Tổng quan nghiên cứu

Nhóm các tội xâm phạm sở hữu luôn chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu tội phạm hình sự tại Việt Nam, chiếm khoảng 45% đến 50% tổng số các vụ án được khởi tố và xét xử hàng năm trên phạm vi cả nước. Trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2021, tình hình tội phạm chiếm đoạt tài sản diễn biến phức tạp với nhiều thủ đoạn tinh vi, từ việc sử dụng vũ lực đè bẹp sự kháng cự đến áp dụng các thủ đoạn công nghệ và gian dối tinh vi. Thực tiễn áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cho thấy các cơ quan tiến hành tố tụng tại hơn 63 tỉnh, thành phố vẫn gặp nhiều vướng mắc trong việc định tội danh, dẫn đến nguy cơ sai lệch bản chất vụ án hoặc áp dụng thiếu thống nhất giữa các cấp xét xử.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ ranh giới pháp lý giữa các cấu thành tội phạm có hành vi chiếm đoạt tài sản, đặc biệt là nhóm tội phạm có sử dụng vũ lực như Tội cướp tài sản (Điều 168), Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169), Tội cướp giật tài sản (Điều 171) và nhóm tội phạm có thủ đoạn gian dối như Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174), Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175). Mục tiêu cụ thể của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát thực tiễn 6 bản án điển hình cùng hàng chục vụ án cụ thể trong giai đoạn 5 năm (2017–2021) để chỉ ra các sai sót phổ biến trong việc định tội danh. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp giải pháp lập pháp và thực tiễn nhằm giảm thiểu 100% các trường hợp xác định sai tội danh, góp phần chuẩn hóa quy trình tố tụng hình sự và bảo đảm quyền con người theo Điều 31 Hiến pháp năm 2013.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết định tội danh của ngành khoa học luật hình sự Việt Nam, trọng tâm là quan điểm của PGS.TS Võ Khánh Vinh về định tội danh như một quá trình nhận thức logic nhằm xác định sự phù hợp tuyệt đối giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội trên thực tế với các dấu hiệu cấu thành tội phạm quy định trong Bộ luật Hình sự. Đồng thời, nghiên cứu kế thừa học thuyết về khách thể và mặt khách quan của tội phạm để giải quyết sự đan xen giữa hai nhóm quan hệ xã hội được bảo vệ là quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân.

Hệ thống khái niệm nền tảng trong đề tài bao gồm 5 thuật ngữ then chốt:

  1. Hành vi chiếm đoạt tài sản: Hành vi chuyển dịch bất hợp pháp tài sản từ người sở hữu, quản lý hợp pháp sang sự kiểm soát thực tế của người phạm tội nhằm xác lập quyền chiếm hữu, sử dụng hoặc định đoạt.
  2. Dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt: Việc dùng sức mạnh vật chất tác động lên thân thể của người khác ở mức độ có khả năng đè bẹp hoặc làm tê liệt sự chống cự của nạn nhân để lấy tài sản.
  3. Hành hung để tẩu thoát: Tình tiết định khung tăng nặng khi người phạm tội dùng vũ lực chống trả người đuổi bắt nhằm mục đích thoát thân sau khi hành vi chiếm đoạt đã diễn ra.
  4. Thủ đoạn gian dối: Hành vi đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm tạo niềm tin để chủ sở hữu tự nguyện chuyển giao tài sản (trong tội lừa đảo) hoặc để che giấu hành vi chiếm đoạt phát sinh sau đó (trong tội lạm dụng tín nhiệm).
  5. Chuyển hóa tội danh: Hiện tượng hành vi phạm tội ban đầu mang bản chất của một tội danh ít nghiêm trọng hơn nhưng trong quá trình thực hiện đã thay đổi phương thức, hành vi và mục đích để thỏa mãn cấu thành của một tội danh nghiêm trọng hơn.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng cỡ mẫu gồm 6 bản án sơ thẩm và phúc thẩm điển hình đại diện cho các dạng tranh chấp định tội danh tại các địa phương như Bình Dương, Kiên Giang, Đà Nẵng, Lâm Đồng, Nam Định, cùng hệ thống dữ liệu bổ trợ từ hơn 120 vụ án hình sự liên quan trong giai đoạn 2017–2021. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling), tập trung vào các vụ án có sự bất đồng quan điểm giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án, hoặc các vụ án có quyết định xét xử bị kháng nghị, sửa án.

Phương pháp phân tích quy phạm pháp luật kết hợp với phương pháp tổng hợp án lệ và phương pháp phân tích so sánh được lựa chọn làm công cụ nghiên cứu chính. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là vì định tội danh mang tính thực tiễn cao, đòi hỏi phải đối chiếu từng tình tiết thực tế với các quy định pháp luật hình sự hiện hành, từ đó phát hiện những khoảng trống pháp lý của Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC ngày 25/12/2001 và các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát thực tiễn cho thấy 3 phát hiện lớn về sự thiếu thống nhất trong định tội danh đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu:

Thứ nhất, có sự nhầm lẫn giữa tình tiết định khung "hành hung để tẩu thoát" (điểm đ khoản 2 Điều 171, điểm b khoản 2 Điều 172, điểm đ khoản 2 Điều 173) và sự chuyển hóa sang Tội cướp tài sản (Điều 168). Điển hình như Bản án số 11/2018/HSST của TAND huyện Giồng Giềng (Kiên Giang), bị cáo dùng bình xịt hơi cay tấn công người truy đuổi để thoát thân và bị xử phạt 4 năm tù về Tội cướp giật tài sản với tình tiết định khung hành hung để tẩu thoát. Trong khi đó, tại Bản án số 185/2022/HS-ST của TAND thành phố Thuận An (Bình Dương), bị cáo ban đầu lén lút trộm cắp nhưng khi bị phát hiện đã dùng vũ lực đánh nạn nhân gây chảy máu đầu rồi trói lại để tiếp tục chiếm đoạt tiền và bị xử phạt 9 năm tù về Tội cướp tài sản. Thực tiễn cho thấy khoảng 35% các vụ việc tương tự gặp khó khăn khi xác định ranh giới giữa việc dùng vũ lực vừa để giữ tài sản vừa để tẩu thoát.

Thứ hai, thiếu tính đồng nhất trong việc xử lý một tội hay hai tội khi hành vi dùng vũ lực chiếm đoạt tài sản gây thương tích cho nạn nhân. Tại Bản án phúc thẩm số 65/2022/HS-PT của TAND TP. Đà Nẵng, bị cáo dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích 10% cho người đến đòi lại tài sản và Tòa án đã xét xử về 2 tội độc lập: Tội cướp tài sản (khoản 1 Điều 168) và Tội cố ý gây thương tích (khoản 1 Điều 134). Trái lại, tại Bản án phúc thẩm số 490/2022/HS-PT của TAND Cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh, bị cáo dùng cần câu nhựa đánh vào cổ nạn nhân làm ngã xe bất tỉnh, gây tổn hại sức khỏe 3% và chiếm đoạt tài sản trị giá hơn 156.000.000 đồng nhưng Tòa án chỉ xử lý duy nhất về Tội cướp tài sản theo điểm a khoản 3 Điều 168 với mức án 17 năm tù.

Thứ ba, sự lúng túng trong việc phân biệt thủ đoạn gian dối của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174) với hành vi gian dối để trộm cắp hoặc cướp giật. Điển hình tại Bản án số 264/2020/HSST của TAND thành phố Nam Định, đối tượng vào cửa hàng Thế giới di động chọn mua 2 điện thoại, vờ mượn chiếc máy trị giá hơn 26.000.000 đồng ra ngoài nghe điện thoại rồi lên taxi tẩu thoát. Tòa án kết án bị cáo về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với mức án 2 năm tù, trong khi bản chất hành vi nhân viên chưa hề chuyển giao quyền sở hữu mà bị cáo đã lén lút chiếm đoạt, thỏa mãn đầy đủ cấu thành Tội trộm cắp tài sản (Điều 173).

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của các bất cập trên bắt nguồn từ việc Thông tư liên tịch số 02/2001 đã tồn tại hơn 20 năm, áp dụng kỹ thuật liệt kê các tình huống cố định khiến các cơ quan tư pháp lúng túng khi gặp các biến thể hành vi mới. Bên cạnh đó, các tội danh có khách thể phức tạp như Tội cướp tài sản (đồng thời xâm phạm quyền sở hữu và sức khỏe, tính mạng) chưa có văn bản hướng dẫn chi tiết của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao về mức độ hấp thu của tình tiết định khung tăng nặng đối với hành vi gây thương tích.

Để minh họa rõ nét các kết quả nghiên cứu, dữ liệu có thể được hệ thống hóa qua:

  • Biểu đồ tròn thể hiện tỷ lệ tranh chấp định tội danh trong thực tiễn xét xử, trong đó 55% thuộc nhóm hành vi dùng vũ lực đan xen tẩu thoát và 45% thuộc nhóm hành vi dùng thủ đoạn gian dối đan xen lén lút hoặc công khai.
  • Bảng ma trận đối chiếu 4 yếu tố cấu thành tội phạm giữa Tội cướp tài sản, Tội cướp giật tài sản, Tội trộm cắp tài sản và Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, giúp nhận diện chính xác thời điểm hoàn thành tội phạm và ý chí chủ quan của người thực hiện hành vi.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao độ chính xác trong định tội danh, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

  1. Kiến nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng các tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật Hình sự năm 2015: Thay thế toàn diện Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT. Nghị quyết cần xác định rõ tiêu chí phân định: nếu dùng vũ lực với mục đích giữ tài sản hoặc vừa giữ tài sản vừa tẩu thoát thì đều cấu thành Tội cướp tài sản; việc dùng vũ lực phải diễn ra trong khoảng thời gian hành vi chiếm đoạt đã bắt đầu nhưng chưa kết thúc trên thực tế. Thời hạn hoàn thành mục tiêu xây dựng văn bản trong vòng 12 đến 18 tháng.
  2. Chuẩn hóa quy tắc xử lý trường hợp dùng vũ lực gây thương tích trong khi chiếm đoạt tài sản: Quy định nguyên tắc không truy cứu trách nhiệm hình sự thêm về Tội cố ý gây thương tích nếu hành vi gây thương tích nằm trong cấu thành của Tội cướp tài sản (Điều 168) hoặc Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169). Chỉ truy cứu thêm tội danh độc lập khi hành vi chiếm đoạt đã kết thúc trọn vẹn hoặc hành vi tấn công nhằm mục đích tước đoạt tính mạng của nạn nhân (xử lý thêm Tội giết người theo Điều 123). Target metric là loại bỏ 100% sự xung đột đường lối xét xử giữa Tòa án các cấp.
  3. Xây dựng tiêu chí phân biệt thủ đoạn gian dối trong chuyển giao quyền tài sản: TAND Tối cao cần phát triển ít nhất 3 án lệ chuyên đề để hướng dẫn rõ: nếu gian dối làm nạn nhân tin tưởng tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu thì định tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174); nếu gian dối chỉ nhằm tiếp cận tài sản, đánh lạc hướng để lén lút lấy tài sản hoặc nhanh chóng tẩu thoát thì phải định tội Trộm cắp tài sản (Điều 173) hoặc Cướp giật tài sản (Điều 171). Kế hoạch công bố án lệ hoàn tất trước quý 4 năm 2024.
  4. Tổ chức chương trình bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ tư pháp định kỳ: Viện kiểm sát nhân dân Tối cao và Tòa án nhân dân Tối cao phối hợp với các cơ sở đào tạo luật tổ chức 2 khóa tập huấn chuyên sâu mỗi năm cho hơn 1.500 điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán toàn quốc nhằm nâng tỷ lệ định tội danh chính xác trong giai đoạn truy tố và xét xử lên trên 98%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và học thuật sâu sắc, đặc biệt phù hợp với 4 nhóm đối tượng sau:

  1. Thẩm phán và Thư ký Tòa án nhân dân các cấp: Sử dụng luận văn làm cẩm nang đối chiếu khi xét xử các vụ án xâm phạm sở hữu phức tạp, giúp xây dựng bản án khách quan, đúng pháp luật và loại bỏ hoàn toàn nguy cơ bị hủy án do xác định sai tội danh.
  2. Kiểm sát viên và Điều tra viên thuộc cơ quan tố tụng: Vận dụng các dấu hiệu phân định pháp lý để định hướng điều tra, thu thập chứng cứ chính xác ngay từ giai đoạn khởi tố, đảm bảo tỷ lệ truy tố đúng tội danh đạt trên 99%.
  3. Luật sư và Chuyên viên tư vấn pháp lý: Khai thác hệ thống lập luận và phân tích án thực tế để xây dựng phương án bào chữa hoặc bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho thân chủ trong các vụ án hình sự có yếu tố tranh chấp về cấu thành tội phạm.
  4. Giảng viên, Nghiên cứu sinh và Học viên cao học ngành Luật: Nguồn tài liệu tham khảo giá trị cho các chuyên đề Luật Hình sự và Tố tụng hình sự, phục vụ nghiên cứu so sánh quy phạm và phát triển các đề tài luận văn chuyên sâu.

Câu hỏi thường gặp

1. Dấu hiệu cốt lõi để phân biệt hành hung để tẩu thoát với chuyển hóa thành Tội cướp tài sản là gì? Căn cứ cốt lõi là mục đích của hành vi dùng vũ lực. Nếu đối tượng chỉ dùng vũ lực nhằm thoát thân khi bị phát hiện thì thuộc tình tiết định khung hành hung để tẩu thoát theo điểm đ khoản 2 Điều 171 hoặc điểm đ khoản 2 Điều 173. Ngược lại, nếu đối tượng dùng vũ lực nhằm giữ cho bằng được tài sản hoặc vừa để giữ tài sản vừa để tẩu thoát thì hành vi chuyển hóa hoàn toàn sang Tội cướp tài sản theo Điều 168.

2. Người phạm tội cướp tài sản mà gây thương tích cho bị hại thì bị xử lý một tội hay hai tội? Về nguyên tắc, khách thể của Tội cướp tài sản (Điều 168) đã bao gồm cả quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân. Do đó, hành vi dùng vũ lực gây thương tích nhằm chiếm đoạt tài sản đã được thu hút vào cấu thành Tội cướp tài sản (xem xét định khung theo tỷ lệ thương tật), không truy cứu thêm Tội cố ý gây thương tích theo Điều 134, trừ trường hợp hành vi chiếm đoạt đã kết thúc rồi mới phát sinh hành vi cố ý gây thương tích độc lập.

3. Thủ đoạn gian dối trong Tội lừa đảo khác gì so với Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản? Điểm khác biệt quyết định là thời điểm nảy sinh ý định chiếm đoạt. Trong Tội lừa đảo (Điều 174), thủ đoạn gian dối có trước khi nhận tài sản nhằm khiến nạn nhân tự nguyện giao tài sản. Trong Tội lạm dụng tín nhiệm (Điều 175), việc nhận tài sản ban đầu hoàn toàn hợp pháp thông qua hợp đồng ngay thẳng, ý định chiếm đoạt và hành vi gian dối chỉ xuất hiện sau khi đã nhận được tài sản.

4. Giả vờ mượn tài sản để xem rồi nhanh chóng đem đi bán thì phạm tội Trộm cắp hay Lừa đảo? Hành vi này cấu thành Tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật Hình sự. Việc người bán đưa tài sản cho xem không đồng nghĩa với việc chuyển dịch quyền sở hữu hay quyền định đoạt. Hành vi gian dối chỉ nhằm tạo điều kiện tiếp cận tài sản, việc mang tài sản đi mà không thanh toán mang bản chất lén lút chiếm đoạt đối với chủ sở hữu.

5. Luận văn đóng góp giải pháp gì mới cho thực tiễn xét xử tội phạm sở hữu tại Việt Nam? Luận văn đã chỉ ra các lỗ hổng của Thông tư liên tịch số 02/2001 sau hơn 20 năm áp dụng, đồng thời đề xuất dự thảo điều khoản thay thế chi tiết cho Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao. Công trình đưa ra 3 quy tắc định tội danh chuẩn hóa giúp các cơ quan tố tụng phân định chính xác giữa 6 tội danh chiếm đoạt tài sản trọng điểm.

Kết luận

  • Luận văn làm sáng tỏ hệ thống lý luận định tội danh đối với các hành vi chiếm đoạt tài sản theo Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Khảo sát thực tiễn 6 bản án điển hình giai đoạn 2017–2021, nhận diện 3 điểm nghẽn lớn trong phân loại tội danh dùng vũ lực và thủ đoạn gian dối.
  • Làm rõ bản chất pháp lý của tình tiết "hành hung để tẩu thoát" và xác lập nguyên tắc xử lý tội danh khi có hành vi gây thương tích đan xen chiếm đoạt tài sản.
  • Đưa ra 4 nhóm khuyến nghị mang tính hành động cao, trọng tâm là đề xuất TAND Tối cao ban hành Nghị quyết mới thay thế Thông tư liên tịch số 02/2001 trước năm 2024.
  • Đóng góp nguồn tư liệu tham khảo giá trị cho hơn 1.000 cán bộ tư pháp, kiểm sát viên, luật sư và nhà nghiên cứu luật học trên toàn quốc.

Để nâng cao hiệu quả phòng chống tội phạm và chuẩn hóa quy trình định tội danh trong thực tiễn tố tụng, các nhà nghiên cứu và cán bộ pháp lý hãy tham khảo trọn vẹn luận văn thạc sĩ này nhằm áp dụng chuẩn xác các giải pháp vào công tác chuyên môn ngay hôm nay.