Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Biện pháp ngăn chặn tạm giam là một trong những công cụ pháp lý quan trọng được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) Việt Nam. Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, tạm giam giữ vai trò phương tiện hữu hiệu để các cơ quan tiến hành tố tụng ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa hành vi tiêu hủy chứng cứ, bỏ trốn hoặc cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Tuy nhiên, việc áp dụng biện pháp này trực tiếp tước bỏ quyền tự do thân thể và hạn chế một số quyền con người, quyền công dân của người bị buộc tội. Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đặt ra yêu cầu: "Xác định rõ căn cứ tạm giam, hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với một số loại tội phạm, thu hẹp đối tượng người có thẩm quyền quyết định việc áp dụng các biện pháp tạm giam". Tinh thần này hoàn toàn tương thích với chuẩn mực nhân quyền quốc tế tại Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 (khoản 1 Điều 9) và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR). Mặc dù BLTTHS năm 2015 đã có nhiều sửa đổi tiến bộ nhằm cụ thể hóa căn cứ, thủ tục và rút ngắn thời hạn áp dụng, thực tiễn triển khai từ năm 2018 đến năm 2022 vẫn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập cần được nghiên cứu toàn diện.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở làm rõ các vấn đề lý luận và quy định pháp luật thực định, đánh giá thực tiễn thi hành biện pháp tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam giai đoạn 2018–2022, từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng áp dụng.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể gồm ba nội dung:

  1. Làm rõ một số vấn đề lý luận về tạm giam trong tố tụng hình sự: xây dựng khái niệm khoa học, phân tích đặc điểm, mục đích và ý nghĩa của biện pháp tạm giam.
  2. Đánh giá thực tiễn thi hành quy định của BLTTHS năm 2015 về biện pháp tạm giam trên phạm vi cả nước giai đoạn 2018–2022, chỉ rõ những vướng mắc, bất cập và nguyên nhân phát sinh.
  3. Đề xuất các kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định của BLTTHS năm 2015 và các giải pháp tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm áp dụng đúng pháp luật, bảo vệ quyền con người.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các vấn đề lý luận về biện pháp ngăn chặn tạm giam, hệ thống quy phạm pháp luật thực định và thực tiễn thi hành quy định của BLTTHS năm 2015. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian được thực hiện trên quy mô toàn quốc, phạm vi thời gian tập trung vào giai đoạn 5 năm từ năm 2018 đến hết năm 2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và pháp lý của đề tài dựa trên:

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam: Hiến pháp năm 2013 (Điều 2, Điều 20), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật Hình sự năm 2015, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Luật Cư trú năm 2020, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, và Thông tư liên tịch số 01/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC.
  • Các văn kiện pháp lý quốc tế: Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR), cùng quy định so sánh trong luật tố tụng hình sự của Cộng hòa Liên bang Đức (Điều 157) và Nhật Bản (Điều 60).
  • Các công trình khoa học chuyên khảo và giáo trình chuyên ngành: Giáo trình Luật Tố tụng hình sự của Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội; các luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự.

Phương pháp nghiên cứu được triển khai trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng của triết học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: làm rõ bản chất pháp lý, xây dựng định nghĩa khoa học và xác định đặc trưng của biện pháp tạm giam.
  • Phương pháp phân tích quy phạm và so sánh luật học: đối chiếu các điều luật trong BLTTHS năm 2015 với BLTTHS năm 2003 và pháp luật tố tụng hình sự của một số quốc gia.
  • Phương pháp thống kê số liệu và tổng kết thực tiễn: xử lý, phân tích chuỗi dữ liệu thực tế về công tác phê chuẩn, áp dụng, hủy bỏ, thay thế lệnh tạm giam từ nguồn báo cáo thống kê chính thức của ngành Kiểm sát nhân dân.
  • Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn: đối chiếu quy định luật định với các vụ việc cụ thể tại địa phương (Điện Biên, Bắc Kạn) nhằm luận giải nguyên nhân và xây dựng giải pháp kiến nghị.

Nguồn dữ liệu thực chứng được trích xuất từ báo cáo thống kê kết quả thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong các năm 2018, 2019, 2020, 2021 và 2022.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận và quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về biện pháp ngăn chặn tạm giam

Chương này tập trung xây dựng hệ thống lý luận hoàn chỉnh và phân tích chuyên sâu các quy định của pháp luật thực định hiện hành:

Về mặt lý luận, tác giả phân tích hai quan điểm định nghĩa tiêu biểu của Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, chỉ ra những ưu điểm cũng như điểm chưa bao quát của từng quan điểm. Từ đó, tác giả đưa ra khái niệm hoàn chỉnh: "Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự có tính chất nghiêm khắc nhất do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyết định khi có đủ căn cứ được quy định trong BLTTHS nhằm hạn chế, ngăn chặn việc bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn, cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử hoặc để bảo đảm thi hành án".

Chương 1 xác lập 4 đặc điểm pháp lý cơ bản của tạm giam:

  1. Là biện pháp thuộc nhóm biện pháp ngăn chặn có tính cưỡng chế nghiêm khắc nhất.
  2. Trực tiếp hạn chế quyền con người, quyền công dân thông qua việc cách ly người bị áp dụng khỏi đời sống xã hội.
  3. Được điều chỉnh chặt chẽ, nghiêm ngặt về căn cứ, thẩm quyền, trình tự và thủ tục pháp lý.
  4. Về nguyên tắc chỉ được áp dụng khi việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác không thể đạt được mục đích tố tụng.

Ý nghĩa của biện pháp tạm giam được luận giải trên 4 phương diện: tạo căn cứ pháp lý ngăn ngừa việc lạm quyền; làm cơ sở để người bị buộc tội thực hiện quyền khiếu nại bảo vệ quyền lợi; là căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường oan sai theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; và bảo đảm điều kiện xử lý tội phạm nhanh chóng, giữ vững trật tự an toàn xã hội.

Về quy định của BLTTHS năm 2015, chương nghiên cứu chi tiết 5 nhóm quy định:

  • Đối tượng và căn cứ áp dụng (Điều 109, Điều 119, Điều 419): Tạm giam chỉ áp dụng đối với cá nhân là bị can, bị cáo (không áp dụng đối với pháp nhân thương mại). BLTTHS 2015 phân hóa chi tiết căn cứ áp dụng đối với từng loại tội phạm (tội đặc biệt nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, nghiêm trọng, ít nghiêm trọng phạt tù trên 2 năm, và tội ít nghiêm trọng phạt tù đến 2 năm); đồng thời đặt ra điều kiện kiểm soát chặt chẽ đối với các đối tượng đặc thù như người dưới 18 tuổi, phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh nặng có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng.
  • Thẩm quyền áp dụng (Điều 113, Điều 119): Thuộc về Thủ trưởng/Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra (phải có sự phê chuẩn của VKS cùng cấp), Viện trưởng/Phó Viện trưởng VKSND và VKS quân sự các cấp, Chánh án/Phó Chánh án TAND và TA quân sự các cấp, Hội đồng xét xử. So với BLTTHS 2003, luật hiện hành đã bỏ thẩm quyền của Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa phúc thẩm TANDTC để phù hợp với Luật Tổ chức TAND năm 2014.
  • Thủ tục áp dụng (Điều 113, Điều 119, Điều 240, Điều 277, Điều 278, Điều 347): Quy định chặt chẽ thời hạn 03 ngày để VKS xét phê chuẩn lệnh tạm giam của CQĐT; trách nhiệm giao nhận văn bản tố tụng, kiểm tra căn cước, tình trạng sức khỏe, thông báo cho thân nhân và chính quyền địa phương; quy định trách nhiệm của cơ sở giam giữ thông báo trước 05 ngày khi sắp hết hạn tạm giam và 10 ngày trước khi hết hạn gia hạn tạm giam theo Thông tư liên tịch số 01/2018.
  • Thời hạn tạm giam (Điều 173, Điều 174, Điều 241, Điều 419): Thời hạn tạm giam điều tra đã được rút ngắn so với BLTTHS 2003 (đối với tội nghiêm trọng tối đa 5 tháng thay vì 6 tháng; rất nghiêm trọng tối đa 7 tháng thay vì 9 tháng; đặc biệt nghiêm trọng tối đa 12 tháng thay vì 16 tháng). Thời hạn tạm giam đối với người dưới 18 tuổi chỉ bằng 2/3 so với người đã thành niên. Thủ tục rút gọn nâng tổng thời hạn tạm giam qua các giai đoạn lên 42 ngày (tăng 12 ngày so với luật cũ để bảo đảm tính khả thi).
  • Hủy bỏ, thay thế biện pháp tạm giam (Điều 125): Quy định các trường hợp bắt buộc hủy bỏ khi đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án hoặc khi việc tạm giam không còn cần thiết; chuyển đổi sang các biện pháp ngăn chặn ít nghiêm khắc hơn (bảo lĩnh, đặt tiền, cấm đi khỏi nơi cư trú).

Chương 2: Thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam và một số kiến nghị nâng cao chất lượng áp dụng

Chương này đánh giá toàn diện số liệu thực tế giai đoạn 2018–2022 và nêu các giải pháp hoàn thiện:

Kết quả đạt được qua số liệu thực tế:

  • Tỷ lệ bị can bị tạm giam trên tổng số bị can đã thụ lý có xu hướng giảm dần qua các năm, từ mức 81,41% (năm 2018) xuống còn 74,05% (năm 2022).
  • Công tác kiểm sát phê chuẩn lệnh tạm giam của CQĐT được thực hiện nghiêm túc; tỷ lệ lệnh tạm giam được VKS phê chuẩn đạt trung bình 99,60% trong cả giai đoạn 2018–2022.
  • Các cơ quan tố tụng đã chủ động thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp ngăn chặn khác cho 38.062 bị can và hủy bỏ tạm giam cho 4.768 bị can khi xét thấy không còn cần thiết; Hội đồng xét xử đã trả tự do tại phiên tòa cho 816 bị cáo.
Năm Tổng số bị can đã thụ lý Tổng số bị can bị tạm giam Tỷ lệ bị can bị tạm giam (%) Số lệnh tạm giam CQĐT đề nghị Số lệnh tạm giam được VKS phê chuẩn Tỷ lệ phê chuẩn (%) Số lệnh tạm giam VKS không phê chuẩn Tỷ lệ không phê chuẩn (%)
2018 125.421 102.106 81,41% 64.122 63.801 99,49% 321 0,51%
2019 136.668 110.323 80,72% 68.447 68.185 99,61% 262 0,38%
2020 153.434 124.589 81,20% 78.966 78.727 99,69% 239 0,30%
2021 163.725 128.189 78,29% 82.553 82.389 99,80% 164 0,19%
2022 173.161 128.233 74,05% 83.109 82.961 99,82% 148 0,17%
Tổng 752.409 593.440 78,87% 377.197 376.063 99,60% 1.134 0,40%

Tình hình hủy bỏ, thay thế biện pháp tạm giam giai đoạn 2018–2022:

Năm Tổng số bị can bị tạm giam giải quyết Thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác (bị can) Hủy bỏ biện pháp tạm giam (bị can) Hội đồng xét xử trả tự do (bị cáo)
2018 102.106 7.008 968 171
2019 110.323 6.861 908 148
2020 124.589 7.718 715 132
2021 128.189 8.508 1.417 166
2022 128.233 7.967 760 199
Tổng 593.168 38.062 4.768 816

Những hạn chế, vướng mắc thực tế:

  • Tỷ lệ áp dụng tạm giam trên tổng số bị can thụ lý vẫn còn chiếm tỷ trọng rất cao (bình quân 78,87% trong 5 năm).
  • Còn tình trạng lạm dụng tạm giam trong các trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng có nơi cư trú rõ ràng, lấy lý do phục vụ điều tra để tạm giam thay vì áp dụng biện pháp ngăn chặn nhẹ hơn. Điển hình như vụ án Nguyễn Tiến Thành tại Điện Biên năm 2020: bị can phạm tội đánh bạc ít nghiêm trọng, có chỗ ở hợp pháp nhưng CQĐT và VKS vẫn áp dụng tạm giam với lý do "không có nơi cư trú rõ ràng" do hiểu sai quy định của Luật Cư trú.
  • Vi phạm về trình tự, thủ tục hồ sơ: lệnh tạm giam không ghi khoản của điều luật, thiếu chữ ký của người bị tạm giam, không trừ thời hạn tạm giữ vào thời hạn tạm giam, thiếu danh chỉ bản và biên bản giao nhận; chậm chuyển hồ sơ đề nghị gia hạn tạm giam (gần hết hạn mới chuyển khiến VKS cấp trên không đủ thời gian nghiên cứu) như thực tế tại tỉnh Bắc Kạn.
  • Tình trạng điều tra thiếu chứng cứ dẫn đến việc VKS trả hồ sơ điều tra bổ sung nhiều lần làm kéo dài thời hạn tạm giam quá mức thông thường. Điển hình như vụ án Lường Văn Minh (Điện Biên, 2020) bị tạm giam kéo dài tới 10 tháng đối với tội cố ý gây thương tích nghiêm trọng (thời hạn tố tụng thông thường là 5 tháng 5 ngày).
  • Tồn tại các trường hợp CQĐT ra lệnh tạm giam không đủ căn cứ, buộc VKS phải từ chối phê chuẩn (1.134 trường hợp trong 5 năm).

Nguyên nhân của hạn chế:

  • Về quy định pháp luật: Quy định thời hạn 03 ngày để VKS xét phê chuẩn lệnh tạm giam là quá ngắn đối với những vụ án phức tạp, đông bị can, cần xác minh tại nhiều địa phương. Quy định căn cứ tạm giam tại Điều 119 BLTTHS gắn chặt với phân loại tội phạm theo BLHS là chưa hoàn toàn hợp lý, dễ dẫn đến quan niệm coi mức độ nguy hiểm của tội phạm là lý do duy nhất để áp dụng tạm giam thay vì đánh giá nguy cơ cản trở tố tụng thực tế.
  • Về áp dụng thực tiễn: Nhận thức của một số cán bộ tiến hành tố tụng còn mang nặng tư duy áp dụng tạm giam để thuận tiện cho việc lấy lời khai, thu thập chứng cứ và giao nhận văn bản tố tụng.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

Khóa luận đã tổng hợp và phân tích toàn diện bức tranh thực trạng áp dụng biện pháp tạm giam trên phạm vi toàn quốc qua chuỗi số liệu 5 năm (2018–2022):

  • Xử lý 752.409 bị can thụ lý, trong đó có 593.440 bị can bị áp dụng biện pháp tạm giam.
  • Đánh giá hoạt động phê chuẩn của Viện kiểm sát đối với 377.197 lệnh tạm giam do CQĐT đề nghị, xác định tỷ lệ phê chuẩn bình quân đạt 99,60% và tổng số 1.134 lệnh không được phê chuẩn.
  • Phân tích kết quả áp dụng các quy định nhân đạo, tiến bộ với 38.062 lượt thay thế biện pháp ngăn chặn, 4.768 trường hợp hủy bỏ tạm giam và 816 bị cáo được trả tự do tại tòa.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Hoàn thiện quy định của BLTTHS: Xem xét sửa đổi khoản 5 Điều 119 BLTTHS theo hướng kéo dài thời hạn xét phê chuẩn lệnh tạm giam của Viện kiểm sát trong các vụ án phức tạp; sửa đổi căn cứ áp dụng tạm giam tại Điều 119 theo hướng tách biệt tính chất phân loại tội phạm với căn cứ ngăn chặn nguy cơ bỏ trốn, tái phạm hoặc cản trở tố tụng; phân định rõ ranh giới tư cách tố tụng giữa bị cáo và người bị kết án sau khi tuyên án phúc thẩm để áp dụng lệnh tạm giam phù hợp.
  • Nâng cao hiệu quả áp dụng thực tế: Quán triệt việc áp dụng thống nhất quy định về "nơi cư trú" theo Luật Cư trú năm 2020 nhằm chấm dứt tình trạng coi người có chỗ ở hợp pháp là không có nơi cư trú; chấn chỉnh nghiêm ngặt việc lập thủ tục hồ sơ, tính trừ thời hạn tạm giữ và chuyển hồ sơ đề nghị gia hạn đúng thời hạn quy định; nâng cao chất lượng điều tra, hạn chế tối đa việc trả hồ sơ điều tra bổ sung nhiều lần làm kéo dài thời hạn tạm giam của bị can.

Đóng góp của đề tài

Khóa luận đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về biện pháp ngăn chặn tạm giam, đưa ra định nghĩa mang tính bao quát và làm rõ tính chất đặc thù của biện pháp này so với các biện pháp ngăn chặn khác. Đồng thời, công trình cung cấp đánh giá đa chiều về luật thực định trên cơ sở đối chiếu BLTTHS năm 2015 với BLTTHS năm 2003 và pháp luật quốc tế, kết hợp minh chứng bằng số liệu thống kê ngành kiểm sát trong 5 năm liên tục.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Khóa luận giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tiễn trong giai đoạn từ năm 2018 đến hết năm 2022; các vụ việc thực tế minh họa cho vi phạm quy trình tố tụng chủ yếu tập trung tại một số địa phương (Điện Biên, Bắc Kạn), chưa bao quát chi tiết thực tiễn vi phạm tại tất cả các tỉnh thành trên cả nước.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi, đánh giá số liệu thực tiễn áp dụng biện pháp tạm giam sau năm 2022; nghiên cứu sâu hơn về cơ chế kiểm soát tư pháp đối với việc áp dụng các biện pháp thay thế tạm giam (như đặt tiền bảo đảm, giám sát điện tử) trong bối cảnh chuyển đổi số và tiếp tục đẩy mạnh cải cách tư pháp.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự, cũng như các nhà nghiên cứu pháp luật. Công trình cung cấp hệ thống số liệu thực tiễn tin cậy về hoạt động áp dụng biện pháp tạm giam của ngành Tòa án và Viện kiểm sát trên phạm vi toàn quốc giai đoạn 2018–2022. Đối với cán bộ tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán), phần phân tích các vi phạm thủ tục hồ sơ, sai sót trong xác định nơi cư trú theo Luật Cư trú và việc tính toán thời hạn tạm giam là những nội dung có giá trị thực tiễn cao để rút kinh nghiệm trong hoạt động nghiệp vụ.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ bị can bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam giai đoạn 2018–2022 có xu hướng biến động như thế nào? Theo số liệu thống kê của VKSNDTC trong văn bản, tỷ lệ bị can bị tạm giam trên tổng số bị can đã thụ lý có xu hướng giảm đều qua các năm: từ 81,41% (năm 2018) xuống 80,72% (năm 2019), 81,20% (năm 2020), 78,29% (năm 2021) và còn 74,05% (năm 2022). Mức áp dụng trung bình trong cả giai đoạn 5 năm là 78,87%.

2. BLTTHS năm 2015 đã rút ngắn thời hạn tạm giam để điều tra so với BLTTHS năm 2003 như thế nào? Thời hạn tạm giam tối đa để điều tra theo Điều 173 BLTTHS năm 2015 được rút ngắn đáng kể: đối với tội phạm nghiêm trọng là 5 tháng (BLTTHS 2003 là 6 tháng); đối với tội phạm rất nghiêm trọng là 7 tháng (BLTTHS 2003 là 9 tháng); đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là 12 tháng (BLTTHS 2003 là 16 tháng). Riêng đối với tội ít nghiêm trọng, thời hạn tối đa được giữ nguyên là 3 tháng.

3. Quy định về thời hạn tạm giam đối với người dưới 18 tuổi trong BLTTHS năm 2015 có điểm gì đặc biệt? Khoản 1 Điều 419 BLTTHS năm 2015 quy định thời hạn tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi chỉ bằng hai phần ba (2/3) thời hạn tạm giam đối với người đủ 18 tuổi trở lên. Đây là điểm mới khắc phục hạn chế của BLTTHS năm 2003 (vốn không quy định thời hạn riêng, dẫn đến việc áp dụng thời gian tạm giam đối với người dưới 18 tuổi tương đương người đã thành niên).

4. Vụ việc của bị can Nguyễn Tiến Thành tại Điện Biên bộc lộ sai phạm gì trong việc áp dụng căn cứ tạm giam? Bị can Nguyễn Tiến Thành phạm tội ít nghiêm trọng (khoản 1 Điều 328/Điều 341 BLHS về tội Đánh bạc), có nhân thân tốt và có chỗ ở hợp pháp tại tổ 5 phường Him Lam, thành phố Điện Biên Phủ. Tuy nhiên, CQĐT và VKSND tỉnh Điện Biên vẫn áp dụng tạm giam với lý do "không có nơi cư trú rõ ràng" vì Thành là người nơi khác đến kinh doanh. Việc này vi phạm Luật Cư trú năm 2020 khi không công nhận chỗ ở hợp pháp là nơi cư trú, dẫn đến việc tước đoạt quyền tự do thân thể không cần thiết.

5. Tổng số trường hợp được thay thế, hủy bỏ biện pháp tạm giam và số bị cáo được trả tự do tại tòa trong giai đoạn 2018–2022 là bao nhiêu? Trong giai đoạn 2018–2022 trên toàn quốc, các cơ quan tố tụng đã thực hiện thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp ngăn chặn khác ít nghiêm khắc hơn cho 38.062 bị can; ra quyết định hủy bỏ hoàn toàn biện pháp tạm giam cho 4.768 bị can; và Hội đồng xét xử đã tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho 816 bị cáo.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phùng Văn Hải đã xây dựng hệ thống lý luận khoa học vững chắc và phân tích chi tiết các quy định pháp luật thực định về biện pháp ngăn chặn tạm giam trong BLTTHS năm 2015. Thông qua chuỗi dữ liệu thực chứng giai đoạn 2018–2022 từ Viện kiểm sát nhân dân tối cao, công trình đã phản ánh khách quan những kết quả tích cực trong việc kiểm soát phê chuẩn lệnh tạm giam, đồng thời chỉ rõ các bất cập về lạm dụng tạm giam, sai sót thủ tục và kéo dài thời hạn điều tra bổ sung. Các kiến nghị sửa đổi quy định thời hạn phê chuẩn, phân định căn cứ áp dụng và chuẩn hóa nhận thức pháp luật thực tế mang tính khả thi cao, góp phần quan trọng vào việc bảo đảm quyền con người trong tiến trình cải cách tư pháp tại Việt Nam.