CHƯƠNG 1 ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI CỐ Ý XÂM PHẠM TÍNH MẠNG CON NGƯỜI TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH 1. Cơ sở lý luận và pháp lý của việc định tội danh đối với tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Dấu hiệu định tội là những dấu hiệu đặc trưng điển hình, phản ánh được đầy đủ tính chất nguy hiểm của một tội phạm và để phân biệt tội phạm này với tội phạm khác. Đó là những dấu hiệu được quy định trong cấu thành tội phạm cơ bản của một tội phạm cụ thể được quy định trong Phần các tội phạm BLHS. Để chủ thể định tội nhận thức đúng các dấu hiệu của CTTP, các dấu hiệu của chúng phải được mô tả chính xác, rõ ràng trong BLHS giúp cho chủ thể định tội nhận thức đúng đắn sự khác nhau giữa tội phạm này với tội phạm khác.
Đây là một trong các đặc điểm để hoạt động định tội danh diễn ra đúng đắn. Hiện nay, trong khoa học pháp lý hình sự Việt Nam, có nhiều quan điểm về khái niệm định tội danh, điển hình một số quan điểm sau: Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Định tội danh là việc xác nhận về mặt pháp lý sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể đã được thực hiện với các yếu tố cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng được quy định trong BLHS”1. Quan điểm thứ hai cho rằng: “Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đã được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự”2. Quan điểm thứ ba cho rằng: “Định tội danh là quá trình nhận thức lý luận có tính logic, là dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự cũng như pháp luật tố tụng hình sự và được tiến hành trên cơ sở các chứng cứ, các tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của CTTP tương ứng do luật hình sự quy định nhằm đạt được sự thật khách quan, tức là đưa ra sự đánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp lý hình sự, làm tiền đề cho việc cá thể hóa và phân hóa TNHS một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật”3.
1 Phạm Văn Beo (2010), Luật hình sự Việt Nam - Quyển 2 (Phần các tội phạm), Nxb Chính trị quốc gia, Cần Thơ, tr. 2 Võ Khánh Vinh (2013), Giáo trình Lý luận chung về định tội danh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.9 3 Lê Cảm (2004), Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 8 Quan điểm thứ tư cho rằng: “Định tội danh là hoạt động thực tiễn của các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) và một số cơ quan khác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật để xác định một người có phạm tội không, nếu phạm tội thì đó là tội gì, theo điều luật nào của BLHS hay nói cách khác đây là quá trình xác định tên tội cho hành vi nguy hiểm đã thực hiện”4. Như vậy, hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm định tội danh do cách tiếp cận và mục đích nghiên cứu khác nhau của các tác giả.
Tuy nhiên, các quan điểm này đều có đặc điểm chung: Định tội danh về bản chất là đối chiếu, so sánh và xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện trên thực tế với các dấu hiệu của CTTP tương ứng được quy định trong BLHS. Từ các quan điểm nêu trên, có thể đưa ra khái niệm định tội danh như sau: Định tội danh là một dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật, được tiến hành trên cơ sở các chứng cứ thu thập được theo quy định của pháp luật và các tình tiết thực tế của vụ án để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện với các dấu hiệu của CTTP tương ứng do luật hình sự quy định và kết luận hành vi nguy hiểm cho xã hội đó có phạm tội hay không, nếu có thì phạm tội gì, theo điểm khoản điều luật nào của BLHS. Từ khái niệm trên, có thể xác định các bước của quá trình định tội danh như sau: - Bước 1: Xác định các tình tiết thực tế của vụ án (sự thật khách quan của vụ án). - Bước 2: Dự kiến các CTTP tương ứng.
- Bước 3: Xác định sự phù hợp chính xác giữa hành vi phạm tội trên thực tế với CTTP được quy định trong BLHS (Định tội danh). - Bước 4: Xác định khung hình phạt. Như vậy, mục đích của định tội danh là nhằm đạt được sự thật khách quan của vụ án, đưa ra sự đánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp lý hình sự, làm tiền đề cho việc phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật. Khi định tội danh chính thức, cần phải áp dụng cả luật hình sự và tố tụng hình sự.
Trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ khảo sát quy định của luật hình sự như là cơ sở pháp lý quan trọng của hoạt động định tội danh. Trong các trường hợp định tội danh, chúng ta có trường hợp định tội danh theo bốn yếu tố cấu thành tội phạm (mặt khách thể, mặt khách quan, mặt chủ quan, mặt chủ thể), định tội danh đối với các trường hợp đặc biệt (tội phạm chưa hoàn thành, trường hợp đồng phạm, đa tội phạm). Trong đó định tội danh theo các yếu tố 4 Dương Tuyết Miên (2007) Định tội danh và quyết định hình phạt, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội, tr.9 9 CTTP thực chất là cụ thể hoá quy trình thực hiện giai đoạn 3 của các giai đoạn của quá trình định tội danh. Nội dung của bước này là đánh giá sự phù hợp lần lượt từng yếu tố trong 4 yếu tố CTTP.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung vào mặt khách quan của tội phạm. Các dấu hiệu thuộc nội dung mặt khách quan của tội phạm gồm có hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả tác hại, mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả; những dấu hiệu bên ngoài khác như thời gian, địa điểm, công cụ, phương tiện. Mặt khách quan của tội phạm là một trong bốn yếu tố của tội phạm. Không có mặt khách quan thì cũng không có các yếu tố khác của tội phạm và do vậy cũng không có tội phạm.
Việc xác định hành vi cụ thể có cấu thành tội phạm hay không thường bắt đầu từ việc nghiên cứu mặt khách quan. Chỉ khi đã xác định trong hành vi của con người có những dấu hiệu khách quan của tội phạm thì vấn đề xem xét mặt chủ quan mới được đặt ra. Ở các tội cố ý xâm phạm tính mạng con người, hành vi tước đoạt tính mạng con người được thực hiện bằng nhiều cách thức khác nhau và dựa vào các cách thức khác nhau đó luật hình sự xây dựng thành các tội phạm khác nhau. Việc BLHS năm 1999 trước đây và nay là BLHS năm 2015 vẫn còn một vài tội phạm mà tính đặc trưng của chúng chưa rõ khiến cho chủ thể định tội gặp khó khăn khi xác định một hành vi là phạm tội này hay tội khác.
Minh chứng cụ thể là CTTP của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 125 BLHS) và tội giết người (Điều 123 BLHS). Xuất phát từ thực tiễn áp dụng tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh phát sinh một số vấn đề thuộc về lý luận chưa được hướng dẫn, giải thích một cách thỏa đáng. Vì vậy trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử còn có nhiều quan điểm trái ngược nhau về việc áp dụng tội danh này. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung vào hành vi khách quan của tội phạm được thực hiện trong tình trạng tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật của nạn nhân.
Thứ nhất, trạng thái tinh thần của người khi thực hiện tội phạm là bị kích động mạnh. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì việc xác định dấu hiệu định tội “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” vẫn dựa vào hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29.1986 của HĐTP TANDTC, mà chưa có một khái niệm hay hướng dẫn cụ thể nào khác. Theo hướng dẫn của nghị quyết trên thì: 10 “Tình trạng tinh thần bị kích động là tình trạng người phạm tội không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình. Nói chung, sự kích động mạnh đó phải là tức thời do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân gây nên sự phản ứng dẫn tới hành vi giết người.
Nhưng cá biệt có trường hợp do hành vi trái pháp luật của nạn nhân có tính chất đè nén, áp bức tương đối nặng nề, lặp đi lặp lại, sự kích động đó đã âm ỷ, kéo dài, đến thời điểm nào đó hành vi trái pháp luật của nạn nhân lại tiếp diễn làm cho người bị kích động không tự kiềm chế được; nếu tách riêng sự kích động mới này thì không coi là kích động mạnh, nhưng nếu xét cả quá trình phát triển của sự việc thì lại được coi là mạnh hoặc rất mạnh”5. Như vậy, theo hướng dẫn của Nghị quyết 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì người bị kích động mạnh về tinh thần là người không còn nhận thức đầy đủ về hành vi của mình như lúc bình thường, nhưng chưa mất hẳn khả năng nhận thức. Do vậy, có thể hiểu trong trường hợp bình thường họ không phạm tội mà trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh họ phạm tội thông qua mức độ nhận thức của họ trong lúc này. Bình thường, họ nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm, nhận thức được hậu quả nguy hiểm cho xã hội và nhận thức được điều đó là sai, trái pháp luật, phải gánh lấy trách nhiệm pháp lý nên họ kiềm chế hành vi của mình.