Tổng quan luận án
Nghiên cứu về tác động của chính sách tiền tệ đối với nền kinh tế có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng bền vững. Sau hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với độ mở kinh tế và thương mại ngày càng lớn. Đi liền với tiến trình hội nhập, nền kinh tế phải đối mặt với nhiều biến động phức tạp từ cả bên trong lẫn bên ngoài, chẳng hạn như khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008–2009, suy thoái kinh tế thế giới sau năm 2010, đại dịch Covid-19, đứt gãy chuỗi cung ứng, cũng như các chu kỳ thắt chặt chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed). Thực tiễn điều hành kinh tế vĩ mô tại Việt Nam đặt ra yêu cầu kiểm soát lạm phát và giảm thiểu biến động kinh tế vĩ mô, được thể chế hóa cụ thể qua các văn bản chỉ đạo của Nhà nước, điển hình là Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2020 của Chính phủ về điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt và phối hợp đồng bộ với chính sách tài khóa.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ thực trạng các nghiên cứu thực nghiệm về chính sách tiền tệ tại Việt Nam trước đây chủ yếu sử dụng các mô hình kinh tế lượng chuỗi thời gian phi cấu trúc hoặc cấu trúc truyền thống như tự hồi quy vectơ (VAR), tự hồi quy vectơ cấu trúc (SVAR), hoặc mô hình hiệu chỉnh sai số dạng vectơ (VECM). Các mô hình này phụ thuộc vào dữ liệu quá khứ và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ "phê bình của Lucas" (Lucas Critique, 1976), tức là các tham số ước lượng không mang tính cấu trúc và sẽ thay đổi khi cơ chế chính sách thay đổi, dẫn đến hạn chế lớn trong việc thử nghiệm các kịch bản chính sách mới. Ở chiều ngược lại, các nghiên cứu ứng dụng mô hình cân bằng tổng quát động ngẫu nhiên (DSGE) cho Việt Nam còn rất hạn chế; công trình tiêu biểu của Dizioli và Schmittmann (IMF, 2015) mới dừng ở dạng mô hình cơ bản, chưa phản ánh được các đặc trưng thể chế và cấu trúc đặc thù của Việt Nam như cơ chế điều hành đa mục tiêu, việc sử dụng đồng thời công cụ giá (lãi suất) và công cụ lượng (cung tiền, hạn mức tín dụng), cơ chế điều hành tỷ giá thả nổi có quản lý và tình trạng phân hóa tiếp cận tài chính của hộ gia đình.
Luận án xác định mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu như sau:
Mục tiêu nghiên cứu:
- Nghiên cứu, áp dụng và phát triển khung khổ mô hình cấu trúc cân bằng tổng quát động ngẫu nhiên cho nền kinh tế mở nhỏ (SOE-DSGE) và mô hình bán cấu trúc theo trường phái New Keynes với các đặc trưng phù hợp với nền kinh tế Việt Nam.
- Sử dụng các mô hình đã xây dựng để: (i) phân tích, đánh giá phản ứng của các biến số kinh tế vĩ mô trước các cú sốc khác nhau, bao gồm cú sốc chính sách tiền tệ; (ii) thực hiện phân tích kịch bản chính sách và so sánh các cơ chế điều hành khác nhau; từ đó đề xuất định hướng phát triển nghiên cứu mô hình DSGE và kiến nghị giải pháp điều hành chính sách tiền tệ nhằm ổn định biến động kinh tế.
Câu hỏi nghiên cứu:
- Tác động của chính sách tiền tệ (lãi suất, cung tiền) lên các biến số vĩ mô như sản lượng kinh tế và lạm phát là như thế nào, đặc biệt khi nền kinh tế tồn tại tình trạng ràng buộc tài chính (một nhóm hộ gia đình không tiếp cận được các khoản vay trên thị trường tài chính nhằm tối ưu hóa tiêu dùng, tiết kiệm)? Mặt khác, tình trạng ràng buộc tài chính trong nền kinh tế có ảnh hưởng như thế nào đến tác động của chính sách tiền tệ?
- Các cách thức điều hành chính sách tiền tệ khác nhau có tác động như thế nào đến mục tiêu ổn định biến động kinh tế vĩ mô?
- Các cơ chế điều hành tỷ giá khác nhau ảnh hưởng như thế nào đến phản ứng của các biến số vĩ mô với các cú sốc?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ tương tác giữa các công cụ chính sách tiền tệ, các biến số kinh tế vĩ mô tổng lượng (trọng tâm là sản lượng GDP và lạm phát CPI) và các cú sốc kinh tế trong một nền kinh tế nhỏ, có độ mở lớn và điều hành đa mục tiêu.
- Phạm vi nội dung: Xây dựng mô hình SOE-DSGE tích hợp hai nhóm hộ gia đình đại diện (hộ gia đình không bị ràng buộc tài chính và hộ gia đình bị ràng buộc tài chính) và mô hình bán cấu trúc New Keynesian có phương trình tỷ giá tích hợp; ước lượng tham số và phân tích hàm phản ứng xung (IRF).
- Phạm vi không gian: Nền kinh tế Việt Nam trong mối quan hệ với kinh tế toàn cầu, trong đó các biến số vĩ mô và tiền tệ của Mỹ được sử dụng làm đại diện cho các yếu tố quốc tế ngoại sinh.
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu chuỗi thời gian phục vụ ước lượng mô hình DSGE được thu thập trong giai đoạn 2001 – 2018 (trước giai đoạn đại dịch Covid-19).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành hệ thống hóa toàn diện các dòng nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm trong nước và quốc tế liên quan đến mô hình hóa kinh tế vĩ mô và cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ:
| Nhóm nghiên cứu / Chủ đề |
Tác giả, công trình tiêu biểu |
Nội dung và luận điểm chính |
| Nền tảng vi mô và lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực (RBC) |
Ramsey (1928), Lucas (1975, 1976), Kydland và Prescott (1982), Long và Plosser (1983) |
Đặt nền móng cho mô hình cân bằng động với cá thể tối ưu hóa và kỳ vọng hợp lý; tuy nhiên, mô hình RBC giả định giá cả linh hoạt hoàn toàn và tiền tệ trung tính, không giải thích được tác động thực của chính sách tiền tệ. |
| Tính không trung tính của tiền tệ và trường phái New Keynes |
Friedman và Schwartz (1963), Christiano, Eichenbaum và Evans (1999, 2005), Smets và Wouters (2003, 2007), Gali và Gertler (2007), Gali (2015) |
Chứng minh bằng thực nghiệm và lý thuyết rằng tiền tệ không trung tính trong ngắn hạn; tích hợp cấu trúc cạnh tranh độc quyền và sự trì trệ danh nghĩa vào mô hình cân bằng động ngẫu nhiên. |
| Cơ chế trì trệ danh nghĩa của giá cả và tiền lương |
Rotemberg (1982), Calvo (1983), Taylor (1999), Dickens và cộng sự (2007) |
Mô hình hóa chi phí điều chỉnh giá (Rotemberg) hoặc việc định giá ngắt quãng theo xác suất ngẫu nhiên (Calvo); giải thích sự phản ứng chậm của giá cả và sự biến động của lãi suất thực. |
| Các kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ |
Mundell (1963), Fleming (1962), Ando và Modigliani (1963), Tobin (1969), Dornbusch (1976), Mishkin (1995), Ireland (2004, 2008) |
Xác định các kênh truyền tải qua lãi suất, điều kiện ngang giá lãi suất không phòng ngừa (UIP), giá tài sản (Tobin's q), tài sản trọn đời và kênh tín dụng. |
| Kinh tế mở và bất hoàn hảo trên thị trường tài chính |
Obstfeld và Rogoff (1995), Adolfson và cộng sự (2007a, 2007b), Lubik và Schorfheide (2003, 2005), Gali và Monacelli (2005), Gertler và Kiyotaki (2015), Kaplan và cộng sự (2017), McKay và cộng sự (2016) |
Mở rộng DSGE cho nền kinh tế mở; mô hình hóa sức ì tài chính và tính không đồng nhất của hộ gia đình (ràng buộc vay mượn) tác động lên truyền dẫn chính sách. |
| Mô hình bán cấu trúc và nghiên cứu tại các nền kinh tế đang phát triển |
Berg và cộng sự (2006), Ramayandi (2011), Gu và cộng sự (2014), Dai và cộng sự (2015), Dizioli và Schmittmann (2015) |
Phát triển hệ thống FPAS/QPM của IMF; áp dụng mô hình New Keynesian cho các thị trường mới nổi như Trung Quốc, Đông Nam Á và nghiên cứu sơ khởi cho Việt Nam. |
| Nghiên cứu chính sách tiền tệ tại Việt Nam |
Le (2009), Bui (2009), Tran (2015) |
Đánh giá tác động tiền tệ qua các mô hình VAR, SVAR, VECM; chỉ ra hạn chế về mặt cấu trúc và khó khăn trong phân tích kịch bản chính sách mới. |
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết:
Luận án định vị nghiên cứu vào việc lấp đầy khoảng trống về một công cụ phân tích cấu trúc kinh tế vĩ mô có nền tảng vi mô chặt chẽ cho Việt Nam. Cụ thể, luận án khắc phục hạn chế của các nghiên cứu trước bằng cách: (1) Đưa yếu tố không đồng nhất của hộ gia đình vào mô hình SOE-DSGE thông qua việc phân tách khu vực chịu ràng buộc tài chính và khu vực không bị ràng buộc tài chính; (2) Tích hợp đồng thời hai công cụ điều hành là lãi suất và cung tiền vào cùng một khung khổ cân bằng; (3) Mô hình hóa cơ chế điều hành tỷ giá thả nổi có quản lý thông qua phương trình tỷ giá tích hợp, gắn với Khung khổ chính sách tích hợp (IPF) của IMF.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng nền tảng kinh tế vĩ mô hiện đại theo trường phái New Keynesian kết hợp với khung khổ thể chế điều hành tiền tệ tại Việt Nam:
Khung phân tích và lý thuyết cốt lõi:
- Tối ưu hóa liên thời gian: Các tác nhân kinh tế (hộ gia đình, doanh nghiệp) tối đa hóa hàm thỏa dụng và lợi nhuận kỳ vọng trong điều kiện có ràng buộc ngân sách và công nghệ.
- Cạnh tranh độc quyền và sự trì trệ danh nghĩa: Giả định các doanh nghiệp định giá sản phẩm trong môi trường cạnh tranh độc quyền và chịu sự trì trệ giá cả theo cơ chế Calvo hoặc Rotemberg, khiến chính sách tiền tệ có tác động thực lên sản lượng và việc làm trong ngắn hạn.
- Khung thể chế tiền tệ Việt Nam: Phản ánh các quy định theo Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 với mục tiêu đa dạng (ổn định giá trị đồng tiền, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng, bảo đảm an toàn hệ thống) và hệ thống công cụ đa dạng gồm lãi suất điều hành, nghiệp vụ thị trường mở (OMO), tái cấp vốn, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, hạn mức tín dụng và các can thiệp thị trường ngoại tệ.
- Khung khổ chính sách tích hợp (IPF): Tiếp cận lý thuyết của IMF (2023) về sự kết hợp giữa chính sách tiền tệ, chính sách vĩ mô thận trọng và can thiệp ngoại hối nhằm ổn định tỷ giá và giảm thiểu rủi ro dòng vốn tại các nền kinh tế mở quy mô nhỏ.
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
Luận án là công trình nghiên cứu định lượng chuyên sâu, kết hợp hai mô hình bổ trợ lẫn nhau:
- Mô hình cấu trúc SOE-DSGE với hai hộ gia đình đại diện:
- Thiết lập hệ điều kiện cần bậc nhất (FONC) từ bài toán tối ưu hóa vi mô của các tác nhân.
- Tuyến tính hóa log hệ phương trình xung quanh trạng thái dừng dài hạn (steady state).
- Biểu diễn hệ phương trình kỳ vọng hợp lý tuyến tính dưới dạng ma trận theo Sims (2002) và Lubik và Schorfheide (2003): $\Gamma_0(\theta) s_t = \Gamma_1(\theta) s_{t-1} + \Psi(\theta) \varepsilon_t + \Pi(\theta) \eta_t$.
- Ước lượng hệ thống tham số cấu trúc bằng phương pháp suy diễn Bayes (Bayesian estimation), kết hợp phân phối tiền nghiệm (prior distribution) với hàm hợp lý thông qua thuật toán chuỗi Markov Monte Carlo (MCMC).
- Mô hình bán cấu trúc New Keynesian:
- Thiết lập hệ thống 4 phương trình cốt lõi theo khung QPM/FPAS của IMF: đường IS mở rộng (tổng cầu), đường cong Phillips New Keynesian (tổng cung), quy tắc lãi suất Taylor mở rộng và phương trình điều kiện ngang giá lãi suất không phòng ngừa (UIP) có tích hợp mục tiêu tỷ giá của Ngân hàng Trung ương.
- Áp dụng phương pháp cân chỉnh tham số (calibration) dựa trên các đặc trưng thực nghiệm của kinh tế Việt Nam và các nghiên cứu chuẩn tắc quốc tế.
- Công cụ tính toán và kỹ thuật phân tích: Toàn bộ quy trình giải hệ phương trình động, ước lượng Bayes, mô phỏng hàm phản ứng xung (IRF), phân rã phương sai và phân rã lịch sử biến động được lập trình và thực thi trên phần mềm MATLAB.
Nguồn dữ liệu:
Dữ liệu sử dụng trong luận án bao gồm các chuỗi thời gian vĩ mô theo quý của Việt Nam và Mỹ từ năm 2001 đến năm 2018. Dữ liệu trong nước được trích xuất từ Tổng cục Thống kê (GSO) và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; dữ liệu quốc tế được thu thập từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF - IFS) và Cục Dự trữ Liên bang Mỹ chi nhánh St. Louis (Federal Reserve Bank of St. Louis - FRED). Các biến số quan sát chính bao gồm: tốc độ tăng trưởng GDP, lạm phát CPI, lãi suất cho vay/lãi suất chính sách, tăng trưởng cung tiền (M2) và tín dụng, tỷ giá danh nghĩa USD/VND, tỷ giá hiệu dụng danh nghĩa (NEER) và thực tế (REER).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận kinh tế học từ trường phái cổ điển, trường phái chu kỳ kinh doanh thực (RBC) đến trường phái New Keynesian. Tác giả phân tích chi tiết các kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ (kênh lãi suất, tỷ giá, giá tài sản, tín dụng và kỳ vọng), các mô hình trì trệ danh nghĩa (Calvo, Rotemberg) và cơ sở toán học của phê bình Lucas đối với các mô hình kinh tế lượng truyền thống. Chương này phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam qua các giai đoạn biến động tăng trưởng và lạm phát (điển hình là lạm phát tăng cao các năm 2008 ở mức 19,9% và năm 2011 ở mức 18,1%, sau đó duy trì ổn định quanh mức mục tiêu 4% từ năm 2012). Tác giả tổng hợp khung khổ điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam tại Bảng 1.1, phân loại các công cụ thành ba nhóm: công cụ khối lượng, công cụ giá (lãi suất) và biện pháp điều hành tỷ giá/can thiệp ngoại tệ. Chương 1 kết thúc bằng việc xác định khoảng trống nghiên cứu và thiết lập khung nghiên cứu tổng thể của luận án.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu – Mô hình DSGE
Chương 2 trình bày chi tiết cấu trúc toán học của hai mô hình nghiên cứu:
- Mô hình SOE-DSGE: Xây dựng hành vi tối ưu của các tác nhân gồm hộ gia đình đại diện, khu vực công ty sản xuất hàng hóa trung gian trong điều kiện cạnh tranh độc quyền và chi phí điều chỉnh giá, công ty sản xuất hàng hóa cuối cùng nội địa, công ty hàng hóa tiêu dùng tổng hợp và Ngân hàng Trung ương. Thiết lập hệ phương trình tối ưu hóa động, điều kiện cân bằng thị trường và chuyển đổi hệ phương trình sang dạng tuyến tính log quanh trạng thái dừng.
- Mô hình bán cấu trúc cho nền kinh tế mở: Trình bày chi tiết hệ thống phương trình tổng cầu (đường IS liên thời gian), tổng cung (đường cong Phillips New Keynesian), quy tắc chính sách tiền tệ theo luật Taylor mở rộng và phương trình tỷ giá tích hợp phản ánh sự can thiệp của Ngân hàng Trung ương đối với biến động tỷ giá hối đoái. Đồng thời, chương này mô tả quy trình kỹ thuật ước lượng Bayes và phương pháp cân chỉnh tham số trên phần mềm MATLAB.
Chương 3: Mô hình và kết quả
Chương 3 tập trung vào việc mô hình hóa tính không đồng nhất của hộ gia đình và trình bày kết quả ước lượng thực nghiệm:
- Mô hình SOE-DSGE với hai hộ gia đình đại diện: Phân chia nền kinh tế thành nhóm hộ gia đình không bị ràng buộc tài chính (có khả năng tiếp cận thị trường vốn, tối ưu hóa tiêu dùng qua các kỳ và chịu tác động trực tiếp từ kênh lãi suất) và nhóm hộ gia đình bị ràng buộc tài chính (tiêu dùng phụ thuộc hoàn toàn vào thu nhập hiện tại và cung tiền/tín dụng).
- Kết quả ước lượng Bayes: Bảng 3.2 và các đồ thị phân phối tiền nghiệm/hậu nghiệm chỉ ra rằng các tham số cấu trúc hội tụ tốt. Mô hình dự báo sát các chuyển động thực tế của chuỗi số liệu vĩ mô. Kết quả hàm phản ứng xung (IRF) cho thấy:
- Cú sốc thắt chặt lãi suất làm giảm tổng cầu, thu hẹp sản lượng và kéo giảm lạm phát; sự tồn tại của nhóm hộ gia đình chịu ràng buộc tài chính không làm triệt tiêu tác động của kênh lãi suất.
- Cung tiền đóng vai trò công cụ chính sách trực tiếp tác động đến sức mua và tiêu dùng của nhóm hộ gia đình chịu ràng buộc tài chính.
- Cú sốc tăng lãi suất của Fed và cú sốc phần bù rủi ro tỷ giá gây áp lực làm mất giá đồng nội tệ, gia tăng lạm phát nhập khẩu; Ngân hàng Trung ương phản ứng bằng việc thắt chặt lãi suất để kiềm chế lạm phát, làm thay đổi tác động kích thích xuất khẩu ban đầu của tỷ giá.
- Kết quả mô hình bán cấu trúc và so sánh cơ chế tỷ giá: Bảng 3.3 so sánh phương sai của các biến số vĩ mô dưới các cơ chế điều hành khác nhau. Kết quả chỉ ra rằng:
- Trước các cú sốc cầu trong nước và quốc tế, cơ chế tỷ giá thả nổi linh hoạt giúp tỷ giá hấp thu cú sốc tốt hơn, làm giảm đáng kể phương sai biến động của chênh lệch sản lượng, lạm phát và lãi suất.
- Tuy nhiên, trước cú sốc lãi suất chính sách trong nước, tỷ giá quá linh hoạt sẽ làm đồng nội tệ tăng giá mạnh, khuếch đại đà giảm của sản lượng và lạm phát. Sự can thiệp có mức độ vào tỷ giá theo khung IPF giúp giảm thiểu bất ổn này.
Chương 4: Kết luận và kiến nghị
Chương 4 tổng kết các phát hiện chính từ hai mô hình, khẳng định tính phù hợp của cách tiếp cận New Keynesian DSGE đối với việc phân tích kinh tế vĩ mô tại Việt Nam. Trên cơ sở kết quả mô phỏng và ước lượng, tác giả đưa ra các khuyến nghị chính sách về việc phối hợp đồng bộ giữa công cụ lãi suất và cung tiền/tín dụng, định hướng lộ trình tăng cường tính linh hoạt của tỷ giá trong trung hạn kết hợp can thiệp có mục tiêu trong ngắn hạn, duy trì tính quán tính làm mượt chính sách (policy smoothing), đồng thời chỉ ra các hạn chế của nghiên cứu và đề xuất các hướng phát triển tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học:
- Luận án đã nghiên cứu, xây dựng và ứng dụng thành công khung khổ mô hình SOE-DSGE và mô hình bán cấu trúc New Keynesian phù hợp với các đặc trưng của nền kinh tế Việt Nam. Điểm mới nổi bật là việc đưa tính không đồng nhất vào mô hình thông qua cấu trúc hai hộ gia đình đại diện (ràng buộc và không ràng buộc tài chính), cho phép mô hình hóa đồng thời hai công cụ điều hành chính sách: lãi suất (tác động lên khu vực tiếp cận vốn) và cung tiền/tín dụng (tác động lên khu vực bị hạn chế tài chính).
- Xây dựng phương trình tỷ giá tích hợp trong mô hình bán cấu trúc, phản ánh cơ chế điều hành tỷ giá thả nổi có quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và tiếp cận Khung khổ chính sách tích hợp (IPF) của IMF, giúp lượng hóa vai trò kép của tỷ giá trong việc hấp thu hoặc khuếch đại các cú sốc kinh tế.
- Cung cấp một khung phân tích cấu trúc tổng thể có tính bất biến đối với phê bình Lucas, khắc phục các hạn chế của các mô hình kinh tế lượng chuỗi thời gian truyền thống, tạo nền tảng cho việc mô phỏng phản ứng của toàn bộ hệ thống kinh tế và phân tích các kịch bản chính sách phản thực tế (counterfactual analysis).
Kiến nghị và giải pháp chính sách đề xuất:
- Phối hợp đồng bộ công cụ lãi suất và cung tiền/tín dụng: Khi nền kinh tế còn tỷ trọng lớn dân cư chịu ràng buộc tài chính, chính sách lãi suất cần được phối hợp chặt chẽ với công cụ cung tiền và các chính sách mở rộng tiếp cận tín dụng, bảo đảm an sinh xã hội khi đối mặt với các cú sốc tiêu cực mà không làm suy yếu hiệu lực của kênh truyền dẫn lãi suất.
- Điều hành tỷ giá linh hoạt có lộ trình và can thiệp có mục tiêu:
- Trong ngắn hạn: Ngân hàng Nhà nước cần phân biệt rõ bản chất của từng loại cú sốc để đưa ra phản ứng thích hợp; sử dụng các biện pháp can thiệp ngoại hối nhằm ngăn ngừa các biến động tỷ giá quá mức do đầu cơ hoặc cú sốc tài chính ngắn hạn.
- Trong trung và dài hạn: Từng bước gia tăng tính linh hoạt của tỷ giá song hành với tiến trình phát triển thị trường tài chính và nâng cao năng lực điều hành chính sách tiền tệ, phát huy vai trò hấp thu cú sốc ngoại sinh của tỷ giá thả nổi.
- Thực hiện chính sách nhất quán và làm mượt chính sách (policy smoothing): Tránh các động thái thay đổi lãi suất đột ngột hoặc duy trì lãi suất đi ngược lộ trình mô hình khuyến nghị, vì điều này sẽ làm gia tăng chi phí điều chỉnh vĩ mô và khuếch đại biên độ dao động của lạm phát và sản lượng ở các giai đoạn sau. Tránh áp dụng các biện pháp điều hành đơn tuyến, cô lập như "phá giá tiền tệ đơn thuần để hỗ trợ xuất khẩu" mà không tính đến tác động lan tỏa làm tăng lạm phát và buộc chính sách tiền tệ phải thắt chặt trở lại.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về dữ liệu và thời gian: Mẫu số liệu chuỗi thời gian phục vụ ước lượng mô hình DSGE kết thúc ở năm 2018, chưa bao gồm giai đoạn biến động đặc thù của đại dịch Covid-19 và các bất ổn kinh tế toàn cầu giai đoạn sau năm 2020.
- Hạn chế về cấu trúc vi mô của hệ thống tài chính: Mô hình mới chỉ dừng lại ở việc phân tách hai nhóm hộ gia đình dựa trên ràng buộc vay mượn cơ bản, chưa mô hình hóa chi tiết khu vực ngân hàng thương mại trung gian, tình trạng nợ xấu, sức ì tài chính sâu của doanh nghiệp hoặc bảng cân đối tài sản chi tiết của hệ thống ngân hàng.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng mô hình DSGE với khu vực tài chính ngân hàng chi tiết (banking sector and financial frictions theo hướng Gertler-Kiyotaki), cập nhật chuỗi số liệu sau đại dịch Covid-19, tích hợp chính sách vĩ mô an toàn (macroprudential policy) và phát triển mô hình dự báo kinh tế vĩ mô thường kỳ phục vụ trực tiếp cho công tác hoạch định chính sách.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên sâu có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Cơ quan hoạch định chính sách (Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, cơ quan tham mưu vĩ mô): Cung cấp khung phương pháp luận và công cụ định lượng để mô phỏng kịch bản, dự báo có điều kiện và đánh giá tác động tổng thể của các phối thức chính sách tiền tệ - tỷ giá trước các cú sốc bên ngoài.
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu: Cung cấp quy trình hoàn chỉnh từ xây dựng cơ sở lý thuyết, thiết lập hệ phương trình vi mô, kỹ thuật tuyến tính hóa log, đến quy trình lập trình ước lượng Bayes và cân chỉnh tham số mô hình DSGE trên phần mềm MATLAB.
- Giảng viên các trường đại học khối ngành kinh tế: Là tài liệu tham khảo giảng dạy chuyên đề kinh tế vĩ mô nâng cao, kinh tế học tiền tệ và toán kinh tế ứng dụng.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao luận án cần phân tách hai nhóm hộ gia đình trong mô hình SOE-DSGE?
Việc phân tách hai nhóm hộ gia đình (nhóm không bị ràng buộc tài chính và nhóm bị ràng buộc tài chính) nhằm phản ánh đúng thực tế cấu trúc thị trường tài chính Việt Nam. Nhóm không bị ràng buộc có thể vay mượn và tối ưu hóa tiêu dùng liên thời gian, chịu tác động trực tiếp từ kênh lãi suất. Nhóm bị ràng buộc tài chính không tiếp cận được thị trường vốn, mức tiêu dùng phụ thuộc vào thu nhập hiện tại và khối lượng tiền tệ/tín dụng sẵn có. Cấu trúc này giúp giải thích vì sao Ngân hàng Nhà nước cần sử dụng đồng thời cả công cụ giá (lãi suất) và công cụ lượng (cung tiền).
2. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự tồn tại của nhóm hộ gia đình bị ràng buộc tài chính có làm triệt tiêu kênh truyền dẫn lãi suất không?
Kết quả ước lượng và mô phỏng của luận án khẳng định sự tồn tại của khu vực hộ gia đình chịu ràng buộc tài chính không làm suy yếu tác động của kênh truyền dẫn lãi suất đối với nền kinh tế tổng thể. Kênh lãi suất vẫn duy trì hiệu lực điều chỉnh tổng cầu và lạm phát thông qua nhóm hộ gia đình có tiếp cận tài chính, trong khi công cụ cung tiền bổ trợ tác động trực tiếp lên nhóm còn lại.
3. Cơ chế điều hành tỷ giá có vai trò như thế nào trong việc hấp thu hoặc khuếch đại các cú sốc kinh tế?
Luận án chỉ ra vai trò kép của tỷ giá: đối với các cú sốc cầu trong nước và quốc tế, cơ chế tỷ giá thả nổi linh hoạt giúp hấp thu cú sốc, làm giảm biến động của sản lượng, lạm phát và lãi suất. Ngược lại, đối với cú sốc lãi suất chính sách trong nước, sự biến động quá mức của tỷ giá sẽ làm tăng giá đồng nội tệ mạnh, khuếch đại đà sụt giảm của sản lượng và lạm phát. Do đó, việc can thiệp ngoại hối có kiểm soát theo khung IPF giúp cân bằng và ổn định kinh tế vĩ mô.
4. Dữ liệu kinh tế vĩ mô nào được sử dụng để ước lượng mô hình và trong giai đoạn nào?
Luận án sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian theo quý trong giai đoạn 2001 – 2018 của Việt Nam và Mỹ. Các chuỗi dữ liệu chính gồm tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát CPI, lãi suất cho vay/lãi suất chính sách, tốc độ tăng trưởng cung tiền M2/tín dụng, tỷ giá danh nghĩa USD/VND cùng các chỉ số tỷ giá hiệu dụng NEER và REER, được thu thập từ GSO, NHNN, IMF và Fed St. Louis.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Đào Bùi Kiên Trung đã phát triển và ứng dụng thành công mô hình SOE-DSGE tích hợp hai nhóm hộ gia đình đại diện và mô hình bán cấu trúc New Keynesian có phương trình tỷ giá cho nền kinh tế Việt Nam. Công trình đã làm rõ cơ chế truyền dẫn đồng thời của công cụ lãi suất và cung tiền, cũng như vai trò của cơ chế điều hành tỷ giá trước các cú sốc kinh tế vĩ mô trong giai đoạn 2001–2018. Kết quả nghiên cứu khẳng định mô hình cân bằng tổng quát động ngẫu nhiên là công cụ phân tích cấu trúc có cơ sở khoa học vững chắc, cung cấp luận cứ thực nghiệm hữu ích cho công tác điều hành chính sách tiền tệ và ổn định kinh tế vĩ mô tại Việt Nam.