Chương 1 CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ VẬT CHỨNG TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Vật chứng trong vụ án hình sự 1. Khái niệm vật chứng trong vụ án hình sự Thời gian qua, dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, vấn đề vật chứng trong vụ án hình sự có khá nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, trong đó có đề cập đến khái niệm vật chứng, có thể kể đến một số quan điểm sau: Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Vật chứng là vật có giá trị chứng minh tội phạm, người phạm tội cũng như các tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án” [31, tr. Quan điểm này tiếp cận nội hàm khái niệm theo hướng nhấn mạnh và đề cao giá trị chứng minh của vật chứng - thuộc tính khách quan, nội tại của vật chứng, nhưng lại chưa nêu được trình tự, thủ tục thu thập vật chứng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, do vậy tính pháp lý (tính hợp pháp) của vật chứng mà khái niệm này đề cập chưa được đảm bảo.
Quan điểm thứ hai cho rằng: “Vật chứng là những vật được thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định, chứa đựng các thông tin được xác định là chứng cứ có giá trị chứng minh tội phạm, người phạm tội cũng như các tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án” [2], [1, tr. Quan điểm này khá hợp lý, tuy nhiên thông qua cách sắp xếp từ ngữ trong khái niệm cho thấy, quan điểm này đề cao thuộc tính hình thức pháp lý hơn thuộc tính khách quan, nội tại, cơ bản của vật chứng: Giá trị chứng minh. Trong khi đó, theo quan điểm thứ ba thì: “Vật chứng là vật thể được thu thập theo thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định, chứa đựng các thông tin có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án” [14; tr. Quan điểm này cũng chưa đề cập đầy đủ cả về tính hình thức pháp lý, lẫn giá trị chứng minh của vật chứng, mang tính khái quát cao.
Theo quan điểm thứ tư: “Vật chứng được hiểu là những gì tồn tại dưới dạng vật thể chứa đựng và phản ánh những thông tin liên quan đến vụ án, được chủ thể có thẩm quyền thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định” [19; tr. Quan điểm này đề cập và mở rộng phạm vi đối tượng được xem là vật chứng quá lớn “.phản ánh những thông tin liên quan đến vụ án”, mà không tập trung vào những đối tượng có giá trị chứng minh và được sử dụng trong quá trình chứng minh vụ án hình sự. 6 Mặc dù chưa có sự thống nhất về khái niệm vật chứng, tuy nhiên khi tìm hiểu về đặc điểm của vật chứng, các quan điểm trên đều có những điểm hợp lý chung nhất định, từ đó có thể đưa ra khái niệm vật chứng như sau: Vật chứng là vật (vật thể) cụ thể, là cái có thật (tính khách quan), có giá trị chứng minh trong tố tụng hình sự (tính liên quan), được thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định (tính hợp pháp). Đây cũng là những thuộc tính của vật chứng nói riêng và chứng cứ nói chung được thừa nhận rộng rãi trong khoa học Luật tố tụng hình sự.
Các đặc điểm vật chứng trong vụ án hình sự Vật chứng là một trong các loại nguồn chứng cứ mà pháp luật Tố tụng hình sự ghi nhận, bên cạnh các loại nguồn chứng cứ khác. Vật chứng có vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình chứng minh vụ án hình sự bởi vì nó không bị chi phối bởi các yếu tố tình cảm, tâm lý như các loại nguồn chứng cứ khác. Từ khái niệm vật chứng nêu trên đồng thời tiếp cận vật chứng dưới góc độ là một loại nguồn chứng cứ, vật chứng có những đặc điểm (thuộc tính) sau đây: - Tính khách quan của vật chứng được thể hiện: Vật chứng là vật cụ thể, là cái có thật, tồn tại bên ngoài thế giới khách quan, không phụ thuộc vào ý thức của con người. Hình thức tồn tại trong thế giới khách quan (tồn tại trong không gian) của vật chứng là các vật thể - “vật cụ thể, có những thuộc tính vật lý nhất định” [55; tr.415], con người có thể trông thấy, cầm, nắm, đo đếm được, có thể nhận thức được nó thông qua các giác quan.
Vật thể này có thể là động sản, nhưng cũng có thể là bất động sản như nhà xưởng, kho tàng,. Tuy nhiên, thực tiễn tố tụng cho thấy đa số vật chứng vụ án hình sự là động sản, một số ít trường hợp ở các vụ án về tham nhũng, ma túy. vật chứng có thể là bất động sản. Tội phạm là hành vi cụ thể của con người thể hiện ra bên ngoài thế giới khách quan.
