Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ BIỆN PHÁP ĐẶT TIỀN ĐỂ BẢO ĐẢM 1. Khái quát chung về biện pháp đặt tiền để bảo đảm 1. Khái niệm biện pháp đặt tiền để bảo đảm Theo BLLTHS năm 2015, biện pháp đặt tiền để bảo đảm là một BPNC. BPNC lần đầu được nhắc đến trong pháp luật Tố tụng Hình sự Việt Nam tại Sắc lệnh 40 ngày 29/3/1946 chủ tịch chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà.
Sau đó, thuật ngữ “BPNC” đã được chính thức ghi nhận tại chương V trong BLTTHS năm 1988 và lần lượt được quy định tại chương VI BLTTHS năm 2003, chương VII BLTTHS năm 2015. Qua những lần sửa đổi và bổ sung, các BPNC được quy định trong BLTTHS năm 2015 bao gồm: giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh. Mặc dù đã được ghi nhận trong hệ thống pháp luật Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ, BPNC vẫn chưa có một khái niệm cụ thể được quy định trong luật. Theo tác giả Hoàng Thị Quỳnh Chi, “BPNC là một trong các biện pháp cưỡng chế TTHS được pháp luật TTHS quy định, do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyết định áp dụng đối với bị can, bị cáo, người phạm tội quả tang hoặc người bị nghi là phạm tội, nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội của họ, không để họ tiếp tục phạm tội mới hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử, hoặc nhằm bảo đảm việc thi hành án.”2 Theo tác giả Nguyễn Văn Lâm, “Các biện pháp ngăn chặn là các biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự do những người có thẩm quyền theo luật định áp dụng đối với những người trong những trường hợp cụ thể do pháp luật tố tụng hình sự quy định nhằm ngăn chặn tội phạm, đảm bảo cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và việc chấp hành bản án hình sự một cách đúng đắn, khách quan.”3 2 Hoàng Thị Quỳnh Chi (2008), “Các biện pháp ngăn chặn theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Cộng hòa Liên bang Đức”, https://vksndtc.vn/tin-tuc/cac-bien-phap-ngan-chan-theo-quy-dinh-cua-bo-luat-- t7847.html?Page=2#new-related, truy cập ngày 12/05/2022 3 Nguyễn Văn Lâm (2015), Những biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra theo Luật Tố tụng hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk), Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.
7 Về biện pháp đặt tiền để bảo đảm, trong suốt giai đoạn từ năm 1988 đến 2003, BLTTHS sử dụng tên gọi “Đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm” để chỉ biện pháp này. Sau đó, BLTTHS năm 2015 đã thay đổi tên của biện pháp này thành “Đặt tiền để bảo đảm” và định nghĩa tại khoản 1 Điều 122 BLTTHS năm 2015 như sau: “Đặt tiền để bảo đảm là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhân thân và tình trạng tài sản của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ hoặc người thân thích của họ đặt tiền để bảo đảm.” Tuy đã được định nghĩa trong luật, biện pháp này vẫn được một số tác giả diễn giải theo các cách khác nhau: Theo tác giả Lê Thị Kim Âu: “Biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm là một BPNC nhằm thay thế biện pháp tạm giam, do CQĐT, VKS, Tòa án áp dụng đối với các đối tượng là bị can, bị cáo khi họ đáp ứng được các điều kiện về việc đặt tiền hoặc tài sản, nhằm mục đích bảo đảm sự có mặt của họ khi được triệu tập.”4 Theo tác giả Bùi Thị Thu Hồng: “Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm là BPNC của TTHS để thay thế biện pháp tạm giam do CQĐT, VKS, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo nhằm bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của các CQTHTT và ngăn ngừa họ có hoạt động cản trở việc giải quyết vụ án”5. Có thể nói, việc BLTTHS năm 2015 loại bỏ “tài sản có giá trị” ra khỏi nhóm đối tượng được điều chỉnh bởi biện pháp này là một đổi mới mang tính tiến bộ.
Theo BLDS, tiền được xem là một trong loại tài sản6 nên việc các BLTTHS trước năm 2015 tách tiền và tài sản thành hai đối tượng độc lập là khá dư thừa7. Ngoài ra, cụm từ “có giá trị” cũng là một điểm đáng lưu ý bởi nó có thể dẫn đến cách giải quyết thiếu thống nhất ở các cơ quan khác nhau. Cụ thể, những tiêu chí cũng như định nghĩa cụ thể cho tính chất “có giá trị” chưa hề được quy định rõ trong luật. Tuy nhiên, ngay cả khi có cơ chế thẩm định thì các bên cũng tốn thêm thời gian và chi phí cho công tác này.
Như vậy, việc áp dụng BPNC sẽ không chỉ tốn kém về tiền bạc mà còn làm 4 Lê Thị Kim Âu (2011), Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong Tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật TPHCM, tr. 5 Bùi Thị Thu Hồng (2015), Biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong Tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 6 Khoản 1 Điều 105 BLDS 7 Lê Thị Kim Âu (2011), tlđd (4), tr. 8 chậm quá trình điều tra.
Hơn nữa, với tính chất “có giá trị”, các tài sản nói trên sẽ đòi hỏi quy trình bảo quản nghiêm ngặt. Một vấn đề đặt ra đó là liệu đơn vị tiếp nhận tài sản có đủ điều kiện, cơ sở vật chất để bảo quản tài sản hay phải giao tài sản đến một bên thứ ba có chuyên môn hơn. Trong trường hợp phải vận chuyển và giao tài sản cho bên có chuyên môn, thì các chi phí liên quan đến vận chuyển và bảo quản phát sinh sẽ do chủ thể nào chịu? Chính vì những bất cập nói trên, tác giả cho rằng việc loại nhóm “tài sản có giá trị” ra khỏi tên gọi của biện pháp đặt tiền để bảo đảm là hợp lý. *Phân biệt bảo lĩnh và đặt tiền để bảo đảm: Biện pháp đặt tiền để bảo đảm dễ dàng bị nhầm lẫn với bảo lĩnh (hay còn được mọi người quen gọi là bảo lãnh) bởi trong một số trường hợp, biện pháp bảo lãnh trong BLDS có liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ bằng tiền.
Ngoài ra, báo chí và một số tài liệu của các tổ chức quốc tế cũng sử dụng thuật ngữ “đặt tiền bảo lãnh”8, “chế độ tiền bảo lãnh tạm tha”9, hay “nộp tiền bảo lãnh”10 thay cho cụm từ “đặt tiền để bảo đảm” khi nhắc đến BPNC này trong pháp luật nước ngoài. Hai biện pháp nói trên có khá nhiều điểm tương đồng. Đầu tiên, cả hai đều là BPNC thay thế biện pháp tạm giam, áp dụng trong cả 4 giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và giống nhau về người có thẩm quyền áp dụng.11 Ngoài ra, chủ thể nhận bảo lĩnh hay đặt tiền đều phải cam đoan và bảo đảm và chịu trách nhiệm bị can, bị cáo phải có mặt theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng. Trong trường hợp nghĩa vụ cam đoan bị vi phạm, BPNC khác sẽ được áp dụng.
Mặc dù đặt tiền để bảo đảm và bảo lĩnh có những điểm giống nhau dẫn đến nhầm lẫn, chúng vẫn có nhiều sự khác biệt. Trong đó, điểm khác biệt lớn nhất để phân biệt giữa hai biện pháp này là cơ sở bảo đảm. Đối với bảo lĩnh, cơ sở bảo đảm là uy tín của người bảo lĩnh còn đối với đặt tiền để bảo đảm, cơ sở này chính là tiền của bị can, bị cáo, hoặc người thân thích của họ. 8 Quốc Đạt (2018), “Chế định đặt tiền bảo lãnh tại ngoại ở Mỹ”, https://vnexpress.net/che-dinh-dat-tien-bao- lanh-tai-ngoai-o-my-3773984.html, truy cập ngày 12/05/2022 9 “Chế độ tiền bảo lãnh tạm tha ở Mỹ” https://cand.vn/Su-kien-Binh-luan-antg/Che-do-tien-bao-lanh- tam-tha-o-My-i294701/ , truy cập ngày 12/05/2022 10 Văn phòng Liên Hợp Quốc về chống Ma túy và Tội phạm (UNODC), “Tiếp cận sớm trợ giúp pháp lý trong các quá trình tố tụng hình sự: Sổ tay cho các nhà hoạch định chính sách và các nhà thực tiễn (2014)”, https://www.org/documents/justice-and-prison-reform/Early_access_to_legal_aid_Vie_final.pdf, truy cập ngày 12/05/2022 11 Điều 113 BLTTHS 2015 9 1.
Đặc điểm của biện pháp đặt tiền để bảo đảm Thông qua các khái niệm được phân tích ở phần trên, có thể khái quát về biện pháp đặt tiền để đảm bảo trong BLTTHS năm 2015 như sau: biện pháp đặt tiền để bảo đảm là một BPNC thay thế tạm giam, cho phép bị can, bị cáo nộp tiền của mình hoặc của người thân cho cơ quan có thẩm quyền để được tại ngoại. CQĐT, VKS, Tòa án có thể áp dụng biện pháp này nhằm bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của các CQTHTT và ngăn ngừa khả năng cản trở việc giải quyết vụ án. Từ các phân tích trên, có thể thấy, khái niệm biện pháp đặt tiền để bảo đảm theo BLTTHS năm 2015 có một số đặc điểm như sau: Thứ nhất, biện pháp đặt tiền để bảo đảm là một BPNC thay thế cho biện pháp tạm giam. Vì vậy, thời điểm áp dụng BPNC này, đó là khi bị can, bị cáo đã thỏa mãn các điều kiện để bị tạm giam12, và đang trong thời hạn bị tạm giam.
Tuy nhiên, họ tự mình hoặc được người thân đặt tiền để bảo đảm và được CQTHTT chấp nhận cho họ được áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm để thay thế cho biện pháp tạm giam mà họ đang bị áp dụng.13 Thứ hai, đối tượng áp dụng của biện pháp này là bị can, bị cáo và người thân thích hay người đại diện của họ trong trường hợp họ không đủ khả năng để tự đại diện cho chính mình (người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất). Đồng thời, bị can, bị cáo phải thuộc trường hợp có thể áp dụng BPNC thay thế tạm giam. Thứ ba, việc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm trước hay sau khi bị can, bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam đều phải thỏa mãn 03 điều kiện chính: Bị can, bị cáo thuộc trường hợp có thể áp dụng BPNC thay thế tạm giam;14 Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân, tình trạng tài sản của bị can, bị cáo;15 12 Điều 119 BLTTHS năm 2015 13 Hoàng Kim Ngọc, “Căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015” http://vkskh.vn/can-cu-ap-dung-bien-phap-ngan-chan-thay-the-tam-giam-theo- qui-dinh-cua-bo-luat-to-tung-hinh-su-nam_1815_381_2_a.