Chương 1 NHUNG VAN ĐÈ LÝ LUẬN VE THOA THUAN CHE ĐỘ TÀI SAN CUA VO CHONG 1. Khái niệm, bản chất pháp lý của thỏa thuận về chế độ tài sản vợ chồng 1. Khái niệm Thỏa thuận về chế độ tài sản vợ chồng được hình thành từ rất sớm trong lịch sử nhân loại, từ thời La Mã cô đại. Từ thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên, những người La Mã cô đại đã biết xác lập chứng thư về khối tài sản hồi môn.
Bản chất của chứng thư là ghi nhận và phân định khối tài sản hồi môn của người vợ với khối tài sản của người chồng. Theo đó, người vợ được toàn quyền quản lý, sử dụng tài sản hồi môn, người chồng chỉ được quản lý tài sản hồi môn của vợ trên cơ sở được sự chấp thuận của người vợ. Người chồng cam kết hoàn trả tài sản hồi môn cho người vợ trong tất cả các trường hợp chấm dứt hôn nhân. Người chồng được quyền chuyên nhượng động sản hồi môn nhưng không được chuyên nhượng bất động sản hồi môn trừ khi được sự đồng ý của người vợ.
Nếu người chồng tự ý chuyên nhượng bat động sản hồi môn, nguoi vo CÓ thé yéu cau tuyén bố giao dịch vô hiệu [5, tr. Sau này, thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng (hôn ước) được các nước Phương Tây như Pháp, Mỹ. kế thừa và hoàn thiện. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng (hôn ước) theo pháp luật Phương Tây là sự thỏa thuận bằng văn bản (hợp đồng) do vợ chồng lập trước khi kết hôn để quy định chế độ tài sản của vợ chồng trong suốt thời kỳ hôn nhân [34, tr.
Tại Việt Nam, thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng được ghi nhận lần đầu tiên trong Dân luật Bắc kỳ năm 1931 với tên gọi hôn ước. Trong thời kì Pháp thuộc, đất nước ta bị chia cắt thành ba miền Bắc- Trung-Nam. Mỗi miền được áp dụng một chính sách pháp luật riêng. Đối với quan hệ hôn nhân và gia đình: Miền Bắc áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1931 (hay còn được gọi là Dân luật Bac Ky), mién Trung áp dung Bộ luật Dan su năm 1936 (hay còn được gọi là Dân luật Trung Kỳ), miền Nam áp dụng Dân luật giản yếu năm 1883 (hay còn được gọi là Dân luật giản yeu Nam Ky).
Hôn ước không được ghi nhận trong Dân luật giản yếu Nam kỳ mà được ghi nhận trong án lệ tại Nam Kỳ. Hầu hết các quy định về hôn ước gần như sao chép nguyên văn theo Bộ luật dân sự Pháp. Dưới thời kỳ Pháp thuộc, hôn ước được đưa vào quy định pháp luật không hề xuất phát từ nhu cầu thực tiễn xã hội (xã hội Việt Nam thời kỳ này vẫn đang ở thời kỳ chế độ phong kiến). Dưới chế độ phong kiến, trong quan hệ hôn nhân, người ta chỉ quan tâm đến sự môn đăng hậu đối (điều kiện gia đình và địa vị tương xứng) của hai gia đình chứ không quan tâm đến tài sản cá nhân của cặp vợ chồng như trong hôn ước.
Mặt khác, các quy định pháp luật về hôn ước chỉ mang tính hình thức, không phù hợp với xã hội, văn hóa Việt Nam khiến cho việc áp dụng các quy định này trên thực tế rất khó khăn. Theo quy định của pháp luật, vợ chồng được tự do lập hôn ước nhưng pháp luật không có quy định chi tiết, hướng dẫn về hôn ước. Các cặp đôi phải tự xây dựng toàn bộ quy định áp dụng cho quan hệ tài sản vợ chồng. Ngược lại, các cặp đôi ở Pháp được tự do lựa chọn các mô hình chế độ tài sản theo thỏa thuận đã được dự liệu sẵn trong Bộ luật dân sự của Pháp.
Với những bất cập, hạn chế đó của pháp luật Việt Nam đương thời, hôn ước đã trở thành một chế định bất khả thi trong hệ thống pháp luật Việt Nam đương thời [16, tr. Kể từ khi Việt Nam giành được độc lập, thống nhất đất nước, pháp luật Việt Nam không có quy định về thỏa thuận chế độ tài sản vợ chồng cho đến khi Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 được ban hành. So sánh với các quốc gia trên thế giới, tại Việt Nam, thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng chỉ điêu chỉnh quan hệ tài sản của vợ chông. Trong khi đó, một sô nước đặc biệt là các nước theo hệ thống Thông Luật (Common Law) tồn tại khái niệm hợp đồng hôn nhân (prenutial contract) hoặc thỏa thuận tiền hôn nhân (prenuptil agreement).
Theo đó, hợp đồng hôn nhân hoặc thỏa thuận tiền hôn nhân không chỉ bao gom các thỏa thuận về quan hệ tai sản mà còn chứa đựng nội dung về quan hệ nhân thân giữa vợ chồng như quyền riêng tư, tự do cá nhân hoặc các nội dung liên quan đến việc nuôi con. Nguyễn Ngọc Điện thi “7hỏa thuận về chế độ tài sản là thỏa thuận tổng quát về tat cả các quan hệ tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Thỏa thuận này chỉ phối tat cả các tài sản của vợ và chong, bao gốm tài sản có trước khi kết hôn và tài sản có trong thời kỳ hôn nhân” [8, tr. Như vậy, theo cách định nghĩa này thì có thể thấy thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng là hợp đồng của vợ chồng, trong đó chứa đựng các quy tắc chi phối quan hệ tài sản giữa vợ chồng, cụ thé là chi phối các quyền lợi và nghĩa vụ của vợ chồng liên quan đến tài sản (bao gồm tài sản có trước khi kết hôn và những tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân).
Về cơ bản, thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng được coi là bộ quy tắc xử sự của vợ chồng đối với quan hệ tai sản trong thời ky hôn nhân. Khái niệm thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng còn được hiểu là sự biểu lộ mong muốn của hai bên tiến tới kết hôn hoặc đã kết hôn dé phân định về quyền, nghĩa vụ đối với tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân hoặc khi chấm dứt quan hệ hôn nhân [37]. Theo đó, thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng có thể được xác lập trước khi kết hôn (giữa các bên chuẩn bị kết hôn) hoặc trong thời kỳ hôn nhân bởi các bên đã kết hôn (các bên là vợ chồng). Đồng thời, thỏa thuận này nhằm mục đích chi phối, điều chỉnh về quan hệ tài san của vợ chong.
Về nguyên tắc, mỗi một cặp vợ chồng khi kết hôn đều có một chế độ tài sản được áp dụng riêng đôi với họ. Chê độ tài sản của vợ chông là tập hợp các 10 quy tắc được xây dung dé điều chỉnh quan hệ tài sản phát sinh giữa vợ chồng, bao gồm các van đề xác lập quan hệ tài sản, sự phân định tài sản chung, tài sản riêng, nghĩa vụ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân, quyền và nghĩa vụ của vợ chong liên quan đến các khối tài sản này và việc phân chia tài sản như thé nào khi chấm dứt quan hệ tài sản giữa họ [7, tr. Thông thường, vợ chồng có quyền lựa chọn chế độ tài sản để áp dụng trong thời kỳ hôn nhân. Pháp luật thừa nhận cho vợ chồng quyền tự đo thỏa thuận về quan hệ tài sản giữa họ với điều kiện tôn trọng một SỐ quy tắc mang tính mệnh lệnh, bắt buộc nhằm bảo vệ tính ôn định của gia đình.
Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng chính là hợp đồng giữa vợ chồng nhằm điều chỉnh quan hệ tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Thỏa thuận về chế độ tài sản vợ chồng khác với các thỏa thuận khác về tài sản bởi tính chất hệ thống (chi phối tat cả các quan hệ tai sản của vợ chồng, bao gồm tài sản có trước khi kết hôn và tài sản có trong thời kỳ hôn nhân). Tóm lại, có thể định nghĩa thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng như sau: “Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chong là sự thỏa thuận bằng văn bản (khé ước) giữa vợ chong dé quy định về chế độ tài sản của vợ chẳng trong suốt thời kỳ hôn nhân, bao gồm các quy định về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyên và nghĩa vụ của vợ chong đối với tài san của ho, cũng như trong việc thực hiện các giao dịch giữa vợ chong với người thứ ba”. Ban chất pháp lý của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chong Ban chat pháp ly của thỏa thuận về chế độ tài san của vợ chồng là hợp đồng điều chỉnh quan hệ tài sản của vợ chồng.
Vợ chồng được tự do lập hôn ước dé thiết lập các quy định về chế độ tài sản của vợ chồng. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng có tính chất của hợp đồng xuất phát từ những lý do như sau: Thi nhất, thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng được xác lập dựa trên ý chí của vợ chồng và sự thỏa thuận thê hiện ý chí đó. Sự thỏa thuận 11 là một trong những đặc điểm đặc trưng của hợp đồng đề phân biệt với hành vi pháp lý đơn phương. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng phát sinh hiệu lực từ ý muốn của vợ chồng.
Trong đó, vợ chồng hoàn toàn ấn định các nội dung liên quan đến quan hệ tài sản của họ cũng như sửa đổi, chấm dứt thỏa thuận. Thi? hai, thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng tạo ra hậu quả pháp lý đối với vợ chồng về quan hệ tài sản. Cụ thể, thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng tạo ra các quyền và nghĩa vụ đối với vợ chồng về tài sản, ràng buộc vợ chồng phải thực hiện theo những nội dung đã thỏa thuận. Mặc dù thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng là một hợp đồng nhưng khác với các loại hợp đồng dân sự thông thường thỏa thuận này có tính “trọng thức”.
Đối với các hợp đồng dân sự thông thường thì việc xác lập hợp đồng không cần phải đảm bảo về mặt hình thức (hợp đồng có thể được thê hiện bằng lời nói, văn bản, hành vi cụ thé trừ một số loại hợp đồng yêu cầu phải được lập bằng văn bản, văn bản có công chứng hoặc chứng thực như hợp đồng mua bán nhà, hợp đồng chuyên nhượng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,. và đăng ký mẫu hợp đồng như hợp đồng cung cấp điện sinh hoạt, hợp đồng vận chuyên hành khách đường sat,. ), thỏa thuận về chế độ tai sản vợ chồng buộc phải được lập bằng văn bản.