Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ LUẬT SƯ TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ 1. Lý luận về Luật sư trong giai đoạn Truy tố 1. Khái niệm giai đoạn truy tố trong tố tụng hình sự Tố tụng hình sự là toàn bộ những hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân có liên quan nhằm tham gia vào việc giải quyết đúng đắn, đảm bảo sự thật khách quan, không bỏ lọt tội phạm. Giai đoạn tố tụng là khoảng thời gian tính từ khi bắt đầu đến khi kết thúc một nhiệm vụ tố tụng.
Để giải quyết một vụ án hình sự một cách chính xác, khách quan, đầy đủ và toàn diện thì yêu cầu một vụ án hình sự phải trải qua nhiều giai đoạn tố tụng. Mỗi giai đoạn tố tụng đều phải có mối liên hệ mật thiết với nhau và truy tố là một trong năm giai đoạn của tố tụng hình sự bao gồm: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và giai đoạn thủ tục đặc biệt xem xét lại bản án/quyết định có hiệu lực pháp luật. Truy tố là giai đoạn của tố tụng hình sự, trong đó VKS tiến hành các hoạt động cần thiết nhằm truy tố bị can trước tòa án bằng bản cáo trạng hoặc ra những quyết định tố tụng khác để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Giai đoạn truy tố được bắt đầu từ khi Viện kiểm sát nhận được các tài liệu của vụ án hình sự (bao gồm cả kết luận điều tra và đề nghị truy tố) do Cơ quan điều tra chuyển đến và kết thúc bằng việc Viện kiểm sát ra một trong ba loại quyết định sau: Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng (kết luận về tội trạng), trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung, đình chỉ hay tạm đình chỉ vụ án hình sự.
Về mặt bản chất, truy tố là một giai đoạn độc lập của hoạt động tố tụng hình sự, giai đoạn truy tố về hình sự có chức năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể do luật định kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn bộ các hành vi tố tụng mà cơ quan Điều tra có thẩm quyền đã áp dụng để bảo đảm cho các 8 quyết định của Viện kiểm sát được chính xác và khách quan góp phần truy cứu trách nhiệm hình sự đúng tội, đúng người và đúng pháp luật. Hay nói cách khác thì giai đoạn truy tố được thực hiện trên cơ sở kết thúc điều tra và đề nghị truy tố của cơ quan điều tra, trên cơ sở đó Viện Kiểm sát – cơ quan thực hiện truy tố vụ án hình sự sẽ tiến hành các hoạt động chứng minh tiếp theo nhằm làm rõ sự thực khách quan của vụ án, sau đó quyết định vụ án bằng một trong các trường hợp sau: Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng (kết luận về tội trạng), trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án hình sự. Đặc điểm của giai đoạn truy tố trong tố tụng hình sự Giai đoạn truy tố trong tố tụng hình sự với tính chất là một bước của qúa trình tiến hành tố tụng nên nhất thiết phải có những đặc điểm chung cơ bản và bắt buộc như sau: Thứ nhất, về thời gian của giai đoạn truy tố: Như đã nêu ở phần 1.1, giai đoạn truy tố trong tố tụng hình sự được tính từ khi Viện Kiểm sát nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, đề nghị truy tố của cơ quan điều tra cho đến khi Viện Kiểm sát ra quyết định tố tụng thuộc một trong bốn trường hợp: Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng (kết luận về tội trạng), trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án hình sự. Thời hạn quyết định việc truy tố được quy định tại Điều 240 BLTTHS, cụ thể là thời hạn truy tố được tính : “Trong thời hạn 20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra”.
Trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn thời hạn quyết định việc truy tố nhưng không quá 10 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 15 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. 9 Thứ hai, chủ thể tiến hành tố tụng duy nhất trong giai đoạn truy tố là Viện kiểm sát, khác với các giai đoạn tố tụng khác có nhiều chủ thể tiến hành tố tụng. Tại Khoản 1, Điều 107 Hiến pháp năm 2013 có quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” và Điều 2 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 cũng quy định: “Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Trong đó “Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự” – Khoản 1 Điều 3 Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân.
Như vậy, thực hành quyền công tố là một trong hai chức năng hiến định Viện kiểm sát nhân dân. Thẩm quyền truy tố của Viện Kiểm sát được quy định cụ thể tại Điều 239 BLTTHS 2015. So với các giai đoạn khác thì ở giai đoạn truy tố Viện Kiểm sát là cơ quan duy nhất tiến hành tố tụng còn trong các giai đoạn khác, chủ thể tiến hành tố tụng có thể là một hoặc nhiều cơ quan, ví dụ: Trong giai đoạn khởi tố thì chủ thể tiến hành tố tụng có thể là cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát hoặc Hội đồng xét xử (Điều 153 BLTTHS 2015). Ngoài ra có người tham gia tố tụng như bị can, đương sự có quyền và lợi ích liên quan, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự; Thứ ba, về hoạt động tố tụng của người tiến hành tố tụng: Trong giai đoạn truy tố, hồ sơ vụ án đã hoàn chỉnh mà Cơ quan điều tra thấy rằng đủ để truy tố bị can ra trước Tòa án.
Tuy nhiên, để có đủ cơ sở và đảm bảo việc truy tố, trong giia đoạn này VKS cần nghiên cứu xem xét tất cả những vấn đề mang tính thủ tục tố tụng cũng như những vấn đề thuộc về nội dung vụ án thể hiện qua hồ sơ điều tra nhằm xác định quá trình điều tra vụ án 10 có tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự không, có còn những hạn chế và thiếu sót nào cần khắc phục hay không để kịp thời ra các quyết định tố tụng cần thiết nhằm bổ sung và hoàn thiện hồ sơ, khắc phục những vi phạm pháp luật của cơ quan điều tra, đảm bảo quyết định truy tố bị can đúng đắn, chính xác, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để tòa án xét xử, đảm bảo lợi ích nhà nước, lợi ích xã hội, tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của công dân. Viện Kiểm sát khi nghiên cứu hồ sơ vụ án cần phải xác định các vấn đề như: Vụ án mà cơ quan điều tra đề nghị truy tố có thuộc thẩm quyền của viện kiểm sát cáp minh hay không? Nếu không thuộc thẩm quyền truy tố của cấp mình thì phải đề nghị viện trưởng VKS chuyển cho VKS có thẩm quyền; Có cần phải cáp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn không? Việc điều tra đã đầy đủ, đã hoàn toàn tuân thủ pháp luật cũng như các nguyên tắc của tố tụng chưa? Có căn cứ để trả hồ sơ điều tra bổ sung không? Có căn cứ để ra các quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án hay không? Đã có đủ căn cứ để làm quyết định truy tố bị can chưa?. Việc xác định cụ thể những vấn đề nêu trên để đảm bảo khi ra bất cứ quyết định tố tụng nào trong giai đoạn truy tố thì các quyết định đó phải có căn cứ và hợp pháp, tránh tình trạng quá chú trọng đến việc xác định những vấn đề cần thiết để làm quyết định truy tố mà bỏ qua không xem xét đến các vấn để khác của vụ án dẫn đến việc không đảm bảo được các điều kiện cho tòa án xét xử cũng như ảnh hưởng tới quyền và lợi ích chính đáng của bị can, đồng thời cũng hạn chế được tình trạng sau khi đã chuyển cáo trạng cùng hồ sơ vụ án sang cho tòa án lại bị trả lại vì không đủ căn cứ để quyết định đưa vụ án ra xét xử. Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, xác định các vấn đề quan trọng nêu trên, VKS nếu xét thấy cần thiết thì căn cứ theo Điều 236 BLTTHS có những hoạt động như :Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế khác; Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu liên quan 11 đến vụ án trong trường hợp cần thiết; Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ để quyết định việc truy tố hoặc khi Tòa án yêu cầu điều tra bổ sung mà xét thấy không cần thiết phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra; Quyết định khởi tố, quyết định thay đổi, quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án, bị can trong trường hợp phát hiện còn có hành vi phạm tội, người phạm tội khác trong vụ án chưa được khởi tố, điều tra; Quyết định trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để yêu cầu điều tra bổ sung; Quyết định tách, nhập vụ án; chuyển vụ án để truy tố theo thẩm quyền, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh; Quyết định gia hạn, không gia hạn thời hạn truy tố, thời hạn áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; Quyết định truy tố; Quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can; quyết định phục hồi vụ án, quyết định phục hồi vụ án đối với bị can.