CHƯƠNG 1 ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG NHÓM CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ DÙNG VŨ LỰC 1. Quy định của pháp luật liên quan đến định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu trong trường hợp có dùng vũ lực Trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu được quy định tại Chương XVI BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), thì dấu hiệu “dùng vũ lực” được quy định là dấu hiệu định tội của Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS), là một trong các thủ đoạn để thực hiện hành vi khách quan của Tội bắt cóc nhằm CĐTS (Điều 169 BLHS) hoặc được thể hiện là dấu hiệu định khung hình phạt “hành hung để tẩu thoát” tại Tội cướp giật tài sản (điểm đ khoản 2 Điều 171 BLHS), Tội công nhiên CĐTS (điểm b khoản 2 Điều 172 BLHS), Tội trộm cắp tài sản (điểm đ khoản 2 Điều 173 BLHS). Dấu hiệu dùng vũ lực trong các tội phạm nêu trên được hiểu như sau: (1) Dấu hiệu dùng vũ lực trong Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) được hiểu như sau: Dùng vũ lực là hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động vào người khác nhằm làm cho người này lâm vào tình trạng không thể chống cự được. Hành vi dùng vũ lực của người phạm tội có thể sử dụng hoặc không sử dụng công cụ, phương tiện phạm tội và phải nhằm vào con người (có thể là chủ tài sản hoặc người có trách nhiệm quản lý, bảo vệ tài sản hoặc bất kỳ ai mà người phạm tội cho rằng họ đang hoặc sẽ cản trở việc chiếm đoạt của mình).
Nếu hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động lên vật thì không được gọi là hành vi “dùng vũ lực”. Hành vi dùng vũ lực ở tội cướp tài sản phải nguy hiểm ở mức độ có khả năng làm cho nạn nhân lâm vào tình trạng không thể chống cự được. Có nghĩa là trong ý thức chủ quan của người phạm tội, hành vi dùng vũ lực phải nhằm làm cho sự chống cự của nạn nhân không xảy ra; hoặc xảy ra nhưng không có kết quả; hoặc người bị tấn công tê liệt ý chí nên không dám chống cự. Hành vi dùng vũ lực có thể được thể hiện như: bắn, đánh, trói, chém… người đang quản lý tài sản hoặc người ngăn cản hành vi chiếm đoạt.
(2) Dùng vũ lực là một trong các thủ đoạn thực hiện hành vi khách quan của Tội bắt cóc nhằm CĐTS (Điều 169 BLHS) được hiểu như sau: 7 Hành vi khác quan của Tội bắt cóc nhằm CĐTS (Điều 169 BLHS) là hành vi bắt cóc người khác làm con tin nhằm uy hiếp tinh thần người quản lý tài sản làm cho họ sợ mà phải giao tài sản. Bắt cóc con tin là hành vi bắt, giữ, giam người trái pháp luật. Hành vi bắt cóc có thể được thực hiện bằng nhiều thủ đoạn khác nhau như dùng vũ lực, dụ dỗ, mua chuộc, lừa dối… Như vậy, dùng vũ lực chỉ là một trong các thủ đoạn để thực hiện hành vi khách quan của Tội bắt cóc nhằm CĐTS (Điều 169 BLHS). Về mặt lý luận, các tội xâm phạm sở hữu đều xâm phạm quan hệ sở hữu, tuy nhiên khi dùng vũ lực được thể hiện là dấu hiệu định khung hình phạt “hành hung để tẩu thoát” được quy định trong ba tội phạm nêu trên nó còn xâm phạm nhân thân của người khác qua đó làm tăng tính nguy hiểm cho xã hội của các tội phạm này so với trường hợp bình thường.
Chính vì vậy, dấu hiệu “hành hung để tẩu thoát” được quy định là dấu hiệu định khung tăng nặng của các tội cướp giật tài sản, tội công nhiên CĐTS, tội trộm cắp tài sản. Vấn đề tiếp theo cần đặt ra là hiểu các khái niệm “hành hung để tẩu thoát” quy định các Điều 171, 172, 173 BLHS năm 2015 như thế nào? Nếu không thống nhất về vấn đề này thì chúng ta không có cơ sở để đánh giá việc áp dụng tình tiết này trên thực tiễn để chỉ ra các vướng mắc, bất cập qua đó hoàn thiện pháp luật hình sự. Dấu hiệu “hành hung để tẩu thoát” quy định tại quy định các Điều 171, 172, 173 BLHS năm 2015 có nội hàm như thế nào trên thực tế hiện nay lại dựa vào các văn bản hướng dẫn của các cơ quan tiến hành tố tụng, bởi lẽ các hướng dẫn của các cơ quan tiến hành tố tụng có giá trị pháp lý bắt buộc đối với các cơ quan tiến hành tố tụng, còn các tài liệu khác chỉ có giá trị tham khảo. Theo Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC ngày 25/12/2001 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, TAND tối cao, VKSND tối cao về việc áp dụng các quy định tại Chương XIV “Các tội xâm phạm sở hữu” của Bộ luật hình sự năm 1999 (viết tắt là: TTLT số 02/2001) đã hướng dẫn dấu hiệu “hành hung để tẩu thoát” trong các tội xâm phạm sở hữu như sau: 8 “6.
Khi áp dụng tình tiết "hành hung để tẩu thoát" (điểm đ khoản 2 Điều 136; điểm a khoản 2 Điều 137; điểm đ khoản 2 Điều 138 BLHS) cần chú ý: 6. Phạm tội thuộc trường hợp "hành hung để tẩu thoát" là trường hợp mà người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản, nhưng bị phát hiện và bị bắt giữ hoặc bị bao vây bắt giữ thì đã có những hành vi chống trả lại người bắt giữ hoặc người bao vây bắt giữ như đánh, chém, bắn, xô ngã. nhằm tẩu thoát. Nếu người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản, nhưng đã bị người bị hại hoặc người khác giành lại, mà người phạm tội tiếp tục dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc tấn công người bị hại hoặc người khác nhằm chiếm đoạt cho được tài sản, thì trường hợp này không phải là "hành hung để tẩu thoát" mà đã có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội cướp tài sản.” Hướng dẫn trên về dấu hiệu “hành hung để tẩu thoát” trong các tội xâm phạm sở hữu tuy không đủ để giải quyết tất cả các vướng mắc trong thực tiễn áp dụng tình tiết này nhưng cũng là cơ sở để thống nhất cách hiểu về dấu hiệu này trong thực tiễn áp dụng.
* Khái niệm định tội danh đối với hành vi CĐTS trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu trong trường hợp có dùng vũ lực Để có thể đưa ra khái niệm định tội danh đối với hành vi CĐTS trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu trong trường hợp có dùng vũ lực cần phải dựa trên khái niệm định tội danh.TS Võ Khánh Vinh thì: “Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự”1. Trên cơ sở đó, chúng ta có thể đưa ra khái niệm định tội danh đối với hành vi CĐTS trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu trong trường hợp có dùng vũ lực như sau: Định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu trong trường hợp có dùng vũ lực là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi này với các dấu hiệu cấu thành tội phạm xâm phạm sở hữu được quy định trong luật hình sự 1 Võ Khánh Vinh (2013), Lý luận chung về định tội danh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.9-10 9 Định tội danh đối với hành vi CĐTS trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu trong trường hợp có dùng vũ lực là một trường hợp định tội danh cụ thể, do đó nó có các đặc điểm của định tội danh2: + Thứ nhất, Định tội danh đối với hành vi CĐTS trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu trong trường hợp có dùng vũ lực là một quá trình lô gích nhất định, là hoạt động xác nhận và ghi nhận sự phù hợp của hành vi này với các dấu hiệu của các cấu thành tội phạm được quy định trong luật. + Thứ hai, định tội danh đối với hành vi CĐTS trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu trong trường hợp có dùng vũ lực là việc đánh giá nhất định về mặt pháp lý đối với hành vi này. Như vậy, định tội danh đối với hành vi CĐTS trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu trong trường hợp có dùng vũ lực thực chất là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi xâm phạm sở hữu trong trường hợp này với các dấu hiệu cấu thành Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS), Tội bắt cóc nhằm CĐTS (Điều 169 BLHS) hoặc dấu hiệu định khung hình phạt “hành hung để tẩu thoát” tại Tội cướp giật tài sản (điểm đ khoản 2 Điều 171 BLHS), Tội công nhiên CĐTS (điểm b khoản 2 Điều 172 BLHS), Tội trộm cắp tài sản (điểm đ khoản 2 Điều 173 BLHS).
Thực tiễn định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu trong trường hợp có dùng vũ lực Như trên đã phân tích, hành vi dùng vũ lực trong các tội xâm phạm sở hữu tùy từng trường hợp có thể định tội danh là Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS), Tội bắt cóc nhằm CĐTS (Điều 169 BLHS) hoặc là dấu hiệu “hành hung để tẩu thoát” được quy định là dấu hiệu định khung tăng nặng tại Tội cướp giật tài sản (điểm đ khoản 2 Điều 171 BLHS), Tội công nhiên CĐTS (điểm b khoản 2 Điều 172 BLHS), Tội trộm cắp tài sản (điểm đ khoản 2 Điều 173 BLHS). Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự trên thực tế cho thấy định tội danh đối với trường hợp dùng vũ lực CĐTS còn có những vướng mắc dẫn đến giảm hiệu quả đấu tranh phòng chống các tội xâm phạm sở hữu này. Các vướng mắc trong trường hợp này được thể hiện trong nội dung các bản án sau: 2 Võ Khánh Vinh (2013), tlđd (1), tr.10 10 - Thứ nhất, vướng mắc trong xác định trường hợp “hành hung để tẩu thoát” trong một số tội XPSH với trường hợp chuyển hóa sang tội cướp tài sản. Vụ án thứ nhất: Bản án số 11/2018/HSST ngày: 19/4/2018 của TAND huyện Giồng Giềng, tỉnh Kiên Giang3 có nội dung như sau: Vào khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 08 tháng 11 năm 2017, Nguyễn Sê C điều khiển xe mô tô biển số 65H7-6189 chở Định Đại L chạy từ xã L đi thị trấn R.