Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong hệ thống tư pháp hình sự Việt Nam, giai đoạn điều tra do Cơ quan điều tra (CQĐT) tiến hành giữ vai trò cốt yếu nhằm thu thập chứng cứ, xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, khi quá trình điều tra phát hiện những tình tiết luật định làm triệt tiêu trách nhiệm hình sự (TNHS) hoặc không đủ căn cứ buộc tội, CQĐT phải ra quyết định đình chỉ điều tra. Quyết định này chấm dứt toàn bộ hoạt động tố tụng đối với vụ án hoặc bị can, tác động trực tiếp đến quyền tự do, danh dự và lợi ích hợp pháp của công dân, đồng thời ngăn chặn các sai sót tố tụng kéo dài.
Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, đã sửa đổi và hoàn thiện nhiều quy định về căn cứ, thẩm quyền và thủ tục đình chỉ điều tra nhằm khắc phục bất cập của BLTTHS năm 2003. Mặc dù vậy, thực tiễn áp dụng vẫn bộc lộ hạn chế: chất lượng điều tra ở một số đơn vị chưa cao, vẫn còn trường hợp đình chỉ sai căn cứ, bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội; một số vụ việc có biểu hiện lạm dụng chế định này để né tránh trách nhiệm. Trước thời điểm nghiên cứu, các công trình khoa học (luận văn của Nguyễn Anh Tuấn năm 2011, Phạm Thanh Thủy năm 2018, Lưu Kế Trường năm 2020) chủ yếu phân tích trên nền tảng luật cũ hoặc dừng lại ở mức độ lý luận chung, chưa phản ánh toàn diện số liệu thực chứng từ khi BLTTHS năm 2015 có hiệu lực. Do đó, khóa luận tập trung nghiên cứu chuyên sâu đề tài "Đình chỉ điều tra vụ án hình sự trong tố tụng hình sự Việt Nam".
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là làm rõ quy định của BLTTHS năm 2015 về đình chỉ điều tra dưới góc độ lý luận, pháp lý và thực tiễn áp dụng, phân tích nguyên nhân của các vướng mắc, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật.
Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm:
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về chế định đình chỉ điều tra vụ án hình sự (khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa pháp lý và xã hội).
- Phân tích toàn diện các quy định của BLTTHS năm 2015 về căn cứ, thẩm quyền và trình tự, thủ tục đình chỉ điều tra vụ án hình sự và bị can.
- Khảo sát, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định này từ năm 2018 đến tháng 06/2023, phân tích nguyên nhân dẫn đến các tồn tại, hạn chế.
- Đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao chất lượng áp dụng chế định đình chỉ điều tra trong thực tiễn.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và quy định pháp luật về đình chỉ điều tra trong BLTTHS năm 2015 (đối chiếu BLTTHS năm 2003 và BLHS năm 2015), cùng thực tiễn thi hành các quy định này.
- Phạm vi không gian: Toàn quốc, tập trung vào số liệu thực tiễn của Cơ quan Cảnh sát điều tra thuộc Công an nhân dân và CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao (không bao gồm CQĐT trong Quân đội nhân dân và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra do điều kiện bảo mật dữ liệu).
- Phạm vi thời gian: Khảo sát thực tiễn áp dụng từ năm 2018 đến hết tháng 06/2023.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận dựa trên nền tảng lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp và đấu tranh phòng chống tội phạm, trọng tâm là Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Nghị quyết số 08-NQ/TW và các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, XI, XII.
Khung phân tích pháp lý dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định:
- Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013.
- Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Các giáo trình, sách chuyên khảo, bình luận khoa học pháp lý của Trường Đại học Luật Hà Nội và Viện Khoa học pháp lý.
- Hệ thống các nguyên tắc tố tụng căn bản: nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 13 BLTTHS năm 2015), nguyên tắc xác định sự thật vụ án, nguyên tắc bảo đảm quyền con người, quyền công dân và chính sách phân hóa trách nhiệm hình sự.
Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Mổ xẻ các điều luật, quy phạm pháp lý và tổng thuật các luồng quan điểm khoa học về đình chỉ điều tra.
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định của BLTTHS năm 2015 với BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 1988 để làm rõ sự thay đổi và hoàn thiện kỹ thuật lập pháp.
- Phương pháp thống kê tư pháp: Thu thập, phân loại, so sánh và xử lý số liệu vụ án, số lượng bị can kết thúc điều tra, đình chỉ điều tra, chấp thuận hoặc hủy bỏ quyết định đình chỉ.
Nguồn dữ liệu thực chứng:
- Báo cáo tổng kết công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân tối cao giai đoạn 2018 - 2022.
- Hồ sơ, báo cáo nghiệp vụ và văn bản giải quyết các vụ án hình sự cụ thể xảy ra tại các địa phương (Bắc Ninh, Bắc Kạn...).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về đình chỉ điều tra vụ án hình sự
Chương 1 hệ thống hóa khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của đình chỉ điều tra và phân tích chi tiết quy định của BLTTHS năm 2015.
Tác giả đưa ra định nghĩa: Đình chỉ điều tra là một hình thức kết thúc hoạt động điều tra mà CQĐT, cơ quan có thẩm quyền được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra chấm dứt hoạt động điều tra đối với vụ án, đối với bị can khi có căn cứ theo quy định của BLTTHS bằng việc ra quyết định đình chỉ điều tra.
Chế định này mang bốn đặc điểm pháp lý cơ bản:
- Là một trong hai hình thức kết thúc giai đoạn điều tra (bên cạnh Bản kết luận điều tra đề nghị truy tố).
- Là quyết định tố tụng thuộc thẩm quyền riêng biệt của CQĐT trong giai đoạn điều tra.
- Phải tuân thủ tuyệt đối các căn cứ, thẩm quyền, trình tự và thủ tục do BLTTHS quy định.
- Đối tượng tác động trực tiếp là toàn bộ vụ án hoặc từng bị can cụ thể trong vụ án đồng phạm/phức tạp.
Về ý nghĩa, việc quy định và thực hiện đúng chế định này bảo đảm thiết lập công bằng giữa lợi ích nhà nước và lợi ích công dân; bảo đảm tính khách quan, khắc phục định kiến buộc tội; hiện thực hóa tính nhân đạo và chính sách phân hóa trách nhiệm hình sự; xác lập giới hạn thời gian điều tra nhằm chống lạm quyền; ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm phạm quyền công dân và tạo tiền đề hoàn thiện kỹ thuật lập pháp.
Về quy định pháp luật hiện hành (Điều 230 BLTTHS năm 2015), CQĐT ra quyết định đình chỉ điều tra khi có một trong các căn cứ:
- Bị hại rút yêu cầu khởi tố theo khoản 2 Điều 155 BLTTHS (áp dụng đối với các tội danh quy định tại khoản 1 các Điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 BLHS), trừ trường hợp việc rút đơn do bị ép buộc, cưỡng bức.
- Thuộc một trong các trường hợp không được khởi tố vụ án hình sự quy định tại Điều 157 BLTTHS: Không có sự việc phạm tội; hành vi không cấu thành tội phạm; người thực hiện hành vi chưa đủ tuổi chịu TNHS (theo Điều 12 BLHS); đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; hết thời hiệu truy cứu TNHS (Điều 27 BLHS); người thực hiện hành vi đã chết (trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác); tội phạm khởi tố theo yêu cầu mà người yêu cầu không yêu cầu khởi tố.
- Có căn cứ miễn TNHS theo Điều 16 (tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội), Điều 29 (do chuyển biến tình hình, người phạm tội tự thú, đại xá, mắc bệnh hiểm nghèo), hoặc khoản 2 Điều 91 BLHS (áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng/nghiêm trọng có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được giám sát, giáo dục).
- Hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm (điểm b khoản 1 Điều 230).
Về thẩm quyền, Điều 36 và Điều 230 BLTTHS năm 2015 quy định thẩm quyền đình chỉ điều tra thuộc về Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng CQĐT được phân công thụ lý vụ án (khắc phục bất cập của BLTTHS năm 1988 khi giao thẩm quyền cho cả CQĐT và Viện kiểm sát dẫn đến đùn đẩy trách nhiệm).
Về trình tự, thủ tục: CQĐT lập Bản kết luận điều tra và ban hành Quyết định đình chỉ điều tra. Quyết định phải ghi rõ lý do, căn cứ, việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế và xử lý tài liệu, đồ vật tạm giữ. Quyết định phải gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp; trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát kiểm sát tính hợp pháp để quyết định chấp thuận trả lại hồ sơ hoặc ra quyết định hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra nếu không có căn cứ.
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về đình chỉ điều tra vụ án hình sự
Chương 2 tổng hợp số liệu thực chứng từ Báo cáo tổng kết của Viện kiểm sát nhân dân tối cao giai đoạn 2018 - 2022, đánh giá kết quả đạt được, chỉ ra tồn tại và nguyên nhân.
1. Kết quả áp dụng trong thực tiễn (2018 - 2022):
Trong 5 năm, CQĐT các cấp trên toàn quốc đã kết thúc điều tra 344.326 vụ / 593.945 bị can; trong đó đình chỉ điều tra 16.193 vụ / 11.228 bị can, chiếm tỷ lệ 4,70% về số vụ và 1,89% về số bị can.
Bảng 1: Số vụ, số bị can CQĐT các cấp đã kết thúc điều tra và đình chỉ điều tra (2018 - 2022)
| Năm |
Tổng số kết thúc điều tra (Vụ) |
Tổng số kết thúc điều tra (Bị can) |
Đình chỉ điều tra (Vụ) |
Đình chỉ điều tra (Bị can) |
Tỷ lệ đình chỉ / kết thúc điều tra (%) (Vụ) |
Tỷ lệ đình chỉ / kết thúc điều tra (%) (Bị can) |
| 2018 |
61.681 |
100.834 |
3.636 |
2.363 |
5,89% |
2,34% |
| 2019 |
66.852 |
110.088 |
3.204 |
2.261 |
4,79% |
2,05% |
| 2020 |
71.113 |
121.857 |
2.992 |
2.184 |
4,21% |
1,79% |
| 2021 |
74.088 |
128.847 |
3.625 |
2.232 |
4,89% |
1,73% |
| 2022 |
70.592 |
132.319 |
2.736 |
2.188 |
3,77% |
1,65% |
| Tổng |
344.326 |
593.945 |
16.193 |
11.228 |
4,70% |
1,89% |
Bảng 2: Cơ cấu các lý do đình chỉ điều tra đối với bị can của CQĐT (2018 - 2022)
| Năm |
Bị hại rút đơn yêu cầu (Bị can) |
Miễn TNHS (Bị can) |
Hành vi không cấu thành tội phạm (Bị can) |
Hết thời hạn điều tra không chứng minh được tội phạm (Bị can) |
| 2018 |
1.258 |
732 |
356 |
17 |
| 2019 |
1.220 |
708 |
321 |
12 |
| 2020 |
1.264 |
482 |
390 |
48 |
| 2021 |
1.231 |
512 |
484 |
5 |
| 2022 |
1.228 |
417 |
537 |
6 |
| Tổng |
6.201 (55,22%) |
2.851 (25,39%) |
2.088 (18,59%) |
88 (0,78%) |
Bảng 3: Số vụ, số bị can CQĐT đình chỉ điều tra được Viện kiểm sát chấp nhận (2018 - 2022)
| Năm |
Số vụ CQĐT đình chỉ |
Số bị can CQĐT đình chỉ |
VKS chấp thuận (Vụ) |
VKS chấp thuận (Bị can) |
Tỷ lệ VKS chấp thuận (%) (Vụ) |
Tỷ lệ VKS chấp thuận (%) (Bị can) |
| 2018 |
3.636 |
2.363 |
3.621 |
2.356 |
99,59% |
99,70% |
| 2019 |
3.204 |
2.261 |
3.187 |
2.226 |
99,47% |
98,45% |
| 2020 |
2.992 |
2.184 |
2.978 |
2.150 |
99,53% |
98,44% |
| 2021 |
3.625 |
2.232 |
3.615 |
2.227 |
99,72% |
99,77% |
| 2022 |
2.736 |
2.188 |
2.722 |
2.180 |
99,49% |
99,63% |
| Tổng |
16.193 |
11.228 |
16.123 |
11.139 |
99,56% |
99,20% |
Điển hình áp dụng đúng: Vụ tai nạn giao thông do Trần Văn X điều khiển xe ô tô BKS 99A-075.8x tại thành phố Bắc Ninh năm 2018 va chạm liên hoàn 5 xe máy làm 1 người chết, 4 người bị thương. Kết luận giám định số 3161 của Viện Khoa học hình sự xác định hệ thống lái mất tác dụng do tuột chốt hãm đại ốc thước lái trước khi xảy ra tai nạn. Sự cố bất ngờ, X không có lỗi; Cơ quan CSĐT Công an huyện E đã ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án và bị can theo khoản 2 Điều 157 BLTTHS năm 2015 do không có sự việc phạm tội.
2. Hạn chế, bất cập trong thực tiễn:
- CQĐT ra quyết định đình chỉ không có căn cứ hoặc sai căn cứ, bị Viện kiểm sát hủy bỏ: Giai đoạn 2018 - 2022, Viện kiểm sát đã hủy 77 quyết định đình chỉ vụ án (0,48%) và 153 quyết định đình chỉ đối với bị can (0,91%).
- Điển hình: Vụ Trần Văn A (huyện X, tỉnh M) dùng gậy đánh Phan Văn H thương tích 8% vào ngày 20/6/2019; trong quá trình điều tra, A khai nhận trước đó vào đêm 01/5/2018 từng đánh Nguyễn Văn C thương tích 14%. CQĐT Công an huyện X đình chỉ vụ án theo khoản 2 Điều 155 BLTTHS do C và H rút đơn. Viện kiểm sát huyện X xác định việc đình chỉ là trái pháp luật vì hành vi của A cấu thành tội "Cố ý gây thương tích" thuộc tình tiết "phạm tội 02 lần trở lên" theo điểm c khoản 2 Điều 134 BLHS, không thuộc phạm vi khởi tố theo yêu cầu bị hại.
- CQĐT không phát hiện căn cứ đình chỉ, kết thúc điều tra đề nghị truy tố để Viện kiểm sát phải đình chỉ ở giai đoạn truy tố: Tổng số vụ án Viện kiểm sát phải ra quyết định đình chỉ là 1.967 vụ (chiếm 10,83% tổng số vụ án đình chỉ của cả hai ngành).
Bảng 4: Số vụ và số bị can Viện kiểm sát đình chỉ vụ án ở giai đoạn truy tố (2018 - 2022)
| Năm |
Tổng số vụ VKS đình chỉ |
Miễn TNHS (Bị can) |
Hành vi không cấu thành tội phạm (Bị can) |
Không có sự việc phạm tội (Bị can) |
| 2018 |
467 |
261 |
3 |
0 |
| 2019 |
387 |
181 |
10 |
0 |
| 2020 |
354 |
197 |
4 |
0 |
| 2021 |
419 |
165 |
3 |
2 |
| 2022 |
340 |
147 |
1 |
0 |
| Tổng |
1.967 |
951 |
21 |
2 |
- Điển hình oan sai do lỗi điều tra: Vụ án hủy hoại tài sản tại thôn Nà Mỳ, xã Thuận Mang, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn (theo Báo cáo số 82/BC-CSĐT-PC44 ngày 18/4/2017). CQĐT Công an tỉnh Bắc Kạn thừa nhận có dấu hiệu oan sai; Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn phải ra quyết định đình chỉ vì hành vi của Bế Đình T không cấu thành tội phạm theo Điều 143 BLHS.
3. Nguyên nhân của hạn chế:
- Nguyên nhân pháp lý: Các khái niệm "chuyển biến tình hình", "không còn nguy hiểm cho xã hội" tại khoản 2 Điều 29 BLHS năm 2015 chưa được giải thích rõ ràng bằng văn bản hướng dẫn; Mẫu Quyết định đình chỉ điều tra tại khoản 2 Điều 230 BLTTHS chưa thể hiện triệt để nguyên tắc suy đoán vô tội nhằm tuyên bố dứt khoát bị can không có tội để phục hồi danh dự.
- Nguyên nhân nghiệp vụ và tổ chức: Năng lực chuyên môn của một bộ phận Điều tra viên còn yếu; công tác chỉ đạo, kiểm tra của lãnh đạo CQĐT và Kiểm sát viên thiếu sâu sát; việc xử lý cán bộ sai phạm chưa nghiêm khắc (chủ yếu kiểm điểm, rút kinh nghiệm); mối quan hệ phối hợp giữa CQĐT và Viện kiểm sát chưa thường xuyên.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy định pháp luật tố tụng hình sự về đình chỉ điều tra vụ án hình sự
Chương 3 xác định bốn nhóm yêu cầu nền tảng và đề xuất hệ thống giải pháp:
1. Các yêu cầu đặt ra:
- Yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Quán triệt nguyên tắc khách quan, vô tư, độc lập, bảo đảm tranh tụng và nguyên tắc suy đoán vô tội.
- Yêu cầu cải cách tư pháp: Đổi mới tổ chức CQĐT theo hướng thu gọn đầu mối, phân định rõ thẩm quyền hành chính và thẩm quyền tố tụng; nâng cao năng lực thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát; chấn chỉnh hoạt động bổ trợ tư pháp (giám định, luật sư).
- Yêu cầu bảo vệ quyền con người: Hạn chế tối đa việc lạm dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam; ưu tiên mở rộng áp dụng bảo lĩnh, cấm đi khỏi nơi cư trú; bảo đảm quyền tự bào chữa và quyền khiếu nại.
- Yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm: Xử lý đúng người, đúng tội, không làm oan người vô tội và không bỏ lọt tội phạm.
2. Các nhóm giải pháp cụ thể:
- Hoàn thiện quy định pháp luật:
- Ban hành văn bản quy phạm pháp luật giải thích cụ thể các điều kiện miễn TNHS do "chuyển biến của tình hình" và "người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội" tại Điều 29 BLHS năm 2015.
- Sửa đổi biểu mẫu và nội dung quyết định đình chỉ điều tra theo Điều 230 BLTTHS, bổ sung nội dung khẳng định dứt khoát người bị buộc tội không có tội khi hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được tội phạm.
- Giải pháp tổ chức thực hiện và nâng cao năng lực cán bộ:
- Tăng cường bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ định kỳ cho Điều tra viên và Kiểm sát viên về kỹ năng đánh giá chứng cứ và nhận diện căn cứ đình chỉ.
- Siết chặt kỷ luật công vụ, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ; xử lý nghiêm minh các cán bộ thoái hóa, biến chất, lạm quyền ra quyết định đình chỉ sai lệch.
- Tăng cường quy chế phối hợp định kỳ, thực chất giữa CQĐT và Viện kiểm sát từ giai đoạn giải quyết nguồn tin tội phạm đến kết thúc điều tra.
Kết quả và đóng góp
- Kết quả thực chứng: Khóa luận đã hệ thống hóa và phân tích bộ dữ liệu toàn quốc 5 năm (2018 - 2022) của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Kết quả cho thấy tỷ lệ CQĐT đình chỉ điều tra chiếm 4,70% tổng số vụ kết thúc điều tra (16.193 vụ / 11.228 bị can). Cơ cấu lý do đình chỉ bị can gồm: Bị hại rút đơn (55,22%), Miễn TNHS (25,39%), Không cấu thành tội phạm (18,59%), và Hết hạn điều tra không chứng minh được tội phạm (0,78%). Đồng thời chỉ ra tỷ lệ Viện kiểm sát phải hủy bỏ quyết định đình chỉ của CQĐT (77 vụ / 153 bị can) và số vụ Viện kiểm sát phải đình chỉ ở giai đoạn truy tố do CQĐT bỏ sót căn cứ (1.967 vụ).
- Hệ thống giải pháp đề xuất: Đưa ra các kiến nghị lập pháp cụ thể đối với Điều 29 BLHS và Điều 230 BLTTHS năm 2015; xác lập các biện pháp tăng cường phối hợp liên ngành CQĐT - Viện kiểm sát và đổi mới công tác bồi dưỡng cán bộ điều tra.
- Đóng góp học thuật: So với các công trình trước đây vốn sử dụng số liệu của BLTTHS năm 2003 hoặc chỉ phân tích lý thuyết từng căn cứ đơn lẻ, khóa luận là công trình khảo cứu chuyên sâu, cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện về việc áp dụng chế định đình chỉ điều tra theo BLTTHS năm 2015 trong giai đoạn 2018 - 2023.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do điều kiện khách quan về tiếp cận thông tin và tính chất bảo mật, tác giả chưa khảo sát được dữ liệu áp dụng chế định đình chỉ điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khác (Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Cảnh sát biển).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu thực tiễn áp dụng chế định đình chỉ điều tra đối với các cơ quan điều tra chuyên biệt thuộc lực lượng Quân đội nhân dân và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm hoàn thiện bức tranh thực tiễn tố tụng hình sự trên phạm vi toàn quốc.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Hình sự và Luật Tố tụng hình sự; cán bộ nghiên cứu tại các viện, trường luật; Điều tra viên, Kiểm sát viên, Luật sư và Thẩm phán.
- Nội dung giá trị: Hệ thống 4 bảng biểu thống kê chi tiết giai đoạn 2018 - 2022; các phân tích tình huống sai sót thực tiễn (vụ Trần Văn A, vụ Bế Đình T); luận giải về việc cụ thể hóa nguyên tắc suy đoán vô tội trong mẫu văn bản tố tụng đình chỉ điều tra.
Câu hỏi thường gặp
Trong giai đoạn 2018 - 2022, lý do nào chiếm tỷ lệ cao nhất dẫn đến việc CQĐT đình chỉ điều tra đối với bị can?
Lý do bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố chiếm tỷ lệ cao nhất với 6.201 bị can (55,22%). Xếp thứ hai là bị can được miễn trách nhiệm hình sự với 2.851 bị can (25,39%), thứ ba là hành vi không cấu thành tội phạm với 2.088 bị can (18,59%), và thấp nhất là hết thời hạn điều tra không chứng minh được tội phạm với 88 bị can (0,78%).
Vì sao Cơ quan CSĐT Công an huyện E ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án tai nạn giao thông đối với Trần Văn X năm 2018 tại Bắc Ninh?
Theo Bản kết luận giám định số 3161 của Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an, hệ thống lái của xe ô tô bị mất tác dụng do tuột chốt hãm đai ốc nối khớp cầu thước lái ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn. Đây là tình tiết thuộc sự kiện bất ngờ, tài xế không có lỗi, do đó CQĐT đình chỉ điều tra theo khoản 2 Điều 157 BLTTHS năm 2015 với căn cứ không có sự việc phạm tội.
Vì sao Viện kiểm sát huyện X xác định việc CQĐT đình chỉ điều tra đối với bị can Trần Văn A (tội cố ý gây thương tích) là trái quy định pháp luật?
Mặc dù hai bị hại C và H đều tự nguyện rút đơn yêu cầu khởi tố, nhưng bị can Trần Văn A đã thực hiện hành vi cố ý gây thương tích 2 lần (đêm 01/5/2018 gây thương tích 14% cho C và ngày 20/6/2019 gây thương tích 8% cho H). Hành vi này thuộc trường hợp "phạm tội 02 lần trở lên" quy định tại điểm c khoản 2 Điều 134 BLHS năm 2015, không thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại tại khoản 1 Điều 155 BLTTHS, nên CQĐT không được áp dụng khoản 2 Điều 155 để đình chỉ.
Thẩm quyền ban hành Quyết định đình chỉ điều tra theo BLTTHS năm 2015 có điểm gì khác so với BLTTHS năm 1988?
Theo Điều 139 và Điều 141 BLTTHS năm 1988, cả CQĐT và Viện kiểm sát đều có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ điều tra, dẫn đến tình trạng đùn đẩy trách nhiệm. BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2015 (Điều 36, Điều 230) đã thu hẹp thẩm quyền này, quy định chỉ có Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra được phân công thụ lý vụ án mới có thẩm quyền ban hành Quyết định đình chỉ điều tra.
Quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát Quyết định đình chỉ điều tra của CQĐT được quy định như thế nào?
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định đình chỉ điều tra, nếu thấy có căn cứ thì Viện kiểm sát trả lại hồ sơ cho CQĐT để giải quyết theo thẩm quyền. Nếu nhận thấy quyết định không có căn cứ, Viện kiểm sát có quyền ra quyết định hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra của CQĐT và yêu cầu phục hồi điều tra, hoặc ra quyết định truy tố nếu đã có đủ căn cứ.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Trang đã làm rõ toàn diện các vấn đề lý luận và quy định pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về đình chỉ điều tra vụ án hình sự. Thông qua việc phân tích số liệu thực chứng 5 năm (2018 - 2022) trên phạm vi toàn quốc, công trình đã phản ánh chính xác thực trạng thi hành, chỉ rõ các vi phạm nghiệp vụ điển hình và nguyên nhân pháp lý cũng như con người. Các giải pháp hoàn thiện quy định của BLHS, BLTTHS năm 2015 và tăng cường kỷ luật tư pháp do tác giả đề xuất có tính khả thi, đóng góp thiết thực cho quá trình cải cách tư pháp và nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự.