Chương 1: Một số vấn đề chung về bảo vệ QCN bằng chế định nhỏ về án tích trong luật hình sự Việt Nam Chương 2: Chế định nhỏ về án tích trong BLHS năm 2015 với việc bảo vệ quyền con người và thực tiễn xét xử có liên quan tại Toà án nhân dân tỉnh Hà Giang giai đoạn năm 2018 - 2022 Chương 3: Định hướng tiếp tục hoàn thiện các quy định về án tích trong pháp luật hình sự Việt Nam và các giải pháp nâng cao hiệu quả của việc áp dụng chế định nhỏ về án tích. 6 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƢỜI BẰNG CHẾ ĐỊNH NHỎ VỀ ÁN TÍCH TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm, bản chất pháp lý và ý nghĩa của bảo vệ quyền con ngƣời bằng chế định nhỏ về án tích trong Luật hình sự Việt Nam 1. Khái niệm bảo vệ quyền con ngƣời bằng chế định nhỏ về án tích trong Luật hình sự Việt Nam 1) Khái niệm QCN, bảo vệ QCN Về vấn đề về QCN, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin thì QCN “về bản chất bao hàm cả hai mặt tự nhiên và xã hội” [7, tr.Mác: “QCN là những đặc quyền chỉ có ở con người mới có, với tư cách là con người, là thành viên của xã hội loài người” [8, tr.
Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về QCN (human right). Theo Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về QCN thì “QCN là những bảo đảm pháp lý Tòan cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người” [27 tr. Bên cạnh định nghĩa kể trên, có quan điểm cho rằng, “QCN là những sự được phép (entitlements) mà tất cả thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội.; đều có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con người” [45, tr. Những ghi nhận này kết tinh những giá trị tốt đẹp, xuất phát vì con người của toàn nhân loại, áp dụng với mọi thành viên của xã hội.
Những nhận thức và tiêu chuẩn về QCN là cơ sở để mọi người trong xã hội được ghi nhận, bảo vệ nhân phẩm và có điều kiện hình thành, phát triển đầy đủ các năng lực, phẩm chất của cá nhân với tư cách là một con người. Việt Nam là một trong những quốc gia sớm phê chuẩn, gia nhập và 7 thành viên tích cực trong thực thi các Công ước, Hiệp ước quốc tế về QCN. Để tạo lập cơ sở cho việc bảo đảm QCN, Đảng ta đã kế thừa từ lịch sử, truyền thống văn hóa của quốc gia, dân tộc, trên cơ sở nền tảng lý luận và nhu cầu thực tiễn để hình thành quan điểm, chính sách về QCN. Tại Việt Nam, QCN được hiểu là những nhu cầu, lợi ích vốn có của con người được quy định và bảo vệ bởi pháp luật quốc gia, trong các thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết [14, tr.
QCN không chỉ được pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia ghi nhận mà điều quan trọng là Nhà nước phải bảo vệ, bảo đảm cho QCN được thực thi trên thực tế. Pháp luật quy định, tạo hành lang pháp lý bảo vệ QCN và có cơ chế để thực thi trong đời sống xã hội. Bảo vệ bằng pháp lý được thực hiện dưới nhiều hình thức và phương tiện pháp lý khác nhau, nhưng có mối liên hệ tác động lẫn nhau, đều vì mục tiêu lợi ích công, lợi ích của xã hội, vì con người. 2) Khái niệm chế định nhỏ về án tích trong luật hình sự Việt Nam Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý “Án tích là đặc điểm xấu (hậu quả) về nhân thân của người đã bị kết án và bị áp dụng hình phạt đã được ghi và lưu lại trong LLTP trong thời gian luật định” [43, tr.
Quan điểm này đã khái quát và làm rõ được bản chất của án tích cũng như các đặc điểm về mặt pháp lý của án tích. Trên phương diện nghiên cứu học thuật, rõ ràng án tích là một chế định quan trọng trong pháp luật hình sự, vì chế định án tích có ý nghĩa trong việc áp dụng các quy định khác trong luật hình sự như việc căn cứ để xóa án tích, xác định áp dụng tái phạm, tái phạm nguy hiểm,. Về chế định án tích, có một số quan điểm sau: Ở Việt Nam có một số quan điểm về án tích như sau: 1) GS.TSKH Lê Cảm cho rằng: “Án tích là hậu quả pháp lý của việc người bị kết án bị áp dụng hình phạt theo bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án và là giai 8 đoạn cuối cùng của việc thực hiện TNHS, được thể hiện trong việc người bị kết án mặc dù đã chấp hành xong bản án (bao gồm hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của Tòa án) nhưng vẫn chưa hết án tích hoặc chưa được xóa án tích theo các quy định của pháp luật hình sự” [9, tr.TS, Luật sư Phạm Hồng Hải coi án tích là hậu quả pháp lý của bản án kết tội mà Tòa án tuyên đối với người phạm tội, là một tình tiết có ý nghĩa pháp lý trong việc đánh giá tính chất nguy hiểm của tội phạm và của người phạm tội khi tội phạm được thực hiện trong thời gian người ấy mang án tích [27, tr. Hay có quan niệm cho rằng án tích là dấu vết về việc phạm tội của một người đã bị tòa án xét xử, có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật và chưa xóa án được ghi vào một quyển sổ gọi là LLTP để sau này, trong một số trường hợp, cần xem xét để đánh giá đạo đức hạnh kiểm, thái độ đối với pháp luật [16, tr.
Quan điểm về chế định án tích ở một số quốc gia trên thế giới như sau: 1) GS.TSKH luật Zelđôv X.L cho rằng: Án tích gồm ba bộ phận hợp thành: i) Khoảng thời gian từ khi bản án kết tội có hiệu lực pháp luật cho đến khi bắt đầu thi hành hình phạt; ii) trong thời gian đang chấp hành hình phạt và iii) khoảng thời gian từ khi chấp hành hình phạt (miễn việc chấp hành hình phạt) cho đến thời điểm hết án tích hoặc án tích đã được Tòa án xóa [9, tr.TSKH luật Vittenberg G.B coi án tích, đó là tình trạng pháp lý hình sự đối với chủ thể do việc người này bị Tòa án xử phạt một biện pháp hình phạt nào đó về tội phạm đã thực hiện [9, tr.TSKH luật Nheznamôva Z.A quan niệm rằng: Án tích - đó là một yếu tố, một bộ phận cấu thành của TNHS với tư cách là hậu quả của sự kiện phạm tội và như vậy, án tích là tình trạng pháp lý đặc biệt của một người được tạo ra do người này bị kết án một hình phạt nhất định đối với tội phạm mà tình trạng ấy được thể hiện bằng khả năng đưa đến các hậu quả nhất định (các hạn chế về quyền) có tính chất pháp lý chung và tính chất pháp lý hình sự [9, tr. 9 Nhìn chung, hiện nay đã có những quan điểm khác nhau về án tích, tuy nhiên án tích cần xem xét ở các góc độ như bản chất pháp lý, điều kiện nội dung và giới hạn trong xây dựng khái niệm án tích [25, tr.7]: Xét về bản chất pháp lý, án tích là một trong những sự thể hiện của TNHS; Về điều kiện, án tích xuất hiện chỉ khi người bị kết án có bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án và bị áp dụng hình phạt; Giới hạn của án tích, án tích tồn tại trong khoảng thời gian từ khi người bị kết án chấp hành xong bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến khi được xóa bỏ (có thể là đương nhiên hoặc theo quyết định của Tòa án). Từ những sự phân tích trên và qua thực tiễn áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam về xóa án tích, có thể đưa ra khái niệm về án tích như sau: Án tích là hậu quả pháp lý của người đã bị kết án trong bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và bị áp dụng hình phạt, được thể hiện việc người bị kết án mặc dù đã chấp hành xong bản án nhưng vẫn chưa hết án tích hoặc chưa được xóa án tích theo quy định của pháp luật hình sự. Từ khái niệm trên, có thấy án tích mang một số đặc điểm như sau: Về đối tượng: án tích là một đặc điểm nhân thân gắn liền với người đã từng phạm tội và bị kết án bằng bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Nên, không phải là tội phạm thì không có án tích và chỉ có người phạm tội mới phải mang án tích. Về phạm vi: chỉ những người bị kết án bằng bản án có hiệu lực của Tòa án và bị áp dụng hình phạt được xác định là người mang án tích. Do đó, trường người bị kết án nhưng được áp dụng các biện pháp tư pháp theo quy định sẽ không mang án tích. Về thời điểm xuất hiện án tích, án tích xuất hiện ngay sau khi người bị kết án chấp hành xong toàn bộ bản án buộc tội có hiệu lực pháp luật và được kết thúc sau khi đã được xóa án tích theo quy định của pháp luật.
10 Về thời hạn tồn tại, án tích chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định. Án tích là đặc điểm nhân thân xấu và việc mang án tích có thể mang lại những hậu quả pháp lý bất lợi cho người mang án tích nên không thể buộc người bị kết án vĩnh viễn mang án tích. Do đó, án tích có thể được xóa sau một thời gian đủ để chứng tỏ người phạm tội đã “hoàn lương” - không còn nguy hiểm đối với xã hội nữa. Chế định pháp luật là tập hợp các quy phạm pháp luật có đặc điểm tương đồng để điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội tương ứng thuộc phạm vi một hoặc nhiều ngành luật.
Hệ thống BLHS là văn bản do cơ quan có thẩm quyền ban hành, bao gồm tổng thể các chế định và quy phạm về tội phạm, TNHS, về các biện pháp cưỡng chế, về các biện pháp tha miễn hình sự và các chế định khác có liên quan đến hoạt động phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm [9, tr.