Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Pháp luật về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay" thuộc chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự. Luận án giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến việc thiết lập, hoàn thiện và thi hành khung pháp lý điều chỉnh hoạt động hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự tại Việt Nam.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ bối cảnh toàn cầu hóa và sự gia tăng của các thách thức an ninh phi truyền thống. Tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia diễn biến phức tạp với nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi như buôn bán người, mua bán trái phép chất ma túy, rửa tiền, khủng bố quốc tế, tội phạm công nghệ cao và lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Theo nghiên cứu của Liên hợp quốc do tác giả trích dẫn, thị trường bất hợp pháp hàng năm của tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia ước tính đạt khoảng 1,6 đến 2,2 nghìn tỷ đô la Mỹ trên toàn cầu, riêng khu vực Đông Nam Á chiếm khoảng 100 tỷ đô la Mỹ. Thực tiễn tại Việt Nam xuất hiện nhiều vụ việc đối tượng sau khi phạm tội bỏ trốn ra nước ngoài, hoặc đối tượng phạm tội ở nước ngoài lẩn trốn vào Việt Nam.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Các công trình đã công bố trước đây chủ yếu tiếp cận từng lĩnh vực chuyên biệt như dẫn độ, tương trợ tư pháp về hình sự, chuyển giao người chấp hành án phạt tù hoặc hợp tác phòng, chống tội phạm theo góc độ nghiệp vụ chuyên ngành của lực lượng Công an nhân dân. Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện, đa ngành và có hệ thống về pháp luật hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tố tụng hình sự ở Việt Nam bao quát mọi giai đoạn tố tụng.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tố tụng hình sự ở Việt Nam; từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật trong lĩnh vực này. Để đạt được mục đích trên, luận án giải quyết bốn nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Khái quát tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong nước và ngoài nước có liên quan đến đề tài luận án; qua đó xác định những nội dung lý luận và thực tiễn cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu.
  2. Nghiên cứu dưới góc độ lý luận để xây dựng khái niệm, đặc điểm, xác định phạm vi, đối tượng điều chỉnh, các nguyên tắc của pháp luật về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tố tụng hình sự ở Việt Nam.
  3. Khái quát lịch sử hình thành, phát triển của pháp luật về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tố tụng hình sự ở Việt Nam; phân tích, đánh giá quy định hiện hành có so sánh với các điều ước quốc tế và kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia; đánh giá thực tiễn thực hiện, chỉ ra những vướng mắc, bất cập và nguyên nhân.
  4. Dự báo tình hình và các yếu tố tác động, đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tố tụng hình sự và nâng cao hiệu quả thực hiện tại Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu là hệ thống quy định pháp luật về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tố tụng hình sự ở Việt Nam trên ba phương diện: cơ sở lý luận; pháp luật thực định (đối chiếu, so sánh với pháp luật của 06 quốc gia đại diện cho các hệ thống pháp luật điển hình); và thực tiễn tổ chức thi hành các quy định pháp luật trên lãnh thổ Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian: Pháp luật Việt Nam (gồm pháp luật quốc nội và điều ước quốc tế có hiệu lực với Việt Nam) về hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự; tập trung vào thực tiễn thực hiện chức năng của các cơ quan điều tra, cơ quan thuộc Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Ngoại giao trên lãnh thổ Việt Nam.
  • Thời gian: Số liệu và thực tiễn thi hành pháp luật được thu thập, xử lý từ năm 2008 (thời điểm Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 có hiệu lực và quá trình thực hiện Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003) đến tháng 8 năm 2019; phần khái lược lịch sử pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam được nghiên cứu từ năm 1945 đến nay.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước có liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu.

Về tình hình nghiên cứu ở nước ngoài:

  • Christine Jojarth (2009) trong công trình Crime, War, and Global Trafficking: Designing International Cooperation (Cambridge University Press) phân tích mô hình, phạm vi và mức độ ràng buộc pháp lý trong thiết kế các hình thức hợp tác quốc tế phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia từ năm 1988 đến 2009.
  • Nhóm tác giả Gert Vermeulen, Wendy De Bondt và Charlotte Ryckman (Ed.) phân tích hệ thống pháp luật hợp tác tư pháp hình sự tại Liên minh châu Âu (EU) với độ dày 767 trang, chỉ rõ các biện pháp hoàn thiện pháp luật và tăng cường hợp tác trong và ngoài EU.
  • Tài liệu hướng dẫn của Cơ quan Phòng chống Ma túy và Tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC): Legislative guide for the implementation of the United Nations Convention against Corruption (2006) cung cấp hướng dẫn kỹ thuật thực thi Công ước UNCAC; Manual on Mutual Legal Assistance and Extradition (2012) phân tích các tiêu chuẩn và nghĩa vụ nội luật hóa quy định của Công ước UNTOC về tương trợ tư pháp hình sự và dẫn độ.
  • Nghiên cứu của Law Review (2016) về International cooperation in the investigation and prosecution of environmental crime luận giải cơ chế phối hợp tư pháp và hành chính trong điều tra tội phạm môi trường.
  • M. Cherif Bassiouni (1992) trong bài viết Policy considerations on inter-state cooperation in criminal matters phân tích thẩm quyền quốc gia và vai trò của điều ước quốc tế trong tư pháp hình sự.
  • Thomas Risse-Kappen (1999) trong công trình Bringing transnational relations back in nhấn mạnh quan hệ giữa các chủ thể nhà nước và ngoài nhà nước trong thể chế hóa quốc tế.
  • Sonny Shiu-Hing Lo (2009) nghiên cứu thực tiễn hợp tác phòng, chống tội phạm xuyên biên giới giữa Trung Quốc đại lục, Hồng Kông và Ma Cao.
  • Anne-Marie Slaughter, Andrew S. Tulumello, Stean Wood (1998) nghiên cứu cách tiếp cận liên ngành giữa luật quốc tế và lý luận quan hệ quốc tế.
  • Neil Boister và Robert J. Currie trong Routledge Handbook of Transnational Criminal Law nghiên cứu lý luận pháp luật hình sự và tố tụng hình sự đối với tội phạm xuyên quốc gia.

Về tình hình nghiên cứu ở trong nước:

  • Các sách chuyên khảo và giáo trình: TS. Đặng Xuân Khang (2014) nghiên cứu phòng, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia; Giáo trình Luật quốc tế của Đại học Luật Hà Nội (Chương XIV); sách tham khảo của Học viện Ngoại giao về lý luận quan hệ quốc tế; Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của Đại học Quốc gia Hà Nội do GS.TS. Nguyễn Ngọc Chí chủ biên (Chương 19); Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của Đại học Luật Hà Nội (Chương XVII).
  • Hệ thống công trình chuyên sâu do GS.TS. Nguyễn Ngọc Anh chủ biên hoặc đồng chủ biên: Dẫn độ - Những vấn đề lý luận và thực tiễn (đồng tác giả Nguyễn Việt Hồng, Nguyễn Thị Thu Hương); Hợp tác quốc tế phòng, chống tội phạm của lực lượng Cảnh sát nhân dân Việt Nam; Tương trợ tư pháp về hình sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn (đồng tác giả Nguyễn Văn Mạnh, Phạm Văn Công); Hợp tác quốc tế trong chuyển giao người bị kết án phạt tù (đồng tác giả Phạm Văn Công, Nguyễn Thị Thu Hương); Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (đồng chủ biên với LS.TS. Phan Trung Hoài, bình luận Chương XXXV và XXXVI); Sổ tay công tác dẫn độ; Đàm phán, ký kết Hiệp định về dẫn độ - Thực tiễn kinh nghiệm; tài liệu tập huấn Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và sự tham gia của Việt Nam.
  • Các công trình khác: Dương Minh Hào, Nguyễn Quốc Tuấn, Nguyễn Tiến Đạt nghiên cứu về các loại tội phạm xuyên quốc gia (Chương 16); Trần Phương Đạt và Nguyễn Đức Phúc (2006) nghiên cứu hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự Việt Nam giai đoạn trước năm 2006; Vương Dật Châu về an ninh quốc tế thời đại toàn cầu hóa; Nguyễn Hoàng Giáp về chính trị quốc tế.
  • Các luận án, luận văn: Luận án tiến sĩ của Ngô Hữu Phước (2009) về dẫn độ; luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thành Long (2005) về chế định hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự; luận án tiến sĩ của Lê Hồng Hải (2013) về hợp tác quốc tế của Cảnh sát Việt Nam trong ASEAN; luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Quế Thu (2015) về áp dụng điều ước quốc tế phòng, chống tội phạm.
  • Các bài báo khoa học trên Tạp chí TAND, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Tạp chí Luật học, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, và Tạp chí Kiểm sát số chuyên đề 24/2014 của các tác giả Nguyễn Giang Nam, Dương Tuyết Miên, Mai Thanh Hiếu, Nguyễn Khắc Hải, Nguyễn Thị Phương Hoa, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Văn Hùng, Trần Công Phàn, Lê Tiến, Mai Thế Bày, Vũ Quốc Thắng, Trần Thế Quân, Ngô Thị Quỳnh Anh, Kiều Phương Liên.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả lựa chọn giải quyết: Các tài liệu trước đây chủ yếu tập trung vào các chế định riêng lẻ hoặc giới hạn ở phạm vi một ngành, một lực lượng. Luận án xác định giải quyết khoảng trống về một công trình nghiên cứu tổng thể, tiếp cận liên ngành luật hình sự, tố tụng hình sự, công pháp quốc tế và quan hệ quốc tế, làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực tiễn thực hiện toàn diện các chế định hợp tác quốc tế trong mọi giai đoạn tố tụng hình sự theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Luật Tương trợ tư pháp năm 2007.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về đối ngoại, cải cách tư pháp và đấu tranh phòng, chống tội phạm (đặc biệt là Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020).

Khung lý thuyết và phân tích:

  • Khái niệm hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự: Tác giả dựa trên khoản 1 Điều 491 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, xác định đây là việc các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và các cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài phối hợp, hỗ trợ nhau thực hiện các hoạt động phục vụ yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
  • Nguyên tắc "pháp luật kép": Hoạt động hợp tác quốc tế vừa phải tuân thủ điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc nguyên tắc có đi có lại, vừa phải tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam. Trường hợp có sự khác biệt giữa luật trong nước và điều ước quốc tế thì ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế, trừ Hiến pháp.
  • Khung thẩm quyền tài phán quốc gia: Luận án phân tích thẩm quyền tài phán theo lãnh thổ và thẩm quyền vượt lãnh thổ dựa trên nguyên tắc quốc tịch và nguyên tắc bảo vệ quyền lợi quốc gia.
  • Phương pháp điều chỉnh: Luận án xác định ba phương pháp điều chỉnh của pháp luật về hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự gồm phương pháp quyền uy, phương pháp phối hợp - chế ước, và phương pháp ghi nhận (công nhận các mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan tiến hành tố tụng trong nước với cơ quan có thẩm quyền nước ngoài).

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được tác giả sử dụng:

  • Phương pháp tiếp cận liên ngành, đa ngành: Vận dụng kiến thức khoa học luật quốc tế, khoa học chính trị và quan hệ quốc tế để làm rõ quan hệ giữa quốc gia, điều ước quốc tế và pháp luật quốc nội (sử dụng ở Chương 1 và Chương 2).
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp, phân tích quy phạm và luật so sánh: Nghiên cứu nội dung các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế và đối chiếu với pháp luật của 06 quốc gia đại diện cho các hệ thống pháp luật điển hình (sử dụng trong tất cả các chương).
  • Phương pháp thống kê, tổng hợp: Phân tích số liệu thực tiễn tiếp nhận, xử lý các yêu cầu tương trợ tư pháp, dẫn độ, chuyển giao phạm nhân giai đoạn 2008 đến tháng 8/2019.
  • Phương pháp tiếp cận hệ thống: Xem xét tổng thể các chế định hợp tác quốc tế trong mối liên hệ hữu cơ giữa các giai đoạn tố tụng.
  • Phương pháp khảo sát thực tiễn: Tập hợp hồ sơ, tài liệu, văn bản nghiệp vụ, thông tin phỏng vấn chuyên đề trên Internet liên quan đến hoạt động tố tụng hình sự.
  • Phương pháp nghiên cứu điển hình: Nghiên cứu các hồ sơ ủy thác tư pháp hình sự, hồ sơ dẫn độ, chuyển giao người chấp hành án phạt tù, hồ sơ truy nã và bàn giao đối tượng cụ thể giữa Việt Nam và các quốc gia đối tác (sử dụng tại Chương 3).
  • Phương pháp dự báo khoa học: Dự báo diễn biến tội phạm có yếu tố nước ngoài và xu hướng lập pháp để đề xuất giải pháp ở Chương 4.
  • Phương pháp tư vấn chuyên gia: Thu thập, tổng hợp ý kiến từ các chuyên gia, cán bộ thực tiễn tại Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao thông qua các hội thảo, hội nghị tổng kết.

Nguồn dữ liệu: Luận án sử dụng dữ liệu báo cáo tổng kết thực tiễn của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Ngoại giao; các hiệp định song phương, điều ước quốc tế đa phương mà Việt Nam tham gia; văn bản pháp luật quốc nội từ năm 1945 đến năm 2019.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Chương này gồm ba tiểu mục chính: Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến luận án; Tình hình nghiên cứu ở trong nước; Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án. Tác giả phân tích các hệ thống công trình lý luận về tội phạm xuyên quốc gia, hợp tác tư pháp hình sự quốc tế và việc thực thi các điều ước quốc tế lớn (UNTOC, UNCAC). Luận án ghi nhận các kết quả đã đạt được từ các nghiên cứu trước đó về khái niệm, thẩm quyền, thủ tục trong các chế định đơn lẻ (dẫn độ, tương trợ tư pháp). Đồng thời, chương này xác lập sự cần thiết phải nghiên cứu một cách toàn diện khung pháp lý hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự Việt Nam, bao quát từ giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đến thi hành án hình sự trong bối cảnh thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Luật Tương trợ tư pháp năm 2007.

Chương 2. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC TỐ TỤNG HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Chương này tập trung vào hai nội dung lớn:

  1. Những vấn đề lý luận về pháp luật về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tố tụng hình sự ở Việt Nam: Tác giả làm rõ các khái niệm cơ bản, xác định đặc điểm, đối tượng điều chỉnh và ba phương pháp điều chỉnh (quyền uy, phối hợp - chế ước, ghi nhận). Luận án phân tích cơ sở xác định thẩm quyền tài phán quốc gia và nghĩa vụ hợp tác, gồm thẩm quyền theo lãnh thổ và thẩm quyền ngoài lãnh thổ (dựa trên nguyên tắc quốc tịch và nguyên tắc bảo vệ). Nội dung hợp tác quốc tế được hệ thống hóa qua bốn nhóm hoạt động chính: tương trợ tư pháp về hình sự; dẫn độ; tiếp nhận và chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; và các hoạt động hợp tác khác (phối hợp điều tra chung, biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, phong tỏa và thu hồi tài sản). Tác giả cũng phân tích vai trò, ý nghĩa của chế định này đối với việc thực thi chủ quyền quốc gia và hội nhập quốc tế.
  2. Pháp luật của nước ngoài về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tố tụng hình sự và một số kinh nghiệm có thể vận dụng ở Việt Nam: Nghiên cứu, so sánh mô hình pháp luật của 06 quốc gia đại diện cho các hệ thống pháp luật điển hình trên thế giới, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm về kỹ thuật lập pháp, phân định thẩm quyền và thủ tục thực thi.

Chương 3. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC TỐ TỤNG HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH

Chương này gồm bốn tiểu mục:

  1. Khái lược các giai đoạn lịch sử của pháp luật về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tố tụng hình sự ở Việt Nam: Phân tích tiến trình lập pháp từ năm 1945 qua các giai đoạn trước năm 2003, giai đoạn Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và giai đoạn Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
  2. Quy định pháp luật về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tố tụng hình sự ở Việt Nam: Phân tích cụ thể các điều khoản tại Phần thứ tám Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (gồm Chương XXXV với các quy định chung và Chương XXXVI với các hoạt động cụ thể), đối chiếu với Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
  3. Thực trạng thi hành pháp luật về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tố tụng hình sự ở Việt Nam thời gian qua: Luận án tổng hợp và trình bày các dữ liệu thực tế về tình hình ký kết điều ước quốc tế và kết quả giải quyết các yêu cầu tố tụng hình sự.
  4. Nhận xét, đánh giá chung: Phân tích những kết quả đạt được, làm rõ các bất cập, vướng mắc trong hệ thống pháp luật thực định và khâu tổ chức thực hiện, đồng thời chỉ ra các nguyên nhân chủ quan, khách quan.

Dưới đây là bảng tổng hợp các số liệu thực tế được nêu trong luận án:

Nội dung dữ liệu thực tế Số lượng / Tỷ lệ ghi nhận Ghi chú văn bản
Điều ước quốc tế đa phương về TTTPHS Việt Nam là thành viên 22 điều ước Tính đến tháng 8/2019
Điều ước quốc tế song phương về TTTPHS Việt Nam đã ký kết 28 điều ước Tính đến tháng 8/2019
Điều ước quốc tế song phương về dẫn độ đã ký kết 23 điều ước Tính đến tháng 8/2019
Điều ước quốc tế đa phương về dẫn độ Việt Nam tham gia 22 điều ước Tính đến tháng 8/2019
Điều ước quốc tế song phương và đa phương về chuyển giao người bị kết án phạt tù 17 điều ước Tính đến tháng 8/2019
Hồ sơ, công văn TTTPHS do nước ngoài chuyển đến Việt Nam Hàng nghìn lượt Tính đến tháng 6/2019
Hồ sơ, công văn TTTPHS Việt Nam gửi nước ngoài hỗ trợ Gần 1.200 lượt 90% liên quan nước đã ký Hiệp định
Hồ sơ yêu cầu dẫn độ do Việt Nam lập và chuyển ra nước ngoài 35 hồ sơ 07 yêu cầu được chấp nhận; 04 bị từ chối
Yêu cầu dẫn độ từ nước ngoài vào Việt Nam tiếp nhận, giải quyết 23 yêu cầu 73,5% thực hiện theo nguyên tắc có đi có lại
Hồ sơ yêu cầu chuyển giao phạm nhân cho nước ngoài tiếp nhận 61 hồ sơ Đã chuyển giao 16; 07 chờ quyết định
Yêu cầu chuyển giao công dân Việt Nam chấp hành án ở nước ngoài về nước 16 yêu cầu Đã tiếp nhận 04; 23,3% theo nguyên tắc có đi có lại
Vụ án có yếu tố nước ngoài có tổ chức xuyên quốc gia khởi tố, điều tra 1.260 vụ án Trong 10 năm qua (số liệu Bộ Công an)
Tổng số bị can bị bắt giữ trong các vụ án có tổ chức xuyên quốc gia 2.041 bị can Gồm 692 đối tượng là người nước ngoài
Lượt khách làm thủ tục xuất nhập cảnh (giai đoạn 2010 - 2018) Nhập: >84 triệu lượt; Xuất: gần 85 triệu lượt 81% qua đường hàng không quốc tế

Chương 4. HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC TỐ TỤNG HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM

Chương này gồm ba tiểu mục:

  1. Dự báo tình hình: Phân tích xu hướng phát triển của tội phạm xuyên quốc gia, các nhân tố kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế và định hướng phát triển pháp luật quốc tế tác động đến Việt Nam.
  2. Phương hướng, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về hoàn thiện pháp luật về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tố tụng hình sự: Bám sát các chỉ đạo về cải cách tư pháp, bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia và cam kết quốc tế.
  3. Giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tố tụng hình sự và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật: Đề xuất các giải pháp lập pháp như sửa đổi Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 (tách thành các luật chuyên biệt hoặc hoàn thiện quy định về TTTPHS, dẫn độ, chuyển giao người chấp hành án phạt tù); xây dựng và áp dụng các hiệp định mẫu của Việt Nam (Hiệp định mẫu về dẫn độ, Hiệp định mẫu về TTTPHS, Hiệp định mẫu về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù); hoàn thiện cơ chế phân công, phối hợp giữa Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Ngoại giao; nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ tiến hành tố tụng.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về lý luận và thực tiễn:

Về lý luận:

  • Xây dựng và làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò và các nguyên tắc pháp lý của pháp luật về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tố tụng hình sự ở Việt Nam; tiếp cận liên ngành để phân tích các yếu tố tác động đến quá trình hợp tác.
  • Hệ thống hóa các giai đoạn lịch sử hình thành, phát triển của chế định hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay.
  • Phân tích và làm rõ cơ sở lý luận về phân định thẩm quyền tài phán quốc gia (lãnh thổ, ngoài lãnh thổ), nguyên tắc "pháp luật kép", nguyên tắc có đi có lại và các hình thức hợp tác quốc tế cụ thể trong từng giai đoạn tố tụng.

Về thực tiễn:

  • Khái quát và đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật, tổng kết các số liệu thực tế về việc đàm phán, ký kết điều ước quốc tế cũng như xử lý các yêu cầu tương trợ tư pháp hình sự, dẫn độ, tiếp nhận và chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam giai đoạn 2008 đến tháng 8/2019.
  • Chỉ ra những bất cập, xung đột và khoảng trống trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành (như mối quan hệ giữa Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Luật Tương trợ tư pháp năm 2007) cùng các hạn chế trong cơ chế phối hợp liên ngành.
  • Đề xuất hệ thống các giải pháp hoàn thiện pháp luật mang tính khả thi, bao gồm việc đề xuất xây dựng các dự thảo hiệp định mẫu của Việt Nam về dẫn độ, tương trợ tư pháp về hình sự và chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; kiến nghị kiện toàn bộ máy và nâng cao năng lực thực thi cho các cơ quan chức năng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế:

  • Phạm vi khảo sát thực tiễn của luận án giới hạn chủ yếu tại các cơ quan chức năng cấp trung ương (Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Ngoại giao).
  • Mốc dữ liệu thống kê thực tiễn dừng lại ở thời điểm tháng 8 năm 2019, chưa phản ánh được đầy đủ thực tiễn áp dụng trong giai đoạn sau năm 2019 khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đi vào thi hành đồng bộ trong thời gian dài hơn.
  • Việc nghiên cứu luật so sánh mới giới hạn ở phạm vi 06 quốc gia đại diện.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu thực tiễn tại các cơ quan tiến hành tố tụng cấp địa phương, đặc biệt là các tỉnh có đường biên giới trên đất liền và trên biển.
  • Cập nhật và đánh giá thực tiễn thi hành các quy định mới của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 trong giai đoạn sau năm 2019.
  • Đi sâu nghiên cứu các phương thức hợp tác quốc tế mới phát sinh như thu thập chứng cứ điện tử xuyên biên giới, hợp tác điều tra đặc biệt và cơ chế phối hợp công nhận các phán quyết tịch thu tài sản do phạm tội mà có ở nước ngoài.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho các đối tượng và mục đích cụ thể:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự, Luật quốc tế: Tham khảo khung lý luận, lịch sử lập pháp và phương pháp tiếp cận so sánh luật học đối với chế định hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự.
  • Cơ quan lập pháp và các ban ngành xây dựng chính sách (Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao): Tham khảo các luận cứ khoa học để sửa đổi, hoàn thiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, hướng dẫn thi hành Phần thứ tám Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, hoặc sử dụng các bản dự thảo Hiệp định mẫu (về dẫn độ, tương trợ tư pháp hình sự, chuyển giao phạm nhân) phục vụ công tác đàm phán quốc tế.
  • Đội ngũ cán bộ làm công tác thực tiễn tại các cơ quan điều tra, cơ quan kiểm sát, tòa án và ngoại giao: Tham khảo quy trình, trình tự, thủ tục xử lý các vụ việc cụ thể về ủy thác tư pháp hình sự, lập hồ sơ dẫn độ và chuyển giao phạm nhân.

Câu hỏi thường gặp

1. Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự được định nghĩa như thế nào theo pháp luật Việt Nam? Theo khoản 1 Điều 491 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự là việc các cơ quan có thẩm quyền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài phối hợp, hỗ trợ nhau để thực hiện hoạt động phục vụ yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.

2. Tính đến tháng 8/2019, Việt Nam đã ký kết và tham gia bao nhiêu điều ước quốc tế về các lĩnh vực hợp tác tư pháp hình sự? Theo thống kê trong luận án, Việt Nam đã là thành viên của 22 điều ước quốc tế đa phương, ký kết 28 điều ước quốc tế song phương về tương trợ tư pháp về hình sự; ký kết 23 điều ước quốc tế song phương và tham gia 22 điều ước quốc tế đa phương về dẫn độ; tham gia 17 điều ước quốc tế song phương và đa phương về hợp tác trong chuyển giao người bị kết án phạt tù.

3. Kết quả xử lý các hồ sơ yêu cầu dẫn độ của Việt Nam đến tháng 6/2019 được ghi nhận như thế nào? Việt Nam đã lập và chuyển 35 hồ sơ yêu cầu dẫn độ đối tượng từ nước ngoài về Việt Nam (trong đó 07 yêu cầu được chấp nhận và đã dẫn độ về nước, 04 yêu cầu bị từ chối); đồng thời tiếp nhận và giải quyết 23 yêu cầu dẫn độ đối tượng từ Việt Nam ra nước ngoài, với 73,5% tổng số yêu cầu gửi và nhận được thực hiện theo nguyên tắc có đi có lại.

4. Khung pháp lý Việt Nam quy định hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự bao gồm những hoạt động cụ thể nào? Khoản 2 Điều 491 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định các hoạt động gồm: tương trợ tư pháp về hình sự; dẫn độ; tiếp nhận, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; và các hoạt động hợp tác quốc tế khác theo quy định của Bộ luật, pháp luật về tương trợ tư pháp và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

5. Thực tiễn chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đến tháng 6/2019 đạt những con số nào? Việt Nam đã tiếp nhận 61 hồ sơ yêu cầu chuyển giao phạm nhân cho phía nước ngoài (đã bàn giao 16 đối tượng, 07 đối tượng đang chờ quyết định); tiếp nhận 16 yêu cầu chuyển công dân Việt Nam đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về nước (đã tiếp nhận 04 đối tượng; 23,3% tổng số yêu cầu thực hiện theo nguyên tắc có đi có lại).

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Pháp luật về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay" đã nghiên cứu một cách có hệ thống cơ sở lý luận, lịch sử hình thành và thực trạng quy định pháp luật cũng như thực tiễn thi hành tại Việt Nam. Tác giả đã xử lý các nguồn dữ liệu thực tế từ cơ quan điều tra, kiểm sát, tòa án và ngoại giao trong giai đoạn 2008 đến tháng 8/2019 để làm rõ kết quả đạt được, chỉ ra những vướng mắc, bất cập của hệ thống văn bản pháp luật hiện hành. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất các phương hướng và giải pháp cụ thể, bao gồm việc xây dựng các hiệp định mẫu nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia.