Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Pháp luật về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay" do nghiên cứu sinh Phạm Văn Công thực hiện năm 2019 tại Hà Nội, thuộc chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, tình hình an ninh phi truyền thống cùng tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia diễn biến ngày càng phức tạp. Theo nghiên cứu của Liên hợp quốc được tác giả trích dẫn, thị trường bất hợp pháp hàng năm của hoạt động phạm tội có tổ chức xuyên quốc gia ước đạt 1,6 đến 2,2 nghìn tỷ đô la Mỹ trên phạm vi toàn cầu và khoảng 100 tỷ đô la Mỹ tại khu vực Đông Nam Á. Tình trạng đối tượng phạm tội trong nước bỏ trốn ra nước ngoài hoặc đối tượng phạm tội ở nước ngoài lẩn trốn vào Việt Nam đặt ra yêu cầu cấp thiết phải củng cố các thiết chế hợp tác quốc tế (HTQT) trong tố tụng hình sự (TTHS). Mặc dù các quy định về tương trợ tư pháp hình sự (TTTPHS), dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đã từng bước được ghi nhận trong Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003, BLTTHS năm 2015 và Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn thi hành vẫn bộc lộ nhiều khó khăn, vướng mắc. Khoảng trống nghiên cứu được xác định là sự thiếu vắng một công trình khoa học nghiên cứu toàn diện, mang tính hệ thống và liên ngành điều chỉnh toàn bộ các hoạt động HTQT trong tất cả các giai đoạn của quá trình TTHS tại Việt Nam.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về HTQT trong lĩnh vực TTHS ở Việt Nam; từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thực thi trong giai đoạn tiếp theo.
Để đạt được mục đích trên, luận án giải quyết 4 nhiệm vụ cụ thể:
- Khái quát tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế có liên quan; xác định các nội dung lý luận và thực tiễn cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu.
- Xây dựng khái niệm, đặc điểm, xác định phạm vi, đối tượng điều chỉnh và các nguyên tắc của pháp luật về HTQT trong lĩnh vực TTHS dưới góc độ lý luận.
- Khái quát lịch sử hình thành, phát triển của pháp luật về HTQT trong TTHS ở Việt Nam; phân tích, đánh giá quy định hiện hành, đối chiếu với điều ước quốc tế (ĐƯQT) và kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia; đánh giá thực trạng thi hành pháp luật từ năm 2008 đến tháng 8/2019, chỉ rõ những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân.
- Dự báo tình hình, các yếu tố tác động và đề xuất các nhóm giải pháp góp phần hoàn thiện quy định pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về HTQT trong TTHS tại Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thống quy định pháp luật về HTQT trong lĩnh vực TTHS tại Việt Nam, tiếp cận đồng thời trên 3 phương diện: phương diện lý luận (cơ sở lý thuyết của pháp luật HTQT trong TTHS), phương diện pháp luật thực định (quy định pháp luật Việt Nam hiện hành so sánh với 06 quốc gia đại diện cho các hệ thống pháp luật điển hình) và phương diện thực thi pháp luật (thực tiễn tổ chức thi hành trên lãnh thổ Việt Nam).
Phạm vi nghiên cứu được xác lập như sau:
- Về không gian: Pháp luật Việt Nam (pháp luật trong nước và các ĐƯQT có hiệu lực đối với Việt Nam); thực tiễn thi hành tập trung vào chức năng của các cơ quan chức năng thuộc Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC), Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) và Bộ Ngoại giao trên lãnh thổ Việt Nam.
- Về thời gian: Số liệu và thực tiễn thi hành pháp luật được khảo sát từ năm 2008 (thời điểm Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 có hiệu lực thi hành và gắn với BLTTHS năm 2003) đến tháng 8/2019; riêng phần khái lược lịch sử lập pháp TTHS Việt Nam được khảo cứu xuyên suốt từ năm 1945 đến thời điểm bảo vệ luận án.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan trực tiếp đến đề tài:
Về tài liệu quốc tế:
- Nhóm công trình về mô hình hợp tác và cơ chế ràng buộc: Christine Jojarth (2009) trong Crime, War, and Global Trafficking: Designing International Cooperation (Cambridge University Press) phân tích lý thuyết lựa chọn mô hình và mức độ ràng buộc pháp lý trong HTQT phòng, chống tội phạm (PCTP) từ năm 1988 đến 2009. Gert Vermeulen, Wendy De Bondt và Charlotte Ryckman phân tích hệ thống pháp luật về hợp tác tư pháp hình sự trong và ngoài Liên minh châu Âu (EU).
- Nhóm cẩm nang và hướng dẫn thực thi của Liên hợp quốc: Cơ quan Phòng chống Ma túy và Tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC) ban hành Legislative guide for the implementation of the United Nations Convention against Corruption (2006) hướng dẫn thực thi Công ước UNCAC và Manual on Mutual Legal Assistance and Extradition (2012) hướng dẫn thực thi Công ước UNTOC về TTTPHS và dẫn độ.
- Nhóm công trình chuyên sâu theo lĩnh vực và quan hệ quốc tế: M. Cherif Bassiouni (1992) trong bài viết Policy considerations on inter-state cooperation in criminal matters (Pace International Law Review) nghiên cứu các hình thức hợp tác liên quốc gia về hình sự. Thomas Risse-Kappen (1999) trong Bringing transnational relations back in khảo cứu vai trò của các thể chế và chủ thể phi nhà nước tác động đến chính sách HTQT. Sonny Shiu-Hing Lo (2009) trong The Politics of Cross-border Crime in Greater China phân tích hợp tác tư pháp giữa Trung Quốc đại lục, Hồng Kông và Ma Cao. Anne-Marie Slaughter, Andrew S. Tulumello, Stean Wood (1998) nghiên cứu cách tiếp cận liên ngành giữa luật quốc tế và lý luận quan hệ quốc tế. Neil Boister và Robert J. Currie trong Routledge Handbook of Transnational Criminal Law nghiên cứu lý luận hình sự đối với tội phạm xuyên quốc gia.
Về tài liệu trong nước:
- Nhóm giáo trình và nghiên cứu lý luận cơ bản: Đại học Luật Hà Nội với Giáo trình Luật quốc tế (Chương XIV về hợp tác PCTP) và Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam (Chương XVII về HTQT trong TTHS); Học viện Ngoại giao với cuốn Lý luận quan hệ quốc tế; Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên) với Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam (Chương 19) và công trình Những vấn đề lý luận, thực tiễn về Luật hình sự quốc tế; Nguyễn Hoàng Giáp (chủ biên) với Một số vấn đề chính trị quốc tế trong giai đoạn hiện nay.
- Nhóm công trình chuyên khảo chuyên sâu về từng chế định: Đặng Xuân Khang (2013) trong cuốn sách chuyên khảo Phòng, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia trong thời kỳ hội nhập quốc tế (NXB CAND); Nguyễn Ngọc Anh (chủ biên) và các nhóm tác giả qua hàng loạt công trình chuyên khảo như Dẫn độ - Những vấn đề lý luận và thực tiễn (đồng tác giả Nguyễn Việt Hồng), Hợp tác quốc tế phòng, chống tội phạm của lực lượng Cảnh sát nhân dân Việt Nam, Tương trợ tư pháp về hình sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn (đồng tác giả Nguyễn Văn Mạnh, Phạm Văn Công), Hợp tác quốc tế trong chuyển giao người bị kết án phạt tù (đồng tác giả Phạm Văn Công, Nguyễn Thị Thu Hương), Sổ tay công tác dẫn độ, Đàm phán, ký kết Hiệp định về dẫn độ - Thực tiễn kinh nghiệm, Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và sự tham gia của Việt Nam, cùng công trình Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (đồng chủ biên với Phan Trung Hoài); Trần Phương Đạt và Nguyễn Đức Phúc với Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự Việt Nam (2006); Dương Minh Hào, Nguyễn Quốc Tuấn, Nguyễn Tiến Đạt với Các loại tội phạm xuyên quốc gia.
- Nhóm luận án, luận văn và bài báo chuyên ngành: Luận án tiến sĩ của Ngô Hữu Phước về dẫn độ trong luật quốc tế và pháp luật Việt Nam (2011); luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thành Long về chế định HTQT trong luật TTHS Việt Nam (2006); luận án tiến sĩ của Lê Hồng Hải về HTQT của Cảnh sát Việt Nam với Cảnh sát các nước ASEAN (2012); luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Quế Thu về áp dụng ĐƯQT về PCTP (2014); các bài báo tạp chí chuyên ngành của Nguyễn Giang Nam, Dương Tuyết Miên, Mai Thanh Hiếu, Nguyễn Khắc Hải, Nguyễn Thị Phương Hoa, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Ngọc Chí cùng các tác giả trong số chuyên đề Tạp chí Kiểm sát (12/2014) và Tạp chí Tòa án nhân dân.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Hầu hết các công trình trước đây chỉ tiếp cận từng chế định đơn lẻ (hoặc chỉ dẫn độ, hoặc chỉ TTTPHS, hoặc chỉ chuyển giao phạm nhân) hoặc chỉ khảo sát hoạt động của một lực lượng cụ thể trong một giai đoạn tố tụng nhất định trước khi BLTTHS năm 2015 được ban hành. Luận án này là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống các quy phạm pháp luật về HTQT xuyên suốt tất cả các giai đoạn TTHS (khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án) theo quy định của BLTTHS năm 2015 và Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, kết hợp phương pháp tiếp cận liên ngành luật học, quan hệ quốc tế và khoa học chính trị.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Việt Nam về công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế, cải cách tư pháp và phòng, chống tội phạm (đặc biệt là tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020).
Khung lý thuyết và khái niệm trung tâm:
- Khái niệm quy phạm: Luận án sử dụng định nghĩa tại khoản 1 Điều 491 BLTTHS năm 2015: "HTQT trong TTHS là việc các cơ quan có thẩm quyền của nước CHXHCN Việt Nam và các cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài phối hợp, hỗ trợ nhau để thực hiện hoạt động phục vụ yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự".
- Nguyên tắc áp dụng: Nguyên tắc "pháp luật kép" (vừa tuân thủ pháp luật quốc tế, ĐƯQT hoặc nguyên tắc có đi có lại, vừa tuân thủ pháp luật quốc gia), nguyên tắc tôn trọng chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ và nguyên tắc tội phạm kép.
- Thẩm quyền tài phán: Tiếp cận lý thuyết thẩm quyền quốc gia trong công pháp quốc tế, phân định thẩm quyền theo lãnh thổ, thẩm quyền theo quốc tịch và thẩm quyền vượt ngoài lãnh thổ dựa trên nguyên tắc bảo vệ lợi ích quốc gia đối với các tội phạm xuyên quốc gia.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp tiếp cận liên ngành, đa ngành: Kết hợp tri thức khoa học pháp lý hình sự, công pháp quốc tế, quan hệ quốc tế và khoa học chính trị để phân tích các yếu tố tác động, bản chất mối quan hệ giữa ĐƯQT và nội luật trong bối cảnh toàn cầu hóa (sử dụng chủ yếu tại Chương 1 và Chương 2).
- Phương pháp phân tích, tổng hợp và phân tích quy phạm pháp luật: Mổ xẻ các điều luật trong BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 và các văn bản liên quan để làm rõ cấu trúc, nội dung và sự tương thích của các quy phạm.
- Phương pháp pháp luật so sánh: Đối chiếu quy định của pháp luật Việt Nam với các ĐƯQT đa phương (UNTOC, UNCAC) và hệ thống pháp luật của 06 quốc gia điển hình đại diện cho các truyền thống pháp luật lớn trên thế giới nhằm rút ra bài học kinh nghiệm.
- Phương pháp thống kê, tổng hợp: Phân tích số liệu thực tiễn công tác tiếp nhận, xử lý yêu cầu TTTPHS, dẫn độ, chuyển giao người chấp hành án phạt tù, cũng như tình hình tội phạm có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn 2008 - 8/2019.
- Phương pháp khảo sát thực tiễn và nghiên cứu điển hình: Thu thập tài liệu, khảo sát nhận thức cán bộ thực tiễn; phân tích sâu các vụ việc điển hình về ủy thác tư pháp hình sự, dẫn độ, chuyển giao phạm nhân, truy nã và bàn giao đối tượng phạm tội xuyên quốc gia giữa Việt Nam và các nước đối tác.
- Phương pháp tư vấn chuyên gia: Thu thập, phân tích ý kiến đóng góp của các chuyên gia, nhà khoa học và cán bộ hoạt động thực tiễn tại Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, VKSNDTC và TANDTC qua các hội thảo chuyên đề.
- Phương pháp dự báo khoa học: Đánh giá xu hướng vận động của tội phạm xuyên quốc gia và tiến trình hội nhập quốc tế để xây dựng phương hướng hoàn thiện thể chế đến năm 2030 (sử dụng tại Chương 4).
Nguồn dữ liệu của luận án bao gồm: Các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam từ năm 1945 đến 2019; hệ thống các ĐƯQT đa phương và song phương mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập; báo cáo tổng kết thực tiễn của Bộ Công an, VKSNDTC, TANDTC; số liệu thống kê xuất nhập cảnh và hồ sơ nghiệp vụ xử lý các yêu cầu hợp tác tư pháp hình sự giai đoạn 2008 - 8/2019.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 1 tiến hành rà soát toàn diện các công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan đến hợp tác quốc tế trong tư pháp hình sự.
Tác giả phân tích các khuynh hướng nghiên cứu quốc tế từ bình diện thiết kế thể chế (Christine Jojarth), thực thi các công ước quốc tế đa phương UNTOC và UNCAC (UNODC), cho đến các mô hình hợp tác đa phương tại Liên minh châu Âu (Gert Vermeulen và cộng sự). Ở trong nước, chương này hệ thống hóa các nghiên cứu chuyên sâu của GS.TS Nguyễn Ngọc Anh, TS. Đặng Xuân Khang, PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí cùng các luận án, bài báo khoa học về dẫn độ, TTTPHS và chuyển giao phạm nhân.
Qua đánh giá tổng quan, tác giả khẳng định các nghiên cứu trước đây đã tạo tiền đề lý luận quan trọng nhưng còn phân tán theo từng chế định cụ thể hoặc chỉ tiếp cận dưới góc độ nghiệp vụ chuyên ngành hẹp. Chương 1 chỉ ra 4 khoảng trống khoa học cần luận án tiếp tục giải quyết: (1) Xây dựng lý luận tổng thể, liên ngành về pháp luật HTQT trong TTHS; (2) So sánh, đối chiếu nội luật Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế và pháp luật một số nước; (3) Khảo cứu toàn diện thực tiễn thi hành theo quy định của BLTTHS năm 2015 và Luật Tương trợ tư pháp năm 2007; (4) Xây dựng hệ thống giải pháp lập pháp đồng bộ, bao gồm việc xây dựng các dự thảo hiệp định mẫu.
Chương 2. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC TỐ TỤNG HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Chương 2 làm rõ các khái niệm nền tảng, bản chất, đặc điểm, đối tượng và phương pháp điều chỉnh của pháp luật về HTQT trong TTHS:
- Khái niệm và 5 đặc điểm cơ bản: Pháp luật về HTQT trong TTHS là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ phối hợp, hỗ trợ giữa các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và nước ngoài trong việc giải quyết các vụ án hình sự. Năm đặc điểm bản chất gồm: (1) Mang tính chất quan hệ đối ngoại pháp lý gắn liền với nguyên tắc có đi có lại, nguyên tắc tội phạm kép và tôn trọng chủ quyền; (2) Có tính quy phạm bắt buộc chuẩn mực đối với các chủ thể tiến hành tố tụng; (3) Thể hiện tính quyền lực nhà nước; (4) Đòi hỏi tính tuân thủ nghiêm ngặt theo trình tự luật định nhằm tránh tác động tiêu cực đến ngoại giao; (5) Được bảo đảm thực hiện bằng bộ máy cơ quan có thẩm quyền chuyên trách (Công an, Kiểm sát, Tòa án, Ngoại giao).
- Đối tượng điều chỉnh: Bao gồm quan hệ phân định thẩm quyền tài phán quốc gia (thẩm quyền lãnh thổ, thẩm quyền quốc tịch, thẩm quyền bảo vệ vượt lãnh thổ) và quan hệ phát sinh trong 4 nhóm hoạt động cụ thể xuyên suốt các giai đoạn TTHS: TTTPHS; dẫn độ; tiếp nhận và chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; các hoạt động HTQT khác (phối hợp điều tra chung, áp dụng biện pháp điều tra đặc biệt, bảo vệ nhân chứng, thu hồi tài sản).
- Phương pháp điều chỉnh: Sử dụng kết hợp phương pháp quyền uy (áp dụng trong cưỡng chế tố tụng), phương pháp phối hợp - chế ước (giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong nước) và phương pháp ghi nhận/công nhận (công nhận hiệu lực của các quyết định, bản án, ủy thác tư pháp từ phía cơ quan có thẩm quyền nước ngoài phù hợp với ĐƯQT và luật pháp trong nước).
- Kinh nghiệm quốc tế: Khảo sát pháp luật về hợp tác tư pháp hình sự của 06 quốc gia đại diện cho các hệ thống luật lục địa (Civil Law), thông luật (Common Law) và các nước trong khu vực, rút ra bài học kinh nghiệm về kỹ thuật lập pháp và phân định thẩm quyền cơ quan đầu mối trung ương.
Chương 3. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC TỐ TỤNG HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
Chương 3 phân tích tiến trình lịch sử lập pháp từ năm 1945, đánh giá thực trạng các quy định hiện hành trong BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 và tổng kết số liệu thực tiễn thi hành từ năm 2008 đến tháng 8/2019.
Tác giả chỉ rõ bước phát triển lập pháp qua các thời kỳ: BLTTHS năm 2003 lần đầu tiên pháp điển hóa chế định HTQT tại 2 chương (Chương 36, 37 với 7 điều luật); BLTTHS năm 2015 đã mở rộng lên 18 điều luật (Phần thứ tám, gồm Chương XXXV và Chương XXXVI), bổ sung nhiều quy định tiến bộ về cơ quan đầu mối, giá trị chứng cứ thu thập qua tương trợ tư pháp, và các hoạt động điều tra chung.
Thực tiễn ký kết ĐƯQT và xử lý các yêu cầu hợp tác quốc tế được luận án thống kê chi tiết qua bảng tổng hợp sau:
| Danh mục chỉ tiêu hoạt động HTQT trong TTHS |
Số liệu thực tế ghi nhận trong văn bản |
| Số lượng ĐƯQT đa phương về TTTPHS, dẫn độ, chuyển giao phạm nhân VN tham gia |
22 ĐƯQT đa phương (đến tháng 8/2019) |
| Số lượng ĐƯQT song phương về TTTPHS đã ký kết |
28 ĐƯQT song phương (đến tháng 8/2019) |
| Số lượng ĐƯQT song phương về dẫn độ đã ký kết |
23 ĐƯQT song phương (đến tháng 8/2019) |
| Số lượng ĐƯQT đa phương về dẫn độ mà VN là thành viên |
22 ĐƯQT đa phương (đến tháng 8/2019) |
| Số lượng ĐƯQT song phương và đa phương về chuyển giao người bị kết án phạt tù |
17 ĐƯQT song phương và đa phương (đến tháng 8/2019) |
| Hồ sơ, công văn TTTPHS gửi nước ngoài đề nghị hỗ trợ (đến tháng 6/2019) |
Gần 1.200 lượt (trong đó 90% gửi đến các nước đã ký Hiệp định) |
| Hồ sơ yêu cầu dẫn độ do Việt Nam lập, chuyển ra nước ngoài |
35 hồ sơ (07 yêu cầu được chấp nhận và đã dẫn độ về VN; 04 bị từ chối) |
| Hồ sơ yêu cầu dẫn độ từ nước ngoài gửi đến Việt Nam tiếp nhận, giải quyết |
23 yêu cầu (tổng số 73,5% yêu cầu nhận và gửi theo nguyên tắc có đi có lại) |
| Hồ sơ yêu cầu chuyển giao phạm nhân cho phía nước ngoài |
61 hồ sơ (đã chuyển giao 16 đối tượng; 07 đối tượng đang chờ quyết định) |
| Hồ sơ nước ngoài đề nghị chuyển công dân VN về nước tiếp tục chấp hành án |
16 yêu cầu (đã tiếp nhận 04 đối tượng; 23,3% tổng số theo nguyên tắc có đi có lại) |
| Vụ án hình sự có tổ chức, xuyên quốc gia do Bộ Công an xử lý (10 năm) |
1.260 vụ án với 2.041 bị can bị bắt giữ (trong đó có 692 đối tượng người nước ngoài) |
| Lượng khách xuất nhập cảnh được kiểm soát (giai đoạn 2010 - 2018) |
Nhập cảnh: >84 triệu lượt; Xuất cảnh: gần 85 triệu lượt (81% qua đường hàng không) |
Đánh giá thực trạng cho thấy, công tác HTQT trong TTHS đã đạt nhiều kết quả tích cực, bảo đảm yêu cầu đối ngoại và đấu tranh PCTP. Tuy nhiên, luận án chỉ ra các hạn chế lớn: Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 điều chỉnh chung cả 4 lĩnh vực (dân sự, hình sự, dẫn độ, chuyển giao phạm nhân) dẫn đến sự chồng chéo, phân tán thẩm quyền đầu mối; quy trình xử lý hồ sơ ủy thác còn chậm; cơ chế trao đổi thông tin và áp dụng các biện pháp điều tra đặc biệt chưa đồng bộ.
Chương 4. HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC TỐ TỤNG HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM
Chương 4 đưa ra các dự báo khoa học về diễn biến tội phạm có yếu tố nước ngoài, quán triệt phương hướng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp cụ thể:
- Dự báo tình hình và định hướng: Tội phạm công nghệ cao, rửa tiền, khủng bố và buôn bán người tiếp tục gia tăng phương thức tinh vi; đòi hỏi thể chế TTHS phải phù hợp với tiến trình cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế theo Nghị quyết 49-NQ/TW.
- Nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế pháp luật:
- Tách Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 thành các đạo luật chuyên biệt: xây dựng Luật Tương trợ tư pháp về hình sự, Luật Dẫn độ và Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
- Sửa đổi, bổ sung đồng bộ các điều khoản trong BLTTHS năm 2015 nhằm cụ thể hóa trình tự phối hợp điều tra chung, bảo vệ nhân chứng và thu thập chứng cứ điện tử xuyên biên giới.
- Xây dựng và ban hành các Hiệp định mẫu của Việt Nam về dẫn độ (Bảng 12), Hiệp định mẫu về TTTPHS (Bảng 13) và Hiệp định mẫu về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù (Bảng 14) để chủ động trong công tác đàm phán quốc tế.
- Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi:
- Tăng cường phân định trách nhiệm và nâng cao năng lực cơ quan đầu mối trung ương (Bộ Công an, VKSNDTC, Bộ Tư pháp, TANDTC, Bộ Ngoại giao).
- Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ và kỹ năng pháp lý quốc tế cho đội ngũ điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán.
- Đẩy mạnh ký kết các hiệp định song phương với các quốc gia có đông công dân Việt Nam sinh sống hoặc có tuyến tội phạm phức tạp.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án mang lại các đóng góp mới về lý luận và thực tiễn:
Về mặt lý luận:
- Xây dựng hệ thống khái niệm, xác định rõ các đặc trưng bản chất, vai trò, vị trí của pháp luật về HTQT trong TTHS ở Việt Nam dưới góc độ liên ngành giữa luật hình sự, tố tụng hình sự, công pháp quốc tế và quan hệ quốc tế.
- Làm rõ cấu trúc của quan hệ pháp luật HTQT trong TTHS, bao gồm thẩm quyền tài phán quốc gia (lãnh thổ, quốc tịch, bảo vệ ngoài lãnh thổ) và các phương pháp điều chỉnh đặc thù (quyền uy, phối hợp - chế ước, ghi nhận).
Về mặt thực tiễn:
- Khái quát hóa tiến trình lập pháp TTHS của Việt Nam từ năm 1945 đến 2019 đối với các quy phạm hợp tác quốc tế.
- Hệ thống hóa, phân tích toàn diện số liệu thực tiễn thi hành pháp luật trong giai đoạn 2008 - 8/2019 dựa trên hồ sơ thực tế tại các cơ quan tư pháp và ngoại giao; chỉ rõ các điểm nghẽn trong tiếp nhận và xử lý yêu cầu TTTPHS, dẫn độ và chuyển giao phạm nhân.
- Đề xuất hệ thống giải pháp khả thi, bao gồm phương án lập pháp (tách Luật Tương trợ tư pháp năm 2007) và trực tiếp xây dựng 03 dự thảo Hiệp định mẫu (về dẫn độ, TTTPHS, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù) làm cơ sở cho hoạt động đàm phán song phương của Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Về phạm vi cơ quan khảo sát: Do tính chất bảo mật nghiệp vụ và giới hạn tiếp cận thông tin, dữ liệu thực tiễn tập trung chủ yếu vào các cơ quan chức năng ở cấp Trung ương (Bộ Công an, VKSNDTC, TANDTC, Bộ Ngoại giao) mà chưa bao quát hết thực tiễn xử lý tại tất cả các cơ quan tiến hành tố tụng cấp địa phương.
- Về phạm vi thời gian số liệu: Số liệu khảo sát thực tiễn thi hành dừng lại ở mốc tháng 8/2019, thời điểm BLTTHS năm 2015 mới đi vào triển khai thực tế được hơn 1 năm, nên một số quy định mới chưa có đủ chuỗi dữ liệu dài hạn để đánh giá toàn diện tác động.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Tiếp tục theo dõi, khảo sát và đánh giá thực tiễn thi hành Phần thứ tám BLTTHS năm 2015 trong giai đoạn sau năm 2019 khi số lượng án hình sự có yếu tố nước ngoài gia tăng.
- Nghiên cứu chuyên sâu về các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt xuyên quốc gia, cơ chế thu thập chứng cứ kỹ thuật số, dữ liệu điện tử xuyên biên giới và các cơ chế xử lý xung đột thẩm quyền tài phán hình sự quốc tế trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với các cơ quan xây dựng chính sách và lập pháp: Cung cấp luận cứ khoa học để sửa đổi Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 thành các luật chuyên biệt; cung cấp 03 mẫu dự thảo Hiệp định về dẫn độ, TTTPHS và chuyển giao phạm nhân phục vụ trực tiếp cho công tác đàm phán, ký kết ĐƯQT của Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp và VKSNDTC.
- Đối với các cơ quan thực thi pháp luật và tiến hành tố tụng: Là tài liệu nghiệp vụ tham khảo giá trị cho điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán trong việc nắm vững trình tự, thủ tục lập, gửi, tiếp nhận và giải quyết các hồ sơ ủy thác tư pháp, yêu cầu dẫn độ và chuyển giao phạm nhân theo đúng chuẩn mực quốc tế và luật pháp trong nước.
- Đối với các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học: Làm tài liệu giảng dạy, học tập chuyên khảo cho giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự, Luật quốc tế và Quan hệ quốc tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự như thế nào?
Luận án căn cứ vào khoản 1 Điều 491 BLTTHS năm 2015 để xác định: Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự là việc các cơ quan có thẩm quyền của nước CHXHCN Việt Nam và các cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài phối hợp, hỗ trợ nhau để thực hiện hoạt động phục vụ yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự trên cơ sở ĐƯQT, nguyên tắc có đi có lại và pháp luật trong nước.
2. Tính đến tháng 8/2019, Việt Nam đã tham gia và ký kết bao nhiêu điều ước quốc tế về các lĩnh vực này?
Theo thống kê trong luận án, Việt Nam là thành viên của 22 ĐƯQT đa phương và đã ký kết 28 ĐƯQT song phương về tương trợ tư pháp hình sự; ký kết 23 ĐƯQT song phương và là thành viên của 22 ĐƯQT đa phương về dẫn độ; tham gia 17 ĐƯQT song phương và đa phương về chuyển giao người bị kết án phạt tù.
3. Kết quả giải quyết các hồ sơ yêu cầu dẫn độ tại Việt Nam đến tháng 6/2019 được ghi nhận ra sao?
Việt Nam đã lập và chuyển 35 hồ sơ yêu cầu dẫn độ từ nước ngoài về Việt Nam (trong đó 07 yêu cầu được chấp nhận và đối tượng đã được dẫn độ về nước, 04 yêu cầu bị từ chối); đồng thời tiếp nhận và giải quyết 23 yêu cầu dẫn độ từ Việt Nam ra nước ngoài (với 73,5% số lượng yêu cầu được thực hiện theo nguyên tắc có đi có lại).
4. Pháp luật về hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự ở Việt Nam sử dụng các phương pháp điều chỉnh nào?
Bên cạnh phương pháp quyền uy và phương pháp phối hợp - chế ước đặc trưng của luật tố tụng hình sự, pháp luật về hợp tác quốc tế trong TTHS còn sử dụng phương pháp ghi nhận/công nhận nhằm công nhận giá trị pháp lý của các hành vi, quyết định tố tụng, bản án và yêu cầu tương trợ từ cơ quan có thẩm quyền nước ngoài phù hợp với ĐƯQT và pháp luật Việt Nam.
5. Tác giả luận án đề xuất những dự thảo hiệp định mẫu nào?
Tác giả đã trực tiếp xây dựng 03 dự thảo hiệp định mẫu gồm: Dự thảo Hiệp định mẫu về dẫn độ của Việt Nam (Bảng 12), Dự thảo Hiệp định mẫu về tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam (Bảng 13) và Dự thảo Hiệp định mẫu về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù của Việt Nam (Bảng 14).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Văn Công là công trình nghiên cứu hệ thống và toàn diện về các quy định pháp luật và thực tiễn thi hành hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự tại Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2019. Bằng việc kết hợp phương pháp luận khoa học, cách tiếp cận liên ngành và hệ thống dữ liệu thực tế phong phú, luận án đã làm rõ cơ sở lý luận, chỉ rõ những bất cập của thể chế hiện hành và đề xuất các giải pháp lập pháp mang tính đồng bộ, đặc biệt là việc tách Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 và xây dựng các hiệp định mẫu. Công trình là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị cao cho công tác nghiên cứu, giảng dạy, hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả phối hợp quốc tế trong phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia.