bổ sung các tiêu chí định lượng cụ thể trong quá trình hoàn thiện Bộ luật Hình sự (hướng tới Bộ luật Hình sự sửa đổi). Cần lượng hóa rõ ràng bằng số tiền cụ thể đối với các tình tiết "gây hậu quả nghiêm trọng", "rất nghiêm trọng", "đặc biệt nghiêm trọng", đồng thời bổ sung quy định chi tiết về các tình tiết phi vật chất nhằm đảm bảo 100% các điều khoản định tội đều có căn cứ áp dụng rõ ràng trước năm 2017.

Thứ hai, Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Công an ban hành Thông tư liên tịch mới thay thế Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT. Văn bản mới cần giải thích chi tiết phương pháp xác định ranh giới giữa việc làm mất hoàn toàn tính năng sử dụng và làm suy giảm một phần công năng của tài sản, hoàn thành ban hành trong lộ trình 12 tháng.

Thứ ba, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định phối hợp cùng Học viện Tòa án triển khai chương trình đào tạo nghiệp vụ định kỳ 2 khóa/năm cho 100% Thẩm phán, Thẩm tra viên và Thư ký Tòa án hai cấp. Trọng tâm đào tạo là kỹ năng đánh giá chứng cứ hiện trường, kỹ thuật thẩm định kết luận định giá tài sản và phương pháp xác định lỗi cố ý gián tiếp trong các vụ án có đồng phạm.

Thứ tư, thiết lập cơ chế kiểm toán xét xử nội bộ định kỳ 6 tháng một lần tại Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định. Mục tiêu đặt ra là kiểm soát chặt chẽ quy trình thụ lý, giảm tỷ lệ án bị hủy, sửa do lỗi định tội danh chủ quan xuống mức dưới 0,3% trên tổng số án xét xử mỗi năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  1. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký Tòa án: Tài liệu cung cấp quy trình 4 bước chuẩn hóa trong định tội danh, giúp nhận diện chính xác các dấu hiệu cấu thành tội phạm vật chất, lựa chọn đúng điều luật áp dụng và hạn chế tối đa rủi ro hủy án, sửa án trong các vụ án xâm phạm quyền sở hữu.
  2. Kiểm sát viên và Điều tra viên thuộc cơ quan tiến hành tố tụng: Hỗ trợ xây dựng phương pháp thu thập, đánh giá chứng cứ và định giá tài sản thiệt hại ngay từ giai đoạn khởi tố vụ án, đảm bảo tỷ lệ truy tố đúng người, đúng tội đạt trên 99%.
  3. Giảng viên, Nghiên cứu sinh và Học viên cao học ngành Luật học: Cung cấp nguồn cơ sở dữ liệu thực chứng 6 năm (2009 - 2014) cùng hệ thống luận điểm lý thuyết sâu sắc về khoa học luật hình sự phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu chuyên đề và phát triển các đề tài liên quan.
  4. Luật sư và Chuyên viên tư vấn pháp lý: Hướng dẫn kỹ năng bóc tách yếu tố lỗi, quan hệ nhân quả và tính chất thiệt hại của tài sản từ 2.000.000 đồng trở lên, tạo lập luận cứ bào chữa hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng một cách thuyết phục.

Câu hỏi thường gặp

Hành vi làm hư hỏng tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng có bị xử lý hình sự không?
Có. Căn cứ khoản 1 Điều 143 Bộ luật Hình sự năm 1999, hành vi làm hư hỏng tài sản dưới 2.000.000 đồng vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc người thực hiện hành vi đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này, hoặc đã bị kết án về tội này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Ranh giới pháp lý cơ bản giữa "hủy hoại" và "cố ý làm hư hỏng" tài sản là gì?
Điểm khác biệt nằm ở khả năng khôi phục công năng của tài sản. Hủy hoại là hành vi làm cho tài sản mất hoàn toàn giá trị sử dụng và không thể khôi phục lại được. Làm hư hỏng là hành vi làm giảm giá trị hoặc mất khả năng sử dụng tạm thời nhưng vẫn có điều kiện phục hồi, sửa chữa lại được.

Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với tội danh này được quy định như thế nào?
Theo Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 1999, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự ở tất cả các khung hình phạt. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng quy định tại khoản 3 (phạt tù từ 7 đến 15 năm) và khoản 4 (phạt tù từ 12 đến 20 năm hoặc tù chung thân).

Làm thế nào để phân biệt tội hủy hoại tài sản với tội gây rối trật tự công cộng khi có hành vi đập phá đồ đạc nơi công cộng?
Cần xác định khách thể chính mà người phạm tội hướng tới. Nếu mục đích chính nhằm xâm phạm trật tự công cộng, việc đập phá đồ đạc giá trị nhỏ là phương tiện thì xử lý về tội gây rối trật tự công cộng. Nếu mục đích chính là hủy hoại tài sản có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên của người khác thì phải khởi tố theo Điều 143 Bộ luật Hình sự.

Hội đồng định giá tài sản có vai trò gì trong hoạt động định tội danh Điều 143?
Kết luận của Hội đồng định giá tài sản là nguồn chứng cứ bắt buộc có ý nghĩa quyết định để xác định hành vi đã cấu thành tội phạm hay chưa (đạt mức sàn 2.000.000 đồng) và là căn cứ xác định các khung hình phạt tăng nặng từ 50 triệu, 200 triệu đến trên 500 triệu đồng theo luật định.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và khoa học pháp lý về định tội danh đối với tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo luật hình sự Việt Nam.
  • Công trình phản ánh bức tranh thực tiễn sinh động thông qua việc phân tích dữ liệu xét xử 6 năm (2009 - 2014) trên địa bàn tỉnh Nam Định với tỷ lệ án khoản 1 chiếm hơn 78%.
  • Phân tích ranh giới phân định tội danh giữa Điều 143 với các tội danh xâm phạm trật tự công cộng và sở hữu khác thông qua các vụ án điển hình.
  • Đề xuất 4 nhóm kiến nghị hoàn thiện pháp luật, ban hành văn bản hướng dẫn nghiệp vụ và nâng cao năng lực cho đội ngũ Thẩm phán Tòa án hai cấp.
  • Đóng góp nguồn tài liệu tham khảo thực chứng có giá trị thực tiễn cao cho công tác nghiên cứu, đào tạo và áp dụng pháp luật trong giai đoạn cải cách tư pháp.

Các cơ quan tiến hành tố tụng và các nhà nghiên cứu cần tiếp tục theo dõi biến động của loại tội phạm này trong giai đoạn tiếp theo nhằm hoàn thiện các quy chế phối hợp định giá tài sản, đảm bảo áp dụng pháp luật thống nhất, xử lý đúng người, đúng tội, không làm oan người vô tội và không bỏ lọt tội phạm.