Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn các tỉnh duyên hải miền Trung" do nghiên cứu sinh Phùng Anh Dũng thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Văn Độ. Luận án thuộc chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự (mã số: 9.04), được hoàn thành và bảo vệ năm 2023.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong hệ thống các hoạt động của Nhà nước, hoạt động tư pháp giữ vai trò bảo vệ công lý, trật tự xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước cùng các quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Mọi hành vi xâm phạm đến sự đúng đắn của hoạt động tư pháp đều gây thiệt hại nghiêm trọng cho việc thực thi công lý và làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, việc bảo vệ hoạt động tư pháp bằng pháp luật hình sự là nhiệm vụ trọng yếu. Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 đã bố trí các tội danh này thành một chương độc lập (Chương XXIV, từ Điều 367 đến Điều 391).
Tính cấp thiết của luận án bắt nguồn từ các vấn đề thực tiễn và lý luận sau:
- Diễn biến tội phạm phức tạp tại các tỉnh duyên hải miền Trung: Tình hình tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp có xu hướng gia tăng theo từng năm. Tại các tỉnh duyên hải miền Trung, nhiều vụ án nghiêm trọng đã xảy ra, gây xôn xao dư luận xã hội, điển hình như vụ án dùng nhục hình dẫn đến hậu quả nạn nhân Ngô Thanh Kiều tử vong tại Phú Yên hay vụ án Huỳnh Văn Nén bị bức cung, dùng nhục hình dẫn đến chấp hành hình phạt tù oan sai gần 17 năm tại Bình Thuận.
- Số liệu thống kê gia tăng: Báo cáo công tác năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) các tỉnh, thành phố khu vực duyên hải miền Trung cho thấy số lượng vụ án khởi tố tăng 4,7% về số vụ so với cùng kỳ năm 2020 (cao hơn mức tăng trung bình toàn quốc là 3,1%); riêng nhóm án chức vụ và xâm phạm hoạt động tư pháp tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước (trong khi tỷ lệ tăng của toàn quốc là 6,1%).
- Bất cập trong quy định pháp luật và áp dụng thực tiễn: BLHS hiện hành vẫn còn khoảng trống pháp lý khi một số hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa được hình sự hóa; mức chế tài giữa một số điều luật cụ thể còn mâu thuẫn với Phần chung hoặc chưa tương xứng với tính chất nguy hiểm của hành vi; dấu hiệu pháp lý của một số cấu thành tội phạm chưa thật sự rõ ràng. Thực tiễn áp dụng cho thấy sự lúng túng, không thống nhất trong định tội danh (chẳng hạn trường hợp hành vi dùng nhục hình làm nạn nhân tử vong, có địa phương chỉ xử lý về tội Dùng nhục hình, có nơi lại truy cứu về cả tội Dùng nhục hình và tội Giết người).
- Khoảng trống lý luận: Các công trình nghiên cứu trong nước trước đây đa phần dựa trên cơ sở BLHS năm 1985 hoặc BLHS năm 1999, hoặc chỉ tiếp cận đơn lẻ từng tội phạm cụ thể mà chưa có công trình cấp tiến sĩ nào đánh giá toàn diện, có hệ thống đối với toàn bộ nhóm tội danh này kết hợp với khảo sát thực chứng tại địa bàn duyên hải miền Trung.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích tổng quát của luận án là làm sáng tỏ nhận thức lý luận đối với nhóm tội xâm phạm hoạt động tư pháp, đề xuất hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đối với nhóm tội phạm này trên thực tế.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể qua 5 nội dung:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về tội xâm phạm hoạt động tư pháp và cơ sở lý luận của việc ban hành các quy định về trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với nhóm tội này.
- Nghiên cứu so sánh quy định về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp trong pháp luật hình sự của một số quốc gia trên thế giới, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
- Khái quát lịch sử và phân tích thực trạng quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp.
- Đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự hiện hành về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp tại địa bàn các tỉnh duyên hải miền Trung; làm sáng tỏ các bất cập, hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân của những tồn tại đó.
- Đề xuất các kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự Việt Nam và đưa ra các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng, nâng cao hiệu quả xử lý nhóm tội phạm này.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm khoa học pháp lý về tội xâm phạm hoạt động tư pháp; quy định của pháp luật hình sự Việt Nam và một số quốc gia về nhóm tội phạm này; thực tiễn áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự tương ứng tại địa bàn các tỉnh duyên hải miền Trung.
- Phạm vi nội dung: Tập trung nghiên cứu dấu hiệu pháp lý, TNHS đối với các tội xâm phạm hoạt động tư pháp (Chương XXIV BLHS năm 2015) và thực tiễn xử lý hình sự đối với nhóm tội phạm này.
- Phạm vi không gian: Thực tiễn áp dụng pháp luật tại 8 tỉnh, thành phố trực thuộc khu vực duyên hải miền Trung, gồm: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận.
- Phạm vi thời gian: Quá trình áp dụng quy định pháp luật hình sự để xử lý TNHS đối với các tội xâm phạm hoạt động tư pháp từ năm 2010 đến nay (chuỗi dữ liệu thống kê phản ánh giai đoạn 2010 – 2021).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật chi tiết và phân loại các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến đề tài theo hai khối nguồn tài liệu trong nước và quốc tế.
Các công trình nghiên cứu ngoài nước
Tác giả khảo sát các công trình nghiên cứu pháp lý và tội phạm học quốc tế về nhóm tội phạm chống lại hoạt động tư pháp (crimes against public justice / offences against the administration of justice):
- Nghiên cứu so sánh khu vực: Nhóm tác giả Andrii R. Popovych (9/2020) trong bài viết "Crimes against Justice under the Legislation of the States of the European Union" trên Tạp chí International Journal of Criminology and Sociology, phân tích quy định và số liệu thực thi TNHS về tội phạm chống lại công lý tại các quốc gia Latvia, Lithuania, Romania, Slovenia, Cộng hòa Séc, Tây Ban Nha, Đức, Hà Lan và Đan Mạch so sánh với Ukraina.
- Nghiên cứu tại Hoa Kỳ: Bài viết "Nevada Defense lawyer explains crimes against public justice" của nhóm luật sư bào chữa bang Nevada phân tích cấu thành tội phạm đối với hành vi đưa/nhận hối lộ tư pháp, khai man, đe dọa bồi thẩm đoàn, cản trở điều tra và hành vi ra bản án trái pháp luật của thẩm phán. Giáo trình chuyên khảo "Criminal Law" của Stephen A. Diamond, Kit Kinports và Thomas H. Morawetz (The Michie Company, 1994) luận giải cơ sở tội phạm hóa và dấu hiệu pháp lý của các hành vi cản trở điều tra, nhận hối lộ, ra phán quyết trái pháp luật.
- Khía cạnh tội phạm học chủ thể đặc biệt: Công trình "Criminological aspects of crimes against public justice committed by prosecution authorities office holders" của Sinelnikov làm rõ nguyên nhân phát sinh tội phạm do cán bộ công tố thực hiện, gắn với môi trường nghề nghiệp, sự thiếu hụt văn hóa pháp lý và tính ẩn của tội phạm.
- Nghiên cứu tại Vương quốc Anh và Khối Thịnh vượng chung: Sách chuyên khảo "Blackstone's Commentaries on the Laws of England" (Yale Law School, 2008) bình luận lịch sử và dấu hiệu pháp lý của các tội chống lại công lý tại Anh từ thế kỷ 15 đến nay (tập trung vào hành vi làm sai lệch hồ sơ, lạm quyền cản trở công lý). Bài viết "The Scottish Criminal Justice System" (University of Glasgow, 2019) nghiên cứu hành vi nhận hối lộ, tiêu hủy hồ sơ vụ án, bức cung, dùng nhục hình của nhân viên tư pháp Scotland giai đoạn 2016 – 2018. Báo cáo "Public justice offences" của Australian Law Reform Commission (2010) phân tích các hành vi can thiệp vào hoạt động tư pháp và vấn đề đồng phạm. Bài viết "Trends in offences against the administration of justice" của Marta Burczycka và Christopher Munch (Juristat, 2015) phân tích số liệu tội phạm tư pháp tại Canada giai đoạn 2004 – 2015.
- Nghiên cứu tại Ấn Độ và Liên bang Nga: Tác giả Srishti John (9/2020) trong "Offences against Public Justice" phân tích Chương XI BLHS Ấn Độ (Điều 201 đến 229A), tập trung vào tội tiêu hủy/làm sai lệch chứng cứ (Điều 201) và tội cung cấp thông tin sai sự thật (Điều 203). Giáo trình "Điều tra hình sự" (Расследование преступлений) do GS.TSKH. P. chủ biên (Đại học Tổng hợp Quốc gia Mátxcơva, 2005) nghiên cứu phương pháp luận điều tra tội đưa chứng cứ giả, tội cản trở thi hành tư pháp và hành vi che giấu tội phạm của người có thẩm quyền tố tụng theo BLHS Liên bang Nga.
- Các ấn phẩm lý thuyết khác được điểm qua gồm: International Criminal Justice (Springer Verlag, 2012); Larry J. Siegel (2002); John Pearson (2011); M. Umbreit (2005); Augustine Brannigan và Zhiqiu Lin (1999).
Các công trình nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, các công trình được tác giả phân nhóm và đánh giá cụ thể:
| Nhóm công trình | Tác giả, năm công bố, tên công trình | Trọng tâm nghiên cứu và giá trị kế thừa |
|---|---|---|
| Luận án, đề tài nghiên cứu cấp Bộ | Nguyễn Tất Viễn (1996), Luận án Phó Tiến sĩ; Sách chuyên khảo (2016, NXB Tư pháp) | Nghiên cứu toàn diện đầu tiên về tội xâm phạm hoạt động tư pháp trên cơ sở BLHS năm 1985 (số liệu 1986–1995) và phát triển đến BLHS năm 2015 (số liệu 2000–2015). |
| Nguyễn Huy Hoàn (2005), Luận án Tiến sĩ Luật học | Bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp (giai đoạn 1988–2004), đề xuất hoàn thiện quy định về tội dùng nhục hình theo BLHS 1999. | |
| Trần Mạnh Đạt chủ nhiệm (2012), Đề tài NCKH cấp Bộ, Bộ Tư pháp | Đấu tranh phòng chống tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp trong điều kiện thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp (Nghị quyết 49-NQ/TW), số liệu 2005–2010. | |
| Luận văn Thạc sĩ về nhóm tội hoặc nhân thân | Nguyễn Thị Diệu Trang (2015); Nguyễn Thị Hoàng Yến (2006) | Khái niệm, dấu hiệu cấu thành và thực tiễn áp dụng quy định BLHS 1999; đánh giá nguyên nhân phát sinh tội phạm. |
| Nguyễn Thị Thu Trang (2012) | Tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp có chủ thể đặc biệt là cán bộ thuộc các cơ quan tiến hành tố tụng. | |
| Lê Chí Trung (2018) | Đặc điểm nhân thân người phạm tội xâm phạm hoạt động tư pháp trên địa bàn cả nước giai đoạn 2013–2017 dưới góc độ tội phạm học. | |
| Luận văn Thạc sĩ về các tội danh cụ thể | Bùi Đức Bằng (2013); Phạm Thị Mai Anh (2015); Nguyễn Thị Thu Huyền (2016); Trần Thị Hồng Thái (2015); Hồ Hữu Thành (2016); Hồ Mạnh Hà (2016); Đỗ Thị Thanh Giang (2014) | Nghiên cứu chuyên sâu từng cấu thành: Tội ra bản án trái pháp luật; Tội che giấu tội phạm; Tội không chấp hành án; Tội không thi hành án; Tội cản trở việc thi hành án; Tội không tố giác tội phạm; Tội trốn khỏi nơi giam, giữ. |
| Đề tài về CQĐT VKSNDTC (2020) | Điều tra vụ án làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc của Cơ quan điều tra VKSNDTC giai đoạn 2016 – tháng 6/2020. | |
| Sách chuyên khảo, giáo trình và bài báo | Đinh Văn Quế (2021); Trần Minh Hưởng & Đặng Thu Hiền (2002); Nguyễn Thị Phương Hoa & Phan Anh Tuấn (2017); Lại Viết Quang (2016) | Bình luận khoa học cấu thành và hình phạt; phân tích các điểm mới của BLHS 2015 (bổ sung hành vi làm sai lệch hồ sơ vụ việc, tội vi phạm quy định giam giữ, tội gây rối trật tự phiên tòa, mở rộng chủ thể cơ quan điều tra chuyên trách). |
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Qua tổng quan tài liệu, tác giả khẳng định hầu hết các công trình nghiên cứu trước đây được tiến hành dưới thời điểm thi hành BLHS năm 1985 hoặc BLHS năm 1999, hoặc chỉ tiếp cận cục bộ ở từng tội phạm cụ thể. Kể từ công trình của Nguyễn Tất Viễn (1996), chưa có một luận án tiến sĩ nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về cơ sở lý luận, lập pháp hình sự quốc tế và thực trạng quy định Chương XXIV BLHS năm 2015, kết hợp kiểm chứng qua thực tiễn áp dụng tại một khu vực địa bàn cụ thể có tính chất phức tạp là các tỉnh duyên hải miền Trung trong chuỗi thời gian 2010 – 2021.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết, khái niệm và khung phân tích
Luận án dựa trên nền tảng lý luận của khoa học luật hình sự Việt Nam và các quan điểm chính trị – pháp lý của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp:
- Khái niệm "Hoạt động tư pháp": Luận án chỉ ra ba cách tiếp cận chính trong khoa học pháp lý:
- Nghĩa hẹp: Đồng nhất tư pháp và quyền tư pháp với hoạt động xét xử của Tòa án (dựa trên học thuyết phân quyền cổ điển). Các hoạt động điều tra, công tố, thi hành án thuộc nhánh hành pháp.
- Nghĩa rộng: Hoạt động tư pháp bao gồm xét xử và toàn bộ các hoạt động hỗ trợ, phục vụ hoặc liên quan trực tiếp đến xét xử như điều tra, truy tố, thi hành án hình sự và dân sự, công chứng, giám định, luật sư.
- Quan điểm tiếp cận từ việc thực hiện quyền tư pháp: Luận án khẳng định Tòa án là cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp (quyền xét xử mang tính độc lập và phán quyết cuối cùng). Tuy nhiên, "hoạt động tư pháp" là quá trình gồm nhiều khâu liên kết chặt chẽ (khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án). Hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra, hoạt động công tố và kiểm sát tư pháp của Viện kiểm sát là cơ sở, điều kiện cần thiết để Tòa án thực hiện quyền tư pháp. Do đó, các hoạt động này mang tính quyền lực nhà nước chặt chẽ và thuộc phạm vi hoạt động tư pháp cần được bảo vệ bởi pháp luật hình sự.
- Khái niệm "Cơ quan tư pháp": Luận án phân tích sự phát triển lập hiến từ Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 2013 (Điều 102 quy định Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp) và Luật Tổ chức VKSND năm 2014 (Điều 4 quy định về đối tượng kiểm sát hoạt động tư pháp). Luận án cũng đối chiếu với tinh thần các văn kiện chỉ đạo của Đảng: Nghị quyết số 08-NQ/TW (2002), Nghị quyết số 48-NQ/TW (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW (2005) xác định Tòa án giữ vị trí trung tâm, xét xử là trọng tâm, và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (2021) về phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực nhà nước.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể phân bổ theo từng chương:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Là phương pháp chủ đạo được vận dụng xuyên suốt các chương để mổ xẻ các khái niệm lý luận, cấu thành