Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE GIÁM HO 1. Khai niệm về giám hộ 1. Khái niệm chung về giám hộ Khái niệm về giám hộ có thể được xem xét trên nhiều góc độ khác nhau. về mặt ngôn ngữ thì giám được hiểu là theo dõi, kiểm tra, đôn đốc còn hộ được hiểu là bảo vệ, giữ gìn vì vậy giám hộ là hành động theo dõi, giám sát và bảo vệ của một người đối với một người.
Nếu định nghĩa giám hộ là danh từ thì giám hộ là việc một người (cá nhân hoặc tô chức) thực hiện việc trông nom và bảo vệ một người khác. Khái niệm giám hộ đã xuất hiện từ rất sớm, ngay từ thời La mã cô đại giám hộ đã là một chế định quan trọng. Trong Luật La mã đã có các quy định tương đối cụ thé về giám hộ như sau: Trẻ em dưới 7 tuổi không có năng lực hành vi không được tham gia và thực hiện các giao dịch dân sự, trừ những giao dịch phục vụ cho nhu cầu cần thiết và phù hợp với lứa tuổi. Luật quy định trẻ em trong độ tuổi này buộc phải đặt dưới sự giám hộ của người trưởng thành.
Đối với người từ 7 tuôi đến 14 tuôi đối với nam, 12 tuôi đối với nữ thì có nang lực hành vi một phan, duoc tham gia thực hiện những giao dịch bao dam, duy trì được lợi ich của mình. Khi thực hiện một giao dịch mà phát sinh một nghĩa vụ hay chấm dứt một quyền phải được sự đồng ý của gia chủ hoặc người đỡ đầu vào thời điểm thực hiện giao dịch đó. Như vậy, theo Luật La mã cô đại thì những người ở độ tuổi trên tuy ở mức độ khác nhau nhưng đều phải đặt dưới sự giám hộ. Luật La mã còn quy định những người tuy trưởng thành (từ đủ 14 tuổi đối với nam, đủ 12 tuổi đối với nữ) mà mắc bệnh tâm thần là những người không có năng lực hành vi, vì họ không thê nhận thức và làm chủ hành vi cua mình trong các quan hệ xã hội, họ được gọi là furiosi.
Và những người được xác định là furlosi đều phải đặt dưới sự giám hộ của người trưởng thành khác. Có thé thay rằng ngay từ thời La mã, pháp luật về giám hộ được được quy định một cách toàn diện, đầy đủ, qua đó, thê hiện trình độ pháp lý tương đối cao của người La mã cô đại. Trịnh Minh Hiền (2015), Giám hộ - Một số van dé lý luận và thực tiễn, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr4. Về mặt thuật ngữ luật dân sự thì giám hộ là việc chăm sóc, quản lý tài sản, thực hiện các quyền dân sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
Về phương điện luật học thì chế định giám hộ là chế định tổng hợp của nhiều ngành luật, các quy định của giám hộ trước tiên được quy định như là một chế định của pháp luật hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự, pháp luật chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em, pháp luật về hộ tịch,.Chế định này bao hàm hệ thống các quy phạm pháp luật dé điều chỉnh quan hệ pháp luật là khách thé trong các quan hệ pháp luật đó. Ngoài mục đích dé điều chỉnh các quan hệ pháp luật thì chế định giám hộ có ý nghĩa lớn trong việc khắc phục tình trạng không bình đẳng khi không có sự tương đồng về năng lực hành vi dân sự giữa các cá nhân khi họ tham gia vào các quan hệ pháp luật. Người có năng lực hành vi dân sự có thể tự mình tham gia vào các mối quan hệ pháp luật cũng như quan hệ xã hội khác, có thể tự mình bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm. Nhưng đối với những người không có năng lực hành vi dân sự, người bị mất nang lực hành vi dân sự hay người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, pháp luật quy định cho họ không thể tự hình thực hiện hành vi pháp lý nhất định, khi đó đặt ra van đề bất bình dang giữa các cá nhân trong xã hội.
Bên cạnh đó, chế định giám hộ còn tạo điều kiện cho những người không thể tự chăm sóc bản thân mình được nuôi dưỡng, giáo dục và chữa bệnh. Vì vậy, có thể nói chế định giám hộ là công cụ của nhà nước tạo ra dé bảo vệ những người yếu thé trong xã hội. Những quy định của chế định nay xác định việc quản lý tài sản, thực hiện các quyền và nghĩa vụ về tài sản của người được giám hộ. Ngoài ra các chế định này còn có những quy định mang tính hành chính như các quan hệ về cử người giám hộ, giám sát việc giám hộ.
Khái niệm giám hộ theo luật dân sự Việt Nam Giám hộ là một chế định quan trọng được quy định trong pháp luật dân sự có nội dung xã hội sâu sắc, thé hiện sự quan tâm của xã hội và cộng đồng đối với việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ. Chế định nay đã được quy định trong Bộ luật dân sự 1995 trước đây và được kế thừa phát triển trong Bộ luật dân sự 2005 rồi đến Bộ luật dân sự 2015 cũng như các văn bản pháp luật có liên quan (Luật Hôn nhân & gia đình, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Năm 1995, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Bộ luật Dân sự có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 1996. Lần đầu tiên khái niệm giám hộ được quy định dưới góc độ của luật dân sự, theo đó tại Điều 67 Bộ luật dân sự 1995 quy định “Giám hộ là việc cá nhân, tô chức hoặc cơ quan nhà nước (gọi là người giảm hộ) được pháp luật quy định hoặc được cử dé thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thé nhận thức, làm chủ được hành vi của mình (gọi là người được giám hộ)”.
Khái niệm nêu ra ba loại chủ thể là người giám hộ bao gồm cá nhân, tổ chức và co quan nha nước tương ứng với ba loại cơ chế giám hộ được Bộ luật dân sự 1995 quy định: giám hộ đương nhiên của người thân thích, giám hộ cử của tô chức và giám hộ của cơ quan nhà nước. Đồng thời khái niệm cũng nêu lên được những đối tượng là người được giám hộ, bao gồm: người chưa thành niên, người bị tâm thần hoặc các bệnh khác mà không thể nhận thức, lam chủ hành vi. Bộ luật dân sự 2005 có sự thay đổi về mặt nội dung trong khái niệm giám hộ, tuy nhiên cách thức trình bày, diễn giải không có gì thay đổi. Giám hộ theo Bộ luật dân sự 2005 là việc cá nhân, tô chức (sau đây gọi chung là người giám hộ) được pháp luật quy định hoặc được cử dé thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự (sau đây gọi chung là người được giám hộ).
Sự thay đổi về nội dung của khái niệm giám hộ của Bộ luật dân sự 2005 thé hiện rõ ràng sự thay đôi trong các quy định về người giám hộ, người được giám hộ so với Bộ luật dân sự 1995. Đến Bộ luật dân sự 2015 thì “Giám hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy ban nhân dân cấp xã cử, được Tòa án chỉ định hoặc được quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật này (sau đây gọi chung là người giám hộ) để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (sau đây gọi chung là người được giám hộ)”. Khái niệm tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật dân sự 2015 này tương đối hoàn chỉnh, khái quát một cách ngăn gọn nhất về giám hộ bao gồm ai, việc gì và được hình thành như thế nào. Tuy nhiên, ngoài có sự thay đổi trong nội dung thì về mặt thé thức trình bay hay cách hành văn vẫn không có sự thay đổi so với các khái niệm trước đây.
Tuy nhiên, do đi vào chi tiết quá nên trong khái niệm giám hộ của bộ luật dân sự còn chứa nhiêu cụm từ mà phải rõ vê khái niệm của chúng thì chúng ta mới hiểu được giám hộ là gì, như “người mất năng lực hành vi dân sự” hay “người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vl”. Trong pháp luật dân sự nói riêng và trong thực tiễn áp dụng pháp luật có một khái niệm mà thường xuyên bị nhằm lẫn với khái niệm giám hộ đó là khái niệm về đại diện. Theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật dân sự 2015 thi đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Giám hộ và đại diện có những điểm tương đồng nhất định, đều là việc cá nhân, pháp nhân thay mặc cho người khác, nhân danh và bảo vệ lợi ích cho người khác.
Do đó, giám hộ cũng là một trường hợp đặc biệt của đại diện. Tuy nhiên, giữa giám hộ và đại diện có những điểm khác nhau xuất phát từ tính chất đặc trưng của giám hộ. Nếu người đại diện chỉ nhân danh cho người được đại diện trong xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thì giám hộ lại dé cao trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh của người giám hộ đối với người được giám hộ bên cạnh công việc đại diện cho người được giám hộ. Ngoài ra, nếu việc giám hộ chỉ đặt ra với cá nhân có hoàn cảnh đặc biệt thì chủ thé được đại diện hầu như không có giới hạn bao gồm cả cá nhân và pháp nhân và trong khi một người chỉ có thé được giám hộ bởi một người (trừ bố mẹ giám hộ cho con) thì trong quan hệ đại diện, nhiều người có thể cùng đại diện cho một người.
Bên cạnh đó giảm hộ và đại diện còn khác nhau về căn cứ xác lập, căn cứ kết thúc, quyền và nghĩa vụ và đặc biệt trong một sé quan hệ dai diện, công việc đại diện là công việc được trả phi trong khi đó giám hộ là công việc không phải trả phí. Dac điểm và ý nghĩa của giám hộ 1.