chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy: Bào chữa bắt buộc trong TTHS là một nguyên tắc quan trọng của quyền được xét xử công bằng, được luật pháp quốc tế thừa nhận. Đây cũng là tập hợp nhiều hành vi tố tụng cụ thể, được các nhà nghiên cứu tiếp cận từ góc độ khoa học để phân tích toàn diện và chuyên sâu từng khía cạnh riêng lẻ. Ở Việt Nam, các nghiên cứu và bài viết về quyền bào chữa trong TTHS đã được thực hiện khá chi tiết và đầy đủ, bao gồm cả những nội dung liên quan đến bảo đảm và bảo vệ quyền này. Tuy nhiên, các nghiên cứu chuyên biệt về bào chữa bắt buộc, tập trung vào mối quan hệ giữa các chủ thể được áp dụng và những chủ thể chịu trách nhiệm thực hiện, vẫn còn hạn chế và là một lĩnh vực mới mẻ.
Tác giả lựa chọn hướng nghiên cứu này nhằm kế thừa và phát triển những giá trị khoa học từ các công trình liên quan, làm nền tảng cho luận án. Việc tham khảo các nghiên cứu và bài viết về quyền bào chữa, vai trò của người bào chữa, cùng với các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế tại những quốc gia có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam, đã giúp tác giả có cách nhìn tổng thể và logic hơn. Điều này là cơ sở để tác giả đi sâu nghiên cứu lý luận về bào chữa bắt buộc, đồng thời phân tích thực trạng pháp luật, thực tiễn áp dụng, và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của chế định này tại Việt Nam trong khuôn khổ luận án. 20 Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BÀO CHỮA BẮT BUỘC TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 2.
Khái niệm, vai trò, đặc điểm và ý nghĩa của bào chữa bắt buộc trong Tố tụng hình sự Việt Nam 2. Khái niệm quyền bào chữa trong Tố tụng hình sự Việt Nam TTHS Việt Nam chứa đựng nhiều đặc tính của hệ thống tố tụng thẩm vấn với biểu hiện đặc trưng là việc điều tra chứng minh tội phạm thuộc về Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát. Quá trình tố tụng ở Việt Nam được thực hiện bằng việc xét hỏi và kết quả được khẳng định bằng các quyết định của các cơ quan tố tụng, đó là bản kết luận điều tra của CQĐT và cáo trạng của VKS. Tòa án thực hiện việc xét xử và ra bản án trên cơ sở xem xét bản kết luận của CQĐT, cáo trạng của VKS và những bằng chứng thu thập tại phiên tòa.
Do đó thủ tục tranh tụng tại phiên tòa khá đơn giản và ít khắt khe. Quá trình xét xử không cần thiết phải có mặt tất cả những NTGTT, bằng chứng thu thập chỉ cần kiểm tra lại tại phiên tòa. Phán quyết của TA được đưa ra trên cơ sở niềm tin nội tâm của TA về sự thật mà hoàn toàn không phụ thuộc nhiều vào kết quả tranh luận của bên buộc tội và bên gỡ tội như mô hình tố tụng tranh tụng. Tuy nhiên, với hệ thống tố tụng này đã làm nảy sinh nhiều tiêu cực trong hoạt động TTHS, dẫn đến tình trạng "án tại hồ sơ", hay "án bỏ túi".
Hệ quả là phiên tòa xét xử chỉ mang tính hình thức. Điều này gây nên những bất cập trong việc giải quyết vụ án, gây thiệt hại đến quyền lợi của người bị buộc tội, tiềm ẩn nhiều hậu quả oan, sai có thể xảy ra. Thực trạng này đã ảnh hưởng đến uy tín của nền tư pháp, lợi ích của nhà nước, với một bản án không đúng người, đúng tội sẽ có nguy cơ phải xem xét theo thủ tục phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, gây tốn kém cho hoạt động TTHS của đất nước. Hiện nay, trong bối cảnh định hướng cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoạt động tranh tụng trong các VAHS ngày càng được chú trọng.
Điều này 21 đồng thời thúc đẩy sự thay đổi trong tư duy tố tụng, đặc biệt là cách nhìn nhận về quyền bào chữa của người bị buộc tội. Quyền bào chữa (QBC) là một phần trong hệ thống các quyền của công dân, được sử dụng để bảo vệ những lợi ích hợp pháp của họ. Bào chữa là hành động cung cấp các tình tiết, chứng cứ nhằm chứng minh bản thân không có lỗi hoặc giảm nhẹ lỗi. Khái niệm quyền bào chữa không chỉ dừng lại ở hành vi bảo vệ của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự, mà còn bao hàm cả hành vi bào chữa trong các lĩnh vực khác như lỗi hành chính, kỷ luật, hoặc dân sự.
Do đó, không thể đồng nhất khái niệm "quyền bào chữa" một cách chung chung với "hành vi bào chữa" hoặc với "quyền bào chữa trong tố tụng hình sự". Mối quan hệ giữa những khái niệm này mang tính chất bao trùm và cụ thể, tương tự như mối quan hệ giữa hành vi bào chữa lỗi và hành vi bào chữa tội trong tố tụng hình sự. Quyền bào chữa của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự là một chế định có tính phức tạp, đòi hỏi cả sự hiểu biết lý luận và thực tiễn. Đây là chủ đề đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, song vẫn tồn tại các quan điểm khác nhau về khái niệm, nội dung, và đối tượng áp dụng của quyền này.
Đặc biệt, việc triển khai quyền bào chữa trong thực tế thường gặp phải những tranh cãi và bất đồng ý kiến. Vì thế, việc làm rõ khái niệm quyền bào chữa của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự trên cơ sở lý luận và thực tiễn là nhiệm vụ quan trọng và cần thiết. Tuy nhiên, xung quanh khái niệm này, vẫn còn nhiều ý kiến đa chiều và chưa thống nhất. - Quan điểm thứ nhất cho rằng, Quyền bào chữa là tổng hòa các hành vi tố tụng đối với việc bác bỏ sự buộc tội và xác định bị can không có lỗi hoặc làm giảm trách nhiệm của bị can [68, tr.
14] - Quan điểm thứ hai cho rằng, Quyền bào chữa được hiểu rộng hơn, nó không chỉ dừng lại ở việc bác bỏ sự buộc tội và xác định bị can không có lỗi hay làm giảm trách nhiệm của bị can mà nó còn được thể hiện trong cả việc bảo đảm các quyền và lợi ích được pháp luật bảo vệ của bị can kể cả khi chúng không trực tiếp liên quan đến việc làm giảm nhẹ trách nhiệm của bị can trong vụ án [68, tr. 22 - Quan điểm thứ ba cho rằng, Quyền bào chữa không chỉ thuộc về bị can, bị cáo mà còn thuộc về người bị tình nghi phạm tội, người bị kết án, người bào chữa, bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ [68, tr. - Quan điểm thứ tư cho rằng, " Quyền bào chữa trong Tố tụng hình sự là tổng hòa các hành vi tố tụng do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án thực hiện trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của Cơ quan tiến hành tố tụng, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm của mình trong vụ án hình sự" [68, tr. - Quan điểm thứ năm cho rằng, trong Tố tụng hình sự, bị can, người bị tình nghi cũng như những công dân tham gia trong Tố tụng hình sự với tư cách khác, trong đó có cả người bị hại đều cần tới sự bảo vệ các lợi ích có thể bị xâm hại [68, tr.
Như vậy, theo tác giả thì Quyền bào chữa thậm chí có cả trong trường hợp mà ở đó không có sự buộc tội. Cùng với quan điểm này, một số tác giả khác cũng cho rằng, "không chỉ có bị cáo mà cả người bị hại cũng cần đến việc bào chữa. Nhân chứng, giám định viên và cả những người khác cũng vậy, nếu quyền lợi của họ bị xâm hại" [73, tr.10] - Quan điểm thứ sáu cho rằng, Quyền bào chữa của bị can, bị cáo là tổng thể các quyền mà pháp luật quy định, cho phép bị can, bị cáo có thể sử dụng nhằm bác bỏ một phần hay toàn bộ sự buộc tội và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.14] Với Quan điểm thứ nhất và Quan điểm thứ hai tác giả Hoàng Thị Sơn cho rằng, hai quan điểm trên là quá hẹp và không chính xác. Một người tham gia tố tụng với tư cách là bị can khi cơ quan có thẩm quyền có đủ căn cứ xác định họ là người đã thực hiện hành vi phạm tội và ra quyết định khởi tố bị can đối với họ.
Trong Tố tụng hình sự khái niệm bị can chỉ tồn tại cho đến thời điểm trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Sau đó họ tham gia tố tụng với tư cách là bị cáo. Phải chăng từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử họ không có Quyền bào chữa nữa hay sao? Thực tiễn cho thấy, chính giai đoạn này Quyền bào chữa của họ mới được thể hiện rõ nét nhất, vì họ được bình đẳng, công khai đưa ra các 23 chứng cứ; được tham gia tranh luận tại phiên tòa. để thanh minh, bác bỏ lời buộc tội và bào chữa.
Chúng tôi đồng tình với nhận định này, giai đoạn xét xử chính là thời điểm quyết định một người có tội hay vô tội và những quan điểm buộc tội họ vẫn chưa kết thúc và được kết luận chính thức nên không thể tước đi quyền để bảo vệ họ tại thời điểm quan trọng nhất của vụ án. Với Quan điểm thứ ba, và Quan điểm thứ năm cho rằng, Quyền bào chữa không chỉ thuộc về bị can mà còn thuộc về những người tham gia tố tụng khác nữa như bị cáo, người bị tình nghi phạm tội, người bị kết án, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự. Có ý kiến cho rằng, nếu hiểu Quyền bào chữa như vậy là quá rộng, không hoàn đúng với nghĩa bào chữa trong Tố tụng hình sự. Chúng tôi cũng đồng ý với nhận định này vì trong đó có sự nhầm lẫn giữa quyền bào chữa và quyền bảo vệ các lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng Với Quan điểm thứ tư tác giả Nguyễn Hữu Thế Trạch cho rằng “cách hiểu như vậy là quá rộng.
Người bị kết án là người đã có bản án có hiệu lực của Tòa án kết luận là có tội và phải chịu hình phạt theo quy định của pháp luật, nếu nói rằng họ có Quyền bào chữa thì vô hình chung đã làm mất hiệu lực của bản án và như vậy Tố tụng hình sự sẽ không có điểm dừng”.