Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế và sự phát triển của khoa học công nghệ đặt ra nhiều thách thức đối với công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Trước diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) giữ vai trò then chốt trong hệ thống tư pháp hình sự với hai chức năng hiến định: thực hành quyền công tố (THQCT) và kiểm sát hoạt động tư pháp, được quy định tại Điều 2 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 và Hiến pháp năm 2013. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nghị quyết số 49-NQ/TW năm 2005 của Bộ Chính trị và Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010 đều nhấn mạnh yêu cầu cải cách tư pháp, hoàn thiện thể chế nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của Viện kiểm sát, tăng cường trách nhiệm công tố và bảo đảm không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm.

Mặc dù hệ thống cơ quan tiến hành tố tụng đã đạt được nhiều kết quả, thực tiễn vẫn ghi nhận những hạn chế như tình trạng truy tố sai, kéo dài thời gian giải quyết vụ án hoặc nhận thức chưa đầy đủ về mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Trong đó, giai đoạn truy tố là giai đoạn tố tụng độc lập do Viện kiểm sát chủ trì, giữ vai trò kiểm tra, đánh giá toàn diện kết quả điều tra để ra quyết định xử lý bị can. Việc đánh giá thực trạng áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 trong giai đoạn này trên một địa bàn cụ thể là yêu cầu cấp thiết.

Khóa luận xác định mục đích nghiên cứu là làm rõ cơ sở lý luận về THQCT trong giai đoạn truy tố; phân tích các quy định của BLTTHS năm 2015; đánh giá khách quan thực trạng áp dụng tại VKSND tỉnh Ninh Bình; từ đó xác định vướng mắc và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả công tác.

Tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ lý luận về THQCT trong giai đoạn truy tố và lý luận pháp luật về THQCT trong giai đoạn truy tố;
  2. Làm rõ thực trạng về pháp luật THQCT trong giai đoạn truy tố ở địa bàn tỉnh Ninh Bình hiện nay;
  3. Chỉ rõ những nguyên nhân, kết quả đạt được, những tồn tại hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại hạn chế trong pháp luật về THQCT trong giai đoạn truy tố và thực tiễn thực thi trên địa bàn tỉnh Ninh Bình;
  4. Đề xuất các giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về THQCT trong giai đoạn truy tố.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi THQCT trong giai đoạn truy tố và thực tiễn thực thi trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. Phạm vi nghiên cứu về nội dung tập trung vào các quy phạm pháp luật trong Luật Tổ chức VKSND năm 2014, BLTTHS năm 2015 và các văn bản liên quan; phạm vi không gian là VKSND tỉnh Ninh Bình; phạm vi thời gian là các số liệu thống kê thực tiễn giai đoạn 2020 – 2024.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Nền tảng lý luận và pháp lý của đề tài dựa trên hệ thống các văn bản pháp luật, văn kiện chỉ đạo của Đảng và các công trình khoa học pháp lý chuyên ngành, bao gồm:

  • Hiến pháp năm 2013;
  • Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 (Điều 2, Điều 3, Điều 16, Điều 17);
  • Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (các Điều 20, 41, 85, 127, 132, 153, 155, 157, 179, 183, 186, 187, 189, 231, 236, 237, 240, 242, 243, 245, 247, 248, 249, 419) và các điểm so sánh với BLTTHS năm 2003;
  • Bộ luật Hình sự năm 2015 (Điều 16, Điều 29, Điều 91);
  • Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố ban hành kèm theo Quyết định số 111/QĐ-VKSTC ngày 17/04/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
  • Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022, Nghị quyết số 49-NQ/TW năm 2005, Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị;
  • Các công trình nghiên cứu tiền bối: Luận án tiến sĩ của Lê Thị Tuyết Hoa (2002); Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Minh Hồng (2012), Vũ Đức Ninh (2013), Nguyễn Thị Thanh Huyền (2015), Nguyễn Công Cường (2016), Võ Thị Xuân Hương (2017), Phùng Thị Khánh Linh (2020); Sách chuyên khảo của Nguyễn Hải Phong (2013).

Phương pháp luận của công trình dựa trên chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các chủ trương, đường lối cải cách tư pháp của Đảng. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được triển khai gồm:

  • Phương pháp phân tích, so sánh, bình luận: sử dụng để làm rõ bản chất các khái niệm, quy định pháp luật và điểm mới của BLTTHS năm 2015 so với BLTTHS năm 2003;
  • Phương pháp tổng hợp, diễn giải, quy nạp, đối chiếu, đánh giá: sử dụng để xử lý hệ thống số liệu, báo cáo nghiệp vụ và làm rõ thực trạng áp dụng pháp luật;
  • Phương pháp kết hợp lý luận và thực tiễn: đối chiếu giữa quy định tố tụng với việc giải quyết các vụ án cụ thể tại địa phương nhằm tìm ra bất cập thực tế.

Nguồn dữ liệu của khóa luận gồm hệ thống văn bản pháp luật hiện hành và các báo cáo tổng kết công tác chuyên môn, số liệu thụ lý - giải quyết vụ án hình sự trong giai đoạn truy tố tại VKSND tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2020 – 2024.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố

Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm nền tảng trong khoa học luật tố tụng hình sự:

  • Quyền công tố: Được xác định là quyền lực do Nhà nước trao cho Viện kiểm sát để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật nhằm phát hiện tội phạm, truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với người phạm tội và bảo vệ quan điểm truy tố trước Tòa án.
  • Thực hành quyền công tố: Là hoạt động của VKSND trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.
  • Giai đoạn truy tố: Là một giai đoạn độc lập của quá trình tố tụng hình sự, bắt đầu từ khi Viện kiểm sát nhận được hồ sơ vụ án cùng bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố do Cơ quan điều tra (CQĐT) chuyển đến, kết thúc bằng việc Viện kiểm sát ra một trong ba quyết định: truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng; trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung; hoặc đình chỉ/tạm đình chỉ vụ án hình sự.

Chương này phân tích các đặc điểm của THQCT trong giai đoạn truy tố, nhấn mạnh Viện kiểm sát là cơ quan nhà nước duy nhất nắm giữ quyền quyết định đưa bị can ra xét xử trước Tòa án. Ý nghĩa của hoạt động này được làm rõ trên hai phương diện:

  • Ý nghĩa pháp lý: Bảo đảm việc truy cứu TNHS đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người bị buộc tội và các đương sự; ngăn chặn oan sai, bỏ lọt tội phạm;
  • Ý nghĩa chính trị - xã hội: Củng cố niềm tin của nhân dân vào công lý, bảo đảm nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.

Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn truy tố được xác định là mối quan hệ song trùng, tác động tương hỗ. Hoạt động kiểm sát là tiền đề, nền tảng bảo đảm cho việc ra quyết định truy tố chính xác, khách quan và hợp pháp.

Chương 2: Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố

Chương 2 phân tích chi tiết 8 nhóm nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát theo quy định của BLTTHS năm 2015, đối chiếu với các bất cập trước đây của BLTTHS năm 2003:

  1. Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can: Kiểm sát viên (KSV) kiểm tra các biện pháp ngăn chặn khi tiếp nhận hồ sơ. Thời hạn tạm giam để truy tố được quy định tại Khoản 1 Điều 240 BLTTHS năm 2015 (không quá 20 ngày đối với tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng; không quá 30 ngày đối với tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng; thời gian gia hạn tương ứng không quá 10, 15, 30 ngày). Bổ sung thẩm quyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp cưỡng chế (kê biên tài sản, phong tỏa tài sản, áp giải, dẫn giải theo Điều 127). Xử lý việc truy nã bị can theo Điều 231 và Điều 240 (tách hoặc tạm đình chỉ vụ án khi bị can trốn).
  2. Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu liên quan đến vụ án: Quy định mới tại Điều 236 tạo công cụ để Viện kiểm sát chủ động thu thập chứng cứ làm rõ căn cứ buộc tội hoặc chứng minh sự vô tội, tránh việc trả hồ sơ không cần thiết.
  3. Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra: Theo Điều 16, Điều 17 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 và Điều 236, 237 BLTTHS năm 2015, VKS trực tiếp hỏi cung bị can (Điều 183), lấy lời khai người làm chứng (Điều 186), lấy lời khai bị hại và các đương sự (Điều 187), tiến hành đối chất (Điều 189), thực nghiệm điều tra (Điều 153) để kiểm tra, bổ sung chứng cứ phục vụ quyết định truy tố hoặc khi Tòa án yêu cầu điều tra bổ sung mà xét thấy không cần trả hồ sơ cho CQĐT.
  4. Quyết định khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, bị can: Áp dụng khi phát hiện hành vi phạm tội hoặc người phạm tội khác chưa được khởi tố, điều tra (Điều 41, 179, 236, 245). Bản cáo trạng theo Điều 243 được bổ sung nhiều nội dung bắt buộc về nhân thân, động cơ, mức độ thiệt hại, tình tiết tăng nặng/giảm nhẹ nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng.
  5. Quyết định trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để yêu cầu điều tra bổ sung: Điều 245 BLTTHS năm 2015 cụ thể hóa các trường hợp trả hồ sơ (thiếu chứng cứ theo Điều 85 mà VKS không thể tự bổ sung; có căn cứ khởi tố tội khác hoặc đồng phạm khác; có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng), khắc phục tính định tính của BLTTHS năm 2003.
  6. Quyết định tách, nhập vụ án; chuyển vụ án; áp dụng thủ tục rút gọn; áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh: Điều 242 BLTTHS năm 2015 trao quyền trực tiếp cho VKS tách hoặc nhập vụ án, chấm dứt tình trạng phải trả hồ sơ cho CQĐT để thực hiện kỹ thuật tách/nhập vụ án như thời kỳ áp dụng luật cũ.
  7. Quyết định gia hạn, không gia hạn thời hạn truy tố, thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế: Quy định chặt chẽ thời hạn truy tố và thời hạn gia hạn tại Điều 240, bảo đảm quyền con người của bị can.
  8. Quyết định truy tố: Quy định tại Điều 243 về cấu trúc bản cáo trạng; quy định thời hạn 03 ngày (tối đa 10 ngày đối với vụ án phức tạp) để giao cáo trạng cho bị can và chuyển hồ sơ sang Tòa án; thông báo việc tạm giam trước 07 ngày trước khi hết hạn.
  9. Quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; quyết định phục hồi vụ án: Tách biệt thành hai điều khoản độc lập (Điều 247 về tạm đình chỉ và Điều 248 về đình chỉ); bổ sung căn cứ tạm đình chỉ khi chờ kết quả giám định, định giá tài sản, tương trợ tư pháp; quy định thủ tục phục hồi vụ án tại Điều 249.

Chương 3: Thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình và giải pháp nâng cao hiệu quả

Chương 3 khái quát cơ cấu tổ chức và phân tích thực tiễn thực thi nhiệm vụ của VKSND tỉnh Ninh Bình:

  • Quá trình hình thành và bộ máy: VKSND tỉnh Ninh Bình được thành lập lại theo Quyết định số 17/QĐ-VKSTC ngày 15/01/1992 (chính thức hoạt động từ 01/4/1992). Đến năm 2023, bộ máy gồm 8 phòng nghiệp vụ và 8 VKSND cấp huyện, thành phố với tổng số 160 cán bộ, công chức (100% có trình độ đại học trở lên, trong đó có 19 thạc sĩ luật, 42 người có trình độ cao cấp lý luận chính trị) cùng 30 lao động hợp đồng.
  • Kết quả tổng hợp giai đoạn 2020 – 2024:
Năm Số thụ lý (Vụ) Số thụ lý (Bị can) Số giải quyết (Vụ) Số giải quyết (Bị can) Tỷ lệ giải quyết vụ (%) Tỷ lệ giải quyết bị can (%)
2020 732 1381 732 1381 100% 100%
2021 759 1482 758 1476 99,7% 99,4%
2022 725 1336 725 1336 100% 100%
2023 778 1391 778 1391 100% 100%
2024 777 1369 777 1369 100% 100%
Tổng 3771 7409 3769 7401 99,9% 99,9%

(Nguồn: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình)

  • Chi tiết hoạt động qua các năm:
    • Năm 2020: Thụ lý 732 vụ / 1.381 bị can (mới thụ lý 729 vụ / 1.378 bị can). Giải quyết 732 vụ / 1.381 bị can (100%). Quyết định truy tố 731 vụ / 1.379 bị can (đúng hạn, đúng tội danh đạt 100%). Đình chỉ 1 vụ / 2 bị can (theo Điểm a Khoản 1 Điều 29 Bộ luật Hình sự). Ban hành 883 yêu cầu điều tra (tỷ lệ 91,69%). KSV tham gia hỏi cung 100% bị can (trực tiếp hỏi cung 1.172 bị can, tham gia hỏi cung 391 bị can). Áp dụng thủ tục rút gọn 11 vụ; xác định và giải quyết 66 vụ án trọng điểm (7,92%). Ban hành Kiến nghị tổng hợp số 02/KN-VKS ngày 15/11/2020 gửi Thủ trưởng Cơ quan CSĐT Công an tỉnh; 1 kiến nghị gửi Giám đốc Sở Y tế; 9 kiến nghị gửi Chủ tịch UBND cấp huyện.
    • Năm 2021: Thụ lý 759 vụ / 1.482 bị can. Giải quyết 758 vụ / 1.476 bị can (99,7%). Truy tố 757 vụ / 1.474 bị can (đúng hạn, đúng tội danh đạt 100%). Đình chỉ 1 vụ / 2 bị can (Khoản 2 Điều 155 BLTTHS 1 vụ/1 bị can; Khoản 7 Điều 157 BLTTHS 1 bị can chết). Đang giải quyết: 1 vụ / 6 bị can. Ban hành 928 yêu cầu điều tra (91,51%). KSV trực tiếp hỏi cung 432 bị can, tham gia cùng Điều tra viên 1.343 bị can. Áp dụng thủ tục rút gọn 5 vụ; giải quyết 58 vụ án trọng điểm (7,62%).
    • Năm 2022: Thụ lý 725 vụ / 1.336 bị can. Giải quyết 725 vụ / 1.336 bị can (100%). Truy tố 723 vụ / 1.334 bị can (đúng hạn, đúng tội danh đạt 100%). Đình chỉ 2 vụ / 2 bị can (Khoản 2 Điều 155 BLTTHS 1 vụ/1 bị can; Khoản 2 Điều 29 BLHS 1 vụ/1 bị can). 100% vụ án có yêu cầu điều tra (657 yêu cầu bằng văn bản). KSV trực tiếp hỏi cung 539 bị can, tham gia hỏi cung 1.219 bị can. Áp dụng thủ tục rút gọn 2 vụ; giải quyết 69 vụ án trọng điểm (9,53%).
    • Năm 2023: Thụ lý và giải quyết 778 vụ / 1.391 bị can (100%). Quyết định truy tố 777 vụ / 1.390 bị can (đúng hạn, đúng tội danh đạt 100%). Đình chỉ 1 vụ / 1 bị can (bị hại rút đơn). 100% vụ án có yêu cầu điều tra. KSV trực tiếp và tham gia hỏi cung 1.876 bị can. Áp dụng thủ tục rút gọn 3 vụ; giải quyết 68 vụ án trọng điểm (10,2%). Ban hành 14 kiến nghị gửi Chủ tịch UBND cấp huyện; 10 thông báo rút kinh nghiệm nội bộ.
    • Năm 2024: Giải quyết đạt 100% trên tổng số 777 vụ / 1.369 bị can thụ lý.

Chương 3 đồng thời nêu ra các nguyên nhân dẫn đến vướng mắc và đề xuất các nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật TTHS và nâng cao chất lượng thực thi quyền công tố của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố.

Kết quả và đóng góp

Công trình đã tổng hợp và phản ánh các kết quả thực tiễn chuyên môn của ngành Kiểm sát tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2020 – 2024:

  • Thụ lý 3.771 vụ án với 7.409 bị can, giải quyết 3.769 vụ với 7.401 bị can, đạt tỷ lệ chung 99,9%;
  • Tỷ lệ ra quyết định truy tố đúng thời hạn, đúng tội danh đạt 100% trong tất cả các năm;
  • Tỷ lệ vụ án có yêu cầu điều tra đạt từ 91,51% đến 100%; Kiểm sát viên tham gia và trực tiếp hỏi cung 100% số bị can trong các vụ án hình sự;
  • Giải quyết hàng trăm vụ án trọng điểm (chiếm từ 7,62% đến 10,2% mỗi năm) và áp dụng hiệu quả thủ tục rút gọn;
  • Ban hành nhiều kiến nghị phòng ngừa vi phạm gửi Cơ quan CSĐT Công an tỉnh, Sở Y tế và Chủ tịch UBND cấp huyện.

Về mặt đóng góp khoa học và thực tiễn, công trình:

  • Hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận về THQCT trong giai đoạn truy tố, phân biệt rành mạch với giai đoạn điều tra và xét xử;
  • Phân tích sâu 8 nhóm thẩm quyền mới theo BLTTHS năm 2015, chỉ rõ những điểm cải tiến so với BLTTHS năm 2003 (như quyền trực tiếp điều tra, quyền tách/nhập vụ án, quy định cụ thể hóa căn cứ trả hồ sơ điều tra bổ sung);
  • Cung cấp chuỗi số liệu thực chứng 5 năm (2020 – 2024) tại VKSND tỉnh Ninh Bình, tạo cơ sở cho việc đánh giá hiệu quả áp dụng pháp luật tố tụng hình sự tại địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có các phạm vi giới hạn sau:

  • Phạm vi khảo sát thực tiễn tập trung tại VKSND tỉnh Ninh Bình, chưa so sánh đối chiếu với các địa phương khác có điều kiện kinh tế - xã hội hoặc mô hình tội phạm đặc thù khác;
  • Khoảng thời gian thu thập dữ liệu tập trung trong 5 năm (2020 – 2024);
  • Một số nội dung giải pháp chi tiết của chương 3 được trình bày cô đọng theo khuôn khổ dung lượng của khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật.

Hướng nghiên cứu mở rộng có thể thực hiện:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát liên tỉnh hoặc toàn quốc nhằm so sánh sự khác biệt trong áp dụng các quy định của BLTTHS năm 2015 giữa các vùng miền;
  • Nghiên cứu chuyên sâu về các rào cản thực tiễn khi Kiểm sát viên trực tiếp tiến hành các hoạt động điều tra (như đối chất, thực nghiệm điều tra) trong giai đoạn truy tố.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn cho:

  • Sinh viên, học viên cao học ngành Luật Tố tụng hình sự và Tư pháp hình sự: Tham khảo cấu trúc nghiên cứu lý luận, phương pháp phân tích điều luật và cách thức xử lý số liệu thống kê ngành Kiểm sát;
  • Kiểm sát viên, Điều tra viên, Thẩm phán, Luật sư: Sử dụng nội dung phân tích tại Chương 2 làm tài liệu tham khảo trong việc xác định thẩm quyền, thời hạn, căn cứ trả hồ sơ điều tra bổ sung, điều kiện tách/nhập vụ án và thủ tục ban hành cáo trạng;
  • Các cơ sở nghiên cứu và đào tạo luật: Sử dụng làm tài liệu tham khảo cho học phần Luật Tố tụng hình sự Việt Nam và môn học Thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp.

Câu hỏi thường gặp

1. Thời hạn quyết định việc truy tố theo quy định của BLTTHS năm 2015 được phân định như thế nào?
Theo Khoản 1 Điều 240 BLTTHS năm 2015, thời hạn truy tố là 20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng; 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Trường hợp phức tạp, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn nhưng không quá 10 ngày (tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng), không quá 15 ngày (tội rất nghiêm trọng) và không quá 30 ngày (tội đặc biệt nghiêm trọng).

2. Tổng số vụ án và bị can VKSND tỉnh Ninh Bình đã thụ lý và giải quyết trong giai đoạn 2020 – 2024 là bao nhiêu?
Trong 5 năm (2020 – 2024), VKSND tỉnh Ninh Bình đã thụ lý 3.771 vụ án với 7.409 bị can; đã giải quyết 3.769 vụ với 7.401 bị can, đạt tỷ lệ giải quyết 99,9% ở cả số vụ và số bị can. Tỷ lệ ra quyết định truy tố đúng thời hạn, đúng tội danh đạt 100%.

3. BLTTHS năm 2015 đã khắc phục hạn chế nào của BLTTHS năm 2003 về việc trả hồ sơ điều tra bổ sung?
BLTTHS năm 2003 quy định chung chung trường hợp "còn thiếu những chứng cứ quan trọng", dẫn đến nhận thức không thống nhất và án bị trả đi trả lại. Điều 245 BLTTHS năm 2015 đã khắc phục bằng cách quy định cụ thể: trả hồ sơ khi thiếu chứng cứ chứng minh một trong các vấn đề tại Điều 85 BLTTHS năm 2015 mà VKS không thể tự bổ sung; có căn cứ khởi tố tội phạm khác hoặc đồng phạm khác; hoặc có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

4. Kiểm sát viên được trực tiếp tiến hành những hoạt động điều tra nào trong giai đoạn truy tố?
Theo Điều 236, Điều 237 BLTTHS năm 2015 và các điều luật liên quan, KSV được trực tiếp hỏi cung bị can (Điều 183), lấy lời khai người làm chứng (Điều 186), lấy lời khai người bị hại và đương sự (Điều 187), tiến hành đối chất (Điều 189) và thực nghiệm điều tra (Điều 153).

5. VKSND tỉnh Ninh Bình đã ban hành những văn bản kiến nghị phòng ngừa vi phạm đáng chú ý nào trong giai đoạn 2020 – 2023?
VKSND tỉnh Ninh Bình đã ban hành Kiến nghị tổng hợp số 02/KN-VKS (15/11/2020) gửi Thủ trưởng Cơ quan CSĐT Công an tỉnh; 1 kiến nghị gửi Giám đốc Sở Y tế tỉnh Ninh Bình; 9 kiến nghị năm 2020 và 14 kiến nghị năm 2023 gửi Chủ tịch UBND cấp huyện yêu cầu tăng cường quản lý nhà nước, phòng ngừa tội phạm trên các lĩnh vực an toàn giao thông, bảo trợ xã hội, chống trộm cắp và xâm hại tình dục trẻ em.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Đức Hiếu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố và phân tích chi tiết các quy định tương ứng của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Thông qua hệ thống số liệu thống kê giai đoạn 2020 – 2024 tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình, công trình đã phản ánh toàn diện kết quả thực tiễn, làm rõ các thẩm quyền tố tụng và chỉ ra những đóng góp cụ thể của ngành Kiểm sát địa phương trong công tác phòng chống tội phạm. Đây là tài liệu có giá trị tham khảo về mặt khoa học pháp lý và kỹ năng nghiệp vụ kiểm sát hình sự.