Chương 1: Một số vấn đề lý luận và pháp luật về án treo theo pháp luật Hình sự Việt Nam. Chương 2: Các quy định về án treo theo Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 với việc bảo vệ các quyền con ngƣời trong thực tiễn xét xử tại địa bàn tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2018-2022. Chương 3: Tăng cƣờng hơn nữa việc bảo vệ các quyền con ngƣời bằng chế định án treo trong Luật hình sự Việt Nam. 7 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ÁN TREO THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.
Khái niệm, các đặc điểm và ý nghĩa của án treo trong luật hình sự Việt Nam 1. Khái niệm về án treo Nhƣ đã phân tích ở phần trên, án treo là một chế định quan trọng trong pháp luật hình sự của Việt Nam. Theo từ điển tiếng Việt thì, “treo đƣợc hiểu là tạm gác, tạm đình lại trong một thời gian” [49, tr1032]. Nhƣ vậy, nếu giải nghĩa theo khía cạnh từ vựng, án treo đƣợc hiểu là “tạm gác lại, tạm đình lại bản án phạt tù trong một thời gian”.
Đây là cách hiểu về mặt câu chữ trong Điều 10 Sắc lệnh số 21 ngày 14/2/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà về việc tổ chức các Toà án quân sự: “Bản án xử treo sẽ tạm đình việc thi hành”. Tuy nhiên, cần phải thấy rằng, câu chữ không phải là lúc nào cũng phản ánh đúng và đầy đủ bản chất thực tế của sự vật, hiện tƣợng. Án treo chính là trƣờng hợp nhƣ vậy. Nếu chỉ hiểu án treo là “tạm gác lại, tạm đình lại bản án phạt tù trong một thời gian” thì phải chăng hết thời gian “tạm gác lại, tạm đình lại” thì ngƣời bị kết án lại tiếp tục phải thi hành bản án? Nếu nhƣ vậy thì án treo không có ý nghĩa về mặt thực tế.
Thà rằng ngƣời bị kết án đƣợc thi hành ngay và luôn bản án để nỗ lực cải tạo để sớm đƣợc trở lại cuộc sống bình thƣờng, còn hơn là phải chờ đợi một thời gian rồi mới thi hành. Nhƣ vậy, thời gian “mất tự do” của ngƣời này tự nhiên bị kéo dài bất hợp lý. Do đó “tạm gác lại, tạm đình lại bản án phạt tù trong một thời gian” chỉ là câu chữ. Còn về bản chất, nếu trong thời gian “tạm gác lại, tạm đình lại bản án phạt tù” mà ngƣời bị kết án cải tạo tốt, đáp ứng đầy đủ các nghĩa vụ và điều kiện mà pháp luật quy định thì bản án phạt tù đã tuyên sẽ đƣợc 8 huỷ bỏ hoàn toàn – nghĩa là ngƣời bị kết án đƣợc miễn chấp hành bản án phạt tù.
Ngƣợc lại, nếu ngƣời bị kết án tái phạm trong thời gian “tạm gác lại, tạm đình lại bản án phạt tù” thì bản án phạt tù đang đƣợc “tạm gác lại, tạm đình lại” sẽ đƣợc thi hành trên thực tế - nghĩa là ngƣời bị kết án sẽ phải chấp hành bản án phạt tù. Nhƣ vậy, nếu xét về bản chất, thì án treo trong Điều 10 Sắc lệnh số 21 ngày 14/2/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà đƣợc hiểu là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Cách hiểu này cũng khá tƣơng đồng với cách hiểu ở nhiều nƣớc trên thế giới. Ví dụ, theo cách hiểu của bang Northern Territory của Úc thì án treo đƣợc hiểu là: Án treo đƣợc coi là một bản án phạt tù, mà theo đó, Toà án quyết định đình chỉ một phần hoặc toàn bộ việc chấp hành bản án phạt tù này.
Khi bản án phạt tù đƣợc đình chỉ, ngƣời phạm tội có thể sống trong cộng đồng mà không phải bị giam giữ miễn là ngƣời này tuân thủ theo các điều kiện do Toà án đƣa ra. Nếu ngƣời phạm tội không tuân theo những điều kiện này thì ngƣời phạm tội phải chấp hành hình phạt tù [60]. Tƣơng tự, ở Hoa Kỳ cũng có cách hiểu nhƣ vậy “Trong luật hình sự, án treo là biện pháp thay thế cho hình phạt tù theo đó thẩm phán quyết định đình chỉ một phần hoặc Toàn bộ hình phạt tù cho ngƣời bị kết án nếu ngƣời này đáp ứng những điều kiện nhất định. Nếu các điều kiện này bị vi phạm, án treo sẽ đƣợc huỷ bỏ và hình phạt tù đƣợc khôi phục” [59].
“Theo pháp luật của Pháp, án treo đƣợc quy định với bản chất là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt, nhƣng việc miễn chấp hành hành hình phạt này có thể là miễn chấp hành một phần hình phạt tù, hoặc miễn chấp hành Toàn bộ hình phạt tù” [51, tr. “Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện cho 9 ngƣời bị kết án phạt tù, không buộc họ phải chấp nhận hình phạt tù giam tại trại giam khi có những điều kiện nhất định, nhằm khuyến khích họ tự cải tạo để trở thành công dân có ích cho xã hội” [8, tr. “Pháp luật Anh và Đức cũng đều tiếp cận án treo không phải là hình phạt mà là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt có điều kiện” [51, tr.26] Nhƣ vậy, có thể thấy án treo đƣợc hiểu khá thống nhất ở nhiều nƣớc trên thế giới. Theo đó, án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện.
Ở Việt Nam hiện nay, các cơ quan bảo vệ pháp luật, các nhà khoa học và các chuyên gia đều có cách hiểu thống nhất, án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Điều 1 Nghị quyết số 02/2018/NQ- HĐTP của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ngày 15/05/2018 hƣớng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo, có định nghĩa về án treo nhƣ sau: Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, đƣợc Tòa án áp dụng đối với ngƣời phạm tội bị phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của ngƣời phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù. Theo Nguyễn Thị Trâm Anh, án treo đƣợc hiểu là: Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện cho ngƣời bị kết án phạt tù, không buộc họ phải chấp hành hình phạt tù giam tại trại giam khi có những điều kiện nhất định, nhằm khuyến khích họ tự cải tạo để trở thành công dân có ích cho xã hội [2, tr.28] Theo giáo trình Luật hình sự Việt Nam – Phần chung Đại học Quốc gia Hà Nội thì: Án treo là một biện pháp cá thể hoá trong chấp hành hình phạt tù có thời hạn, không buộc ngƣời bị kết án phạt tù cách ly khỏi xã hội, tức là ngƣời bị kết án phạt tù kèm theo thời gian thử thách nhất định 10 và đƣợc quy định trong luật hình sự, do Toà án quyết định trong bản án kết tội đối với ngƣời bị kết án, khi có đủ các căn cứ và điều kiện luật định [13, tr.487] Nhƣ vậy, có thể thấy rằng, cho đến nay, nhìn chung án treo đều đƣợc hiểu thống nhất là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Mặc dù, nhiều tác giả đƣa ra định nghĩa không chỉ rõ hình phạt tù nhƣ thế nào mới đƣợc hƣởng án treo.
Nhƣng qua nghiên cứu nội hàm của các định nghĩa, có thể thấy chỉ ngƣời bị kết án hình phạt tù có thời hạn ở mức thấp (ví dụ theo Điều 1 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, bị phạt tù có thời hạn không quá 03 năm). Khi đƣợc hƣởng án treo thì ngƣời bị kết án sẽ không buộc phải bị giam giữ trong trại giam mà vẫn đƣợc sinh sống tại cộng đồng dƣới sự giám sát của chính quyền địa phƣơng, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Từ việc tham khảo các định nghĩa đã đƣợc công bố trên, học viên xin đƣa ra định nghĩa về án treo nhƣ sau: Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có thời hạn có điều kiện, theo đó, nếu nhƣ ngƣời bị kết án thoả mãn những điều kiện mà pháp luật quy định thì Toà án sẽ ra quyết định không buộc ngƣời bị kết án phải bị giam giữ tập trung, mà đƣợc tiếp tục sinh sống trong cộng đồng dƣới sự giám sát của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong một thời hạn thử thách theo quy định của pháp luật. Các đặc điểm của án treo Thứ nhất, án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có thời hạn có điều kiện Nhƣ vậy, án treo không phải là hình phạt mà là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện.
Nghĩa là, ngƣời phạm tội đã bị Toà án tuyên là phạm tội và phải chịu hình phạt tù có thời hạn nhƣng không phải chấp hành hình phạt tù bằng cách bị giam giữ trong trại giam do đáp ứng 11 những điều kiện luật định. Đây là đặc điểm dùng để phân biệt với cải tạo không giam giữ. Mặc dù cả án treo và cải tạo không giam giữ đều không buộc ngƣời bị kết án cách ly khỏi xã hội, nhƣng án treo không phải là hình phạt, trong khi đó cải tạo không giam giữ là một hình phạt. Trong trƣờng hợp ngƣời bị kết án bị áp dụng hình phạt tù có thời hạn và mức hình phạt tù bị áp dụng thấp (ví dụ từ 03 năm trở xuống) thì Toà án sẽ đánh giá xem các điều kiện đƣợc hƣởng án treo có đƣợc đáp ứng hay không? Nếu các điều kiện đƣợc hƣởng án treo đƣợc đáp ứng thì Toà án sẽ cho ngƣời bị kết án đƣợc hƣởng án treo – nghĩa là ngƣời bị kết án không phải chấp hành hình phạt tù (không bị cách ly khỏi xã hội).
Nhƣ vậy, xét với tính chất, mức độ phạm tội, trong trƣờng hợp án treo, ngƣời phạm tội phải chịu mức hình phạt nghiêm khắc hơn (hình phạt tù). Trong khi đó, trong trƣờng hợp cải tạo không giam giữ, ngƣời phạm tội phải chịu mức hình phạt ít nghiêm khắc hơn, vì tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thấp hơn. Ngƣời đƣợc hƣởng án treo đã thực hiện hành vi phạm tội có tính chất, mức độ nguy hiểm cao hơn so với ngƣời bị phạt cải tạo không giam giữ. Nhƣng ngƣời phạm tội đƣợc hƣởng án treo vì đáp ứng đầy đủ những điều kiện luật định.
Vậy những điều kiện để đƣợc hƣởng án treo là gì? Điều kiện để đƣợc hƣởng án treo là điều kiện tiên quyết. Có nghĩa là ngƣời bị kết án phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện mà pháp luật quy định thì mới đƣợc hƣởng án treo.