Hoạt động tội phạm được xem là hoạt động vật chất [14; tr. Bởi vậy, khi một tội phạm được thực hiện trên thực tế, nó sẽ tương tác với một số đối tượng và để lại các thông tin, dấu vết tội phạm ở các đối tượng này. Trường hợp đối tượng chịu sự tương tác (hay tác động) của hành vi phạm tội là dạng vật thể cụ thể của thế giới vật chất, thì vật thể này sẽ trở thành vật chứng khi nó được cơ quan, người có thẩm quyền thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Tự thân vật chứng tồn tại một cách độc lập, không phụ thuộc vào việc kẻ phạm tội hay bất kể một chủ thể nào khác có mong 7 muốn nó tồn tại hay không; từ khi chứa đựng thông tin, dấu vết mà tội phạm để lại, vật chứng đã mang trong mình giá trị chứng minh mà không phụ thuộc vào cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng (chủ thể có trách nhiệm chứng minh) có nhận thức được giá trị chứng minh của nó hay không và nhận thức đến mức độ nào.
Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải tôn trọng sự thật khách quan của vụ án, trên cơ sở nhận thức, đánh giá đúng bản chất và giá trị chứng minh của vật chứng; nhận thức đúng mối liên hệ giữa vật chứng với các tình tiết của vụ án, tránh phiến diện, qua loa, áp đặt ý chí chủ quan vào quá trình chứng minh vụ án hình sự. - Tính liên quan của vật chứng được thể hiện: Chỉ những vật thể có mối quan hệ với tình tiết nào đó của vụ án mới có thể được coi là vật chứng. Và cũng nhờ sự liên quan này nên vật chứng mới có khả năng làm sáng tỏ các vấn đề cần chứng minh trong vụ án (có giá trị chứng minh). Vật chứng có giá trị chứng minh trong tố tụng hình sự - nghĩa là có giá trị chứng minh tội phạm, người phạm tội, cũng như làm sáng tỏ những tình tiết khác của vụ án.
Quá trình tiến hành tố tụng bước đầu, do chưa nhận thức được sự việc phạm tội, cũng như cơ chế tội phạm để lại thông tin, dấu vết trên các đối tượng vật chất bên ngoài thế giới khách quan, nên cơ quan tiến hành tố tụng có thể sẽ thu giữ nhiều đối tượng vật chất nghi ngờ có liên quan đến tội phạm và người phạm tội. Tuy nhiên, không phải tất cả những gì được thu giữ đều trở thành vật chứng, chỉ những vật thể mang trên mình thông tin, dấu vết do tội phạm để lại, có giá trị chứng minh tội phạm, người phạm tội cũng như các tình tiết khác của vụ án mới có thể trở thành vật chứng của vụ án. Vì vậy, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cũng như các chủ thể khác có thẩm quyền theo luật định phải có nhận thức đúng đắn trong quá trình thu thập, đánh giá, sử dụng vật chứng. Việc thu thập vật chứng phải có tính sàng lọc nếu không sẽ có quá nhiều đối tượng được thu thập gây khó khăn cho công tác sử dụng và xử lý vật chứng.
Khi đánh giá, sử dụng vật chứng phải thấy được tính liên quan của vật chứng đó với các tình tiết của vụ án, tránh đại khái, qua loa xác định tất cả những gì thu thập được đều là vật chứng gây khó khăn cho việc đánh giá, sử dụng và xử lý vật chứng hoặc xác định phạm vi vật chứng quá hẹp sẽ gây khó khăn cho việc chứng minh vụ án. - Tính hợp pháp của vật chứng được thể hiện: Vật chứng phải là những vật thể được thu thập, bảo quản, lưu giữ theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự 8 quy định. Đây là đặc điểm thuộc về mặt hình thức pháp lý của vật chứng, nếu như hai đặc điểm nêu trên thể hiện bản chất nội tại (mang tính khách quan) của vật chứng, không phụ thuộc vào bất kỳ yếu tố nào, thì ở đặc điểm này lại phụ thuộc vào yếu tố pháp luật. Một vật thể nào đó có tính khách quan và liên quan, nhưng lại không hợp pháp sẽ không được xác định là vật chứng và do vậy không có giá trị chứng minh.
Đây là một đòi hỏi nhằm đảm bảo nguyên tắc pháp chế trong tố tụng hình sự. Do đó, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải thực hiện đúng quy định của pháp luật về thu thập, lưu giữ và bảo quản vật chứng. Tránh tuyệt đối việc hợp pháp hóa những đối tượng vật chất được thu thập không đúng quy định của pháp luật trở thành vật chứng của vụ án. Phân biệt vật chứng với các đồ vật, tiền khác Thông thường, vật chứng được thu thập khi phát hiện ra tội phạm bằng những hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng (ví dụ như: khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám đồ vật, khám nhà…), nhưng nhiều trường hợp trong quá trình giải quyết vụ án hình sự việc thu thập vật chứng có thể do bị can, bị cáo, người làm chứng, người bị hại hoặc bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào cung cấp.
Tuy nhiên, cho dù được thu thập bằng hình thức nào thì những đối tượng vật chất (đồ vật, tiền …) mà cơ quan tiến hành tố tụng thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án hình sự chỉ có thể trở thành vật chứng của vụ án nếu nó mang đầy đủ các đặc điểm của vật chứng trong vụ án hình sự (tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp). Thiếu một trong các thuộc tính nếu trên thì các đối tượng vật chất đó không có giá trị chứng minh tội phạm và không được coi là vật chứng trong vụ án hình sự.