Luận án tiến sĩ: Pháp luật kiểm soát khai thác thương mại chỉ dẫn địa lý - ĐH Luật Hà Nội

Luận án tiến sĩ luật học về pháp luật kiểm soát hoạt động khai thác thương mại đối với chỉ dẫn địa lý của tác giả Nguyễn Thị Nguyệt tại Trường Đại học Luật Hà

Chuyên ngành

Luật kinh tế

Tác giả

Nguyễn Thị Nguyệt

Thể loại

Luận án tiến sĩ luật học

2026

290
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan kiểm soát khai thác thương mại chỉ dẫn địa lý

Kiểm soát khai thác thương mại chỉ dẫn địa lý là chủ đề nghiên cứu trọng tâm trong luận án tiến sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thị Nguyệt tại Trường Đại học Luật Hà Nội. Hoạt động khai thác thương mại đối với chỉ dẫn địa lý mang tính đặc thù cao trong hệ thống sở hữu trí tuệ. Khác với nhãn hiệu thông thường, chỉ dẫn địa lý gắn liền với khu vực địa lý tự nhiên và danh tiếng truyền thống của địa phương. Quyền sở hữu đối với chỉ dẫn địa lý thuộc về Nhà nước. Các tổ chức và cá nhân sản xuất chỉ có quyền sử dụng hợp pháp nếu đáp ứng đầy đủ tiêu chí chất lượng đặc thù. Việc kiểm soát này bảo đảm tính trung thực của nguồn gốc hàng hóa trên thị trường. Cơ chế giám sát chặt chẽ giúp hạn chế tình trạng lạm dụng địa danh để trục lợi bất chính. Đồng thời, công tác quản lý còn duy trì uy tín của sản vật quốc gia. Nghiên cứu tại Đại học Luật Hà Nội làm rõ nền tảng lý luận về kiểm soát thị trường. Các tiếp cận từ học thuyết kinh tế về câu lạc bộ và lý thuyết tài sản chung được ứng dụng sâu rộng. Những cơ sở lý thuyết này giải thích rõ ràng mối quan hệ giữa quản trị công và lợi ích tư nhân.

1.1. Bản chất pháp lý của khai thác thương mại chỉ dẫn địa lý

Khai thác thương mại chỉ dẫn địa lý là hành vi đưa sản phẩm mang tên gọi địa danh vào lưu thông thương mại. Chủ thể thực hiện hoạt động này nhằm tìm kiếm lợi nhuận kinh tế. Quyền khai thác bao gồm việc gắn chỉ dẫn địa lý lên nhãn mác, bao bì và phương tiện kinh doanh. Doanh nghiệp cũng có quyền quảng cáo, chào bán và xuất khẩu hàng hóa mang bảo hộ. Chỉ dẫn địa lý không thể chuyển giao quyền sở hữu như nhãn hiệu thông thường. Đối tượng này gắn liền với vùng lãnh thổ địa lý cố định. Nhà sản xuất chỉ được phép khai thác khi đáp ứng đầy đủ điều kiện kỹ thuật đã đăng ký. Tính chất đặc thù của sản phẩm quyết định quyền sử dụng hợp pháp.

1.2. Cơ sở lý luận trong nghiên cứu của Đại học Luật Hà Nội

Luận án tại Đại học Luật Hà Nội vận dụng hệ thống lý thuyết kinh tế pháp lý hiện đại. Học thuyết về câu lạc bộ làm rõ lợi ích nội bộ của cộng đồng địa phương. Lý thuyết thông tin bất cân xứng và mô hình danh tiếng của Shapiro lý giải hành vi thị trường. Người tiêu dùng tin tưởng nhãn hiệu nguồn gốc để quyết định mua sắm. Nếu thiếu kiểm soát, hiện tượng trục lợi danh tiếng sẽ nhanh chóng phát sinh. Ngoài ra, lý thuyết quản trị tài sản chung cung cấp cơ sở để người dân tự giám sát. Sự phối hợp giữa mệnh lệnh hành chính và kỷ luật nội bộ tạo nên trật tự thương mại minh bạch. Pháp luật đóng vai trò kiến tạo sân chơi công bằng cho mọi nhà sản xuất.

II. Thực trạng kiểm soát khai thác thương mại chỉ dẫn địa lý

Thực tiễn áp dụng pháp luật về kiểm soát khai thác thương mại chỉ dẫn địa lý tại Việt Nam còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn. Hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp diễn ra dưới nhiều phương thức tinh vi. Nhiều đơn vị kinh doanh lợi dụng uy tín địa danh để gắn nhãn lên hàng hóa kém chất lượng từ nơi khác mang đến. Tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu theo Hiệp định TRIPs cấm các hành vi gây hiểu sai lệch nguồn gốc địa lý thực tế. Tuy nhiên, việc phát hiện và xử lý vi phạm trong nước vẫn gặp nhiều trở ngại lớn. Thủ tục áp dụng biện pháp dân sự để bảo vệ quyền lợi gặp vướng mắc ở khâu xác định thiệt hại thực tế. Cơ chế xác định yếu tố lỗi của bên vi phạm chưa có sự thống nhất cao giữa các cơ quan tài phán. Quan điểm truyền thống coi lỗi là điều kiện bắt buộc để buộc bồi thường, trong khi thực tiễn đòi hỏi nguyên tắc bồi thường toàn bộ thiệt hại khách quan. Thêm vào đó, năng lực tự kiểm soát của các hiệp hội ngành nghề địa phương vẫn còn yếu. Các tổ chức tập thể thiếu nhân lực và công cụ kỹ thuật để truy xuất nguồn gốc. Tình trạng này khiến giá trị kinh tế của chỉ dẫn địa lý bị sụt giảm nghiêm trọng.

2.1. Hành vi vi phạm và nguy cơ gây hiểu sai lệch nguồn gốc

Hành vi vi phạm trong khai thác thương mại chỉ dẫn địa lý gồm hai nhóm chính. Nhóm thứ nhất là việc sử dụng trực tiếp chỉ dẫn trái phép. Đối tượng vi phạm in ấn, dập khuôn tên địa danh lên bao bì hoặc giấy tờ kinh doanh. Nhóm thứ hai là phân phối, tàng trữ và lưu thông hàng hóa giả mạo xuất xứ. Những hành vi này gây nhầm lẫn nghiêm trọng cho khách hàng về nguồn gốc sản phẩm. Hiệp định TRIPs nghiêm cấm mọi biểu hiện gây hiểu sai lệch xuất xứ địa lý. Sự gian dối làm xói mòn uy tín tích lũy của địa phương. Doanh thu của người sản xuất chân chính bị xâm phạm nặng nề. Thị trường nông sản đặc sản vì thế đối mặt rủi ro suy giảm.

2.2. Vướng mắc trong áp dụng biện pháp dân sự và xác định lỗi

Việc xử lý vi phạm bằng chế tài dân sự đối diện nhiều rào cản pháp lý. Tranh luận học thuật tập trung vào yếu tố lỗi khi yêu cầu bồi thường thiệt hại. Nhiều chuyên gia đề xuất áp dụng nguyên tắc lỗi suy đoán trong tố tụng. Khi hành vi vi phạm xảy ra, bên thực hiện hành vi mặc nhiên bị coi là có lỗi nếu không có chứng cứ ngoại trừ. Tại Pháp và Đức, cơ chế bồi thường toàn bộ được áp dụng nghiêm ngặt nhằm khắc phục tổn thất. Ngược lại, tòa án Việt Nam buộc người bị hại chứng minh thiệt hại thực tế rất chi tiết. Yêu cầu chứng minh phức tạp khiến các tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý e ngại khởi kiện. Biện pháp dân sự vì thế chưa phát huy tác dụng răn đe.

III. Giải pháp kiểm soát khai thác thương mại chỉ dẫn địa lý

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát khai thác thương mại chỉ dẫn địa lý đòi hỏi hệ thống giải pháp đồng bộ và căn cơ. Nghiên cứu của Trường Đại học Luật Hà Nội đề xuất các nhóm giải pháp then chốt. Trước hết, cơ quan lập pháp cần sửa đổi quy định về căn cứ xác định thiệt hại dân sự. Việc luật hóa nguyên tắc suy đoán lỗi đối với hành vi xâm phạm quyền chỉ dẫn địa lý là yêu cầu cấp thiết. Cách tiếp cận này giảm tải gánh nặng chứng minh cho các chủ thể sản xuất truyền thống. Tiếp theo, nhà nước cần phân cấp mạnh mẽ quyền giám sát cho các tổ chức đại diện cộng đồng. Các hiệp hội cần được trao quyền chủ động xử lý hội viên vi phạm quy chế chất lượng. Hệ thống quản lý công quyền chỉ can thiệp khi có tranh chấp vượt thẩm quyền. Ngoài ra, việc ứng dụng công nghệ số vào kiểm soát thương mại mang ý nghĩa quyết định. Mã QR và công nghệ chuỗi khối giúp giám sát nguồn gốc từng lô hàng từ vùng trồng đến bàn ăn. Sự kết hợp giữa chế tài tư pháp và công cụ kỹ thuật hiện đại sẽ bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật.

3.1. Hoàn thiện quy chuẩn tố tụng và cơ chế bồi thường thiệt hại

Hệ thống pháp luật cần nhanh chóng bổ sung cơ chế suy đoán lỗi vào Luật Sở hữu trí tuệ. Người có hành vi sử dụng trái phép chỉ dẫn địa lý phải chịu trách nhiệm bồi thường trừ khi chứng minh không có lỗi. Quy định này bảo vệ quyền lợi các hội sản xuất nhỏ lẻ vốn có nguồn lực pháp lý hạn chế. Đồng thời, các cơ quan tố tụng cần áp dụng phương pháp ước tính thiệt hại kinh tế linh hoạt. Tổn thất không chỉ đo lường bằng doanh thu sụt giảm trước mắt mà bao gồm cả sự suy giảm danh tiếng địa danh. Tòa án cần mở rộng thẩm quyền buộc bên vi phạm tiêu hủy hàng hóa xâm phạm và công khai xin lỗi. Chế tài dân sự nghiêm minh sẽ ngăn chặn hành vi tái phạm trên thị trường.

3.2. Nâng cao vai trò tự quản của hiệp hội và ứng dụng số hóa

Tự quản cộng đồng là chìa khóa then chốt để quản trị hiệu quả tài sản chung chỉ dẫn địa lý. Các hội nghề nghiệp địa phương cần xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật nội bộ chặt chẽ. Mọi thành viên phải trải qua kiểm định độc lập trước khi được cấp tem nhãn bảo hộ. Hiệp hội cần có quyền đình chỉ quyền khai thác đối với các đơn vị cố ý vi phạm chất lượng. Song song đó, công nghệ truy xuất nguồn gốc số cần được triển khai toàn diện. Người mua chỉ cần quét mã QR để kiểm tra dữ liệu canh tác và nguồn gốc nguyên liệu. Minh bạch hóa dữ liệu ngăn chặn việc trà trộn nông sản trôi nổi. Sự giám sát chéo từ người tiêu dùng tạo áp lực giữ gìn thương hiệu địa phương.

IV. Định hướng kiểm soát khai thác thương mại chỉ dẫn địa lý

Kiểm soát khai thác thương mại chỉ dẫn địa lý giữ vai trò chiến lược trong chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp Việt Nam. Công trình luận án tiến sĩ tại Trường Đại học Luật Hà Nội cung cấp luận cứ khoa học quan trọng cho công cuộc cải cách thể chế. Khi Việt Nam tham gia sâu vào các hiệp định tự do thương mại thế hệ mới như EVFTA hay CPTPP, việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý trở thành cam kết pháp lý bắt buộc. Thực thi nghiêm minh giúp nông sản nội địa vượt qua các hàng rào kỹ thuật khắt khe để thâm nhập thị trường quốc tế. Doanh nghiệp và người nông dân được thụ hưởng giá trị gia tăng cao hơn từ danh tiếng xuất xứ. Bên cạnh đó, việc hoàn thiện pháp luật kiểm soát thương mại còn bảo vệ di sản văn hóa và tri thức bản địa. Nhà nước cần nhanh chóng thể chế hóa các giải pháp nghiên cứu thành văn bản quy phạm pháp luật cụ thể. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa quản lý hành chính, tư pháp và giám sát cộng đồng sẽ tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch. Đây là nền tảng vững chắc để xây dựng chuỗi giá trị nông sản bền vững cho tương lai.

4.1. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn quản lý địa phương

Kết quả nghiên cứu của luận án cung cấp cẩm nang thực thi giá trị cho các cơ quan địa phương. Sở Khoa học và Công nghệ cùng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể xây dựng quy chế quản lý thống nhất. Việc phân quyền cho các hợp tác xã sản xuất giúp tăng cường tính tự giác trong cộng đồng. Địa phương cần chủ động tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật nhận diện vi phạm chỉ dẫn địa lý. Lực lượng quản lý thị trường cần phối hợp thường xuyên với các hiệp hội ngành hàng để rà soát kênh phân phối. Khi xảy ra tranh chấp, cơ chế hòa giải cơ sở cần được ưu tiên xử lý nhanh gọn. Sự chủ động này ngăn chặn vi phạm ngay từ khâu gieo trồng và đóng gói.

4.2. Khẳng định giá trị nông sản Việt Nam trên thương trường quốc tế

Kiểm soát thương mại chặt chẽ là điều kiện tiên quyết để nông sản Việt Nam vươn tầm quốc tế. Các thị trường nhập khẩu lớn như Liên minh Châu Âu đòi hỏi tiêu chuẩn bảo hộ chỉ dẫn địa lý rất khắt khe. Nông sản mang thương hiệu bảo hộ như chè Shan tuyết hay nước mắm Phú Quốc chỉ giữ được vị thế khi chất lượng ổn định. Kiểm soát nghiêm ngặt ngăn chặn hàng nhái làm suy giảm uy tín quốc gia. Doanh nghiệp xuất khẩu có thể tự tin khẳng định phẩm cấp vượt trội trên thị trường toàn cầu. Người tiêu dùng quốc tế sẵn sàng chi trả mức giá cao cho sản phẩm có xuất xứ minh bạch. Pháp luật kiểm soát khai thác thương mại chính là bệ phóng nâng tầm vị thế nông sản Việt Nam.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/10/2026
Nguyễn thị nguyệt

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Lý luận về kiểm soát hoạt động khai thác thương mại đối với chỉ dẫn địa lý và pháp luật về kiểm soát hoạt động khai thác thương mại đối với chỉ dẫn địa lý Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về kiểm soát hoạt động khai thác thương mại đối với chỉ dẫn địa lý Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về kiểm soát hoạt động khai thác thương mại đối với chỉ dẫn địa lý 10 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1. Những công trình nghiên cứu mặt lý luận về pháp luật kiểm soát hoạt động khai thác thương mại đối với chỉ dẫn địa lý Thứ nhất, những công trình đề cập đến khái niệm CDĐL Các nghiên cứu về CDĐL được thực hiện dưới nhiều góc độ khác nhau như góc độ kinh tế, quản lý nhà nước, pháp lý… Bởi vậy, CDĐL cho đến nay vẫn chưa có cách hiểu thống nhất. Tùy thuộc vào các Công ước, Điều ước quốc tế hay pháp luật mỗi quốc gia mà CDĐL được định nghĩa khác nhau.

Trong “The protection of Geographical Indication in The TRIPs Agreement” (Tạm dịch: Bảo hộ CDĐL trong Hiệp định TRIPs)7, Albrecht Conrad đã phân tích quy định về CDĐL trong Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT năm 1994 (Hiệp định TRIPs). Điều 22 Hiệp định TRIPs định nghĩa CDĐL là những chỉ dẫn về hàng hoá bắt nguồn từ lãnh thổ của một Thành viên hoặc từ khu vực hay địa phương thuộc lãnh thổ đó, có chất lượng, uy tín hoặc đặc tính nhất định chủ yếu do xuất xứ địa lý quyết định. Theo định nghĩa này, CDĐL có thể là một dấu hiệu bất kỳ chỉ dẫn đến nguồn gốc địa lý của sản phẩm, không nhất thiết phải là “tên địa lý” của nước, khu vực hoặc vùng, lãnh thổ cụ thể. Định nghĩa cũng đề cập đến hai điều kiện bảo hộ CDĐL: (i) hàng hoá mang CDĐL phải bắt nguồn từ lãnh thổ, địa phương hay khu vực được chỉ dẫn tới; (ii) sản phẩm mang CDĐL có chất lượng, uy tín hoặc đặc tính mà các tính chất này chủ yếu do xuất xứ địa lý quyết định, bao gồm các yếu tố tự nhiên và con người.

Trong tác phẩm “Sui generis protection of geographical indictions” (Tạm dịch: Bảo hộ theo hệ thống riêng đối với CDĐL)8, Bernard O’Connor cũng tập trung phân tích khái niệm CDĐL theo Hiệp định TRIPs và các phương thức bảo hộ CDĐL. Hiệp định TRIPs cho phép các nước thành viên lựa chọn phương thức phù hợp cho việc bảo hộ CDĐL, trong đó dựa trên tiêu chí về việc đăng ký bảo hộ mà pháp luật các quốc gia chia làm hai hình thức bảo hộ đối với CDĐL: (i) Bảo hộ tự động là hình thức bảo hộ mà chủ sở hữu không cần đăng ký vẫn có thể được bảo hộ như Singapore, Ấn Độ, Laiva. Đối với trường hợp này CDĐL có thể được bảo vệ thông qua pháp luật cạnh tranh, pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; (ii) 7 Albreacht Conrad, (1996), The protection of geographical indications in The Trips agreement, 86 Trademark Reporter 11, Vol.359 11 Bảo hộ thông qua thủ tục đăng ký, hầu hết các quy định quốc gia cụ thể bảo vệ CDĐL đều yêu cầu phải đăng ký CDĐL trước khi được bảo hộ. Ở Việt Nam cũng có nhiều công trình nghiên cứu về khái niệm CDĐL.

Các công trình nghiên cứu này cũng đều có nhận định rằng hiện nay chưa có cách hiểu thống nhất về khái niệm CDĐL. Bằng phương pháp so sánh với các đối tượng liên quan như chỉ dẫn nguồn gốc và tên gọi xuất xứ, tác giả Vũ Thị Hải Yến đã làm rõ bản chất của khái niệm CDĐL trong luận án tiễn sĩ luật học “Bảo hộ CDĐL Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”9. Bên cạnh đó, tác giả cũng tiếp cận khái niệm CDĐL theo quy định của pháp luật Việt Nam. Tác giả đánh giá khái niệm này có cách hiểu tương đồng với khái niệm về CDĐL được đề cập đến trong Hiệp định TRIPs.

Trong Luận án tiến sĩ kinh tế “Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp dưới góc độ thương mại đối với CDĐL của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” (2010) tại Trường Đại học Ngoại thương, tác giả Lê Thị Thu Hà đã nhìn nhận một cách có hệ thống và toàn diện về khái niệm CDĐL, từ cách hiểu thông thường cho đến những phân tích sâu sắc dưới góc độ kinh tế và thương mại. Đồng thời tác giả cũng phân tích và làm rõ mối liên hệ giữa khái niệm CDĐL dưới góc độ thương mại và dưới góc độ pháp lý. Nếu theo cách hiểu thông thường, CDĐL được sử dụng để chỉ ra tên địa danh, xuất xứ, khu vực địa lý nơi sản phẩm được sản xuất ra. Theo cách hiểu này CDĐL đơn thuần là một dấu hiệu giúp người tiêu dùng nhận ra nơi sản xuất của sản phẩm.

Trong khi đó, dưới góc độ thương mại, CDĐL không chỉ dẫn nguồn gốc địa lý của sản phẩm mà nguồn gốc địa lý này được coi là một trong các yếu tố cơ bản nói lên danh tiếng của sản phẩm, trở thành một bộ phận của đối tượng thương mại. Thứ hai, những công trình nghiên cứu về biện pháp kiểm soát hoạt động khai thác thương mại đối với CDĐL Tác giả Đào Đức Huấn trong luận án tiến sĩ kinh tế “Quản lý CDĐL cho sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam”, trường Đại học Kinh tế quốc dân (2017) đã đề cập tới biện pháp kiểm soát CDĐL của các chủ thể có liên quan. Tác giả cho rằng kiểm soát CDĐL là một nội dung của quản lý CDĐL, hoạt động này được thực hiện nhằm bảo đảm rằng sản phẩm mang CDĐL đảm bảo về chất lượng và xuất xứ của sản phẩm. Bên cạnh đó, trong quá trình phân tích về vai trò của các chủ thể trong quá trình quản lý CDĐL, tác giả cũng đề cập đến vai trò của các chủ thể trong quá trình kiểm soát CDĐL: (i) vai trò của Nhà nước; (ii) vai trò của Tổ chức tập thể 9 Vũ Thị Hải Yến (2008), Bảo hộ chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội 12 những người sản xuất.

Đồng thời tác giả phân tích mô hình kiểm soát CDĐL của một số quốc gia trên thế giới và trong khu vực Đông Nam Á như Pháp, Thái Lan, Campuchia… Từ đó đưa ra nhận xét, không có một chuẩn mực chung về xây dựng mô hình kiểm soát CDĐL. Mô hình này được xây dựng trên cơ sở điều kiện của từng quốc gia, và dựa trên cách tiếp cận, đặc điểm sản xuất, thương mại sản phẩm và cấu trúc thể chế của quốc gia đó. Khái niệm về kiểm soát việc khai thác CDĐL và mô hình kiểm soát khai thác thương mại đối với CDĐL ở châu Âu được đề cập và phân tích trong tác phẩm “Kiểm soát CDĐL của Việt Nam trong bối cảnh thực thi Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU: nghiên cứu trường hợp của nước mắm Phú Quốc” của các tác giả Vũ Xuân Trường, Lê Thị Thu Hà đăng trên tạp chí Khoa học Thương mại số 93/2016 năm 2016. Nhóm tác giả cho rằng “Kiểm soát CDĐL là quá trình kiểm tra ở các cấp độ khác nhau nhằm đảm bảo sản phẩm mang CDĐL được đưa ra thị trường tuân thủ các tiêu chí nêu tại Bản mô tả”.

Kiểm soát là một quy trình không thể thiếu trong quá trình bảo hộ CDĐL nhằm khuyến khích sự phát triển của các sản phẩm có chất lượng, chống lại sự giả mạo nguồn gốc xuất xứ, lợi dụng danh tiếng của các sản phẩm nổi tiếng nhằm trục lợi bất chính. Đồng thời dựa trên quy định của EU, các tác giả xác định hệ thống kiểm soát CDĐL được thực hiện trên bốn cấp độ: tự kiểm soát, kiểm soát nội bộ, kiểm soát độc lập và kiểm soát ngoại vi. Trong nghiên cứu của mình, khi đề cập đến các khâu kiểm soát, các tác giả đề cập cụ thể đến nội dung của mỗi khâu kiểm soát cũng như chủ thể có trách nhiệm thực hiện trong mỗi khâu kiểm soát cụ thể. Bài viết “Đánh giá vai trò của tổ chức tập thể trong phát triển CDĐL ở Việt Nam: trường hợp gạo tám xoan Hải Hậu”, nhóm tác giả Đào Đức Huấn, Vũ Trọng Bình, Lê Đức Thịnh, Bùi Thị Thái trong Báo cáo hội thảo Chương trình hợp tác về SHTT EC – ASEAN (ECAP II), Hà Nội (2016) đã chứng minh tổ chức tập thể có chức năng kiểm soát chất lượng sản phẩm.

Tuy nhiên, nhóm tác giả chưa nghiên cứu được tổ chức tập thể đóng vai trò như thế nào trong quản lý CDĐL nói chung và kiểm soát việc khai thác CDĐL nói riêng. Những công trình nghiên cứu đối với đánh giá thực trạng pháp luật về kiểm soát hoạt động khai thác thương mại đối với chỉ dẫn địa lý Trong bài viết “Kiểm soát CDĐL của Việt Nam trong bối cảnh thực thi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam –EU: Nghiên cứu trường hợp của nước mắm Phú Quốc”, tác giả Vũ Xuân Trường, Lê Thị Thu Hà đăng trong Tạp chí Khoa học Thương mại số 93/2016 năm 2016 khẳng định hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể về kiểm soát CDĐL, chỉ một điều luật đề cập đến Bản mô tả CDĐL 13 cần có các thông tin về cơ chế tự kiểm tra các tính chất, chất lượng đặc thù của sản phẩm. Các yêu cầu về kiểm soát độc lập đối với các sản phẩm mang CDĐL đều chưa được quy định trong bất kỳ một văn bản quy phạm pháp luật nào của Việt Nam. Chính vì vậy, về mặt pháp lý việc kiểm soát độc lập đối với CDĐL chưa là một yêu cầu bắt buộc.

Đề cập tới thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về hoạt động khai thác thương mại đối với CDĐL tại Việt Nam, bài viết “Bảo hộ CDĐL: yêu cầu của phát triển nông nghiệp bền vững”10 đăng trong Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (2020), nhóm tác giả Bùi Thị Hằng Nga, Nguyễn Minh Bách Tùng bước đầu đã điểm đến một số bất cập của pháp luật về bảo hộ CDĐL như quy trình đăng ký bảo hộ, sử dụng CDĐL chưa phù hợp với thực tiễn và đi ngược với pháp luật các nước trên thế giới. Pháp luật Việt Nam chưa chú trọng đến hoạt động quản lý, sử dụng và bảo vệ quyền; chưa tương thích với chuẩn mực quốc tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Nguyễn Thị Nguyệt (2026), Pháp luật về kiểm soát hoạt động khai thác thương mại đối với chỉ dẫn địa lý, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
APA 7
Nguyễn, T. N. (2026). Pháp luật về kiểm soát hoạt động khai thác thương mại đối với chỉ dẫn địa lý [Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/kiem-soat-khai-thac-thuong-mai-chi-dan-dia-ly-dh-luat-ha-noi/9387365635
IEEE
T. N. Nguyễn, "Pháp luật về kiểm soát hoạt động khai thác thương mại đối với chỉ dẫn địa lý," Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, 2026. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/kiem-soat-khai-thac-thuong-mai-chi-dan-dia-ly-dh-luat-ha-noi/9387365635

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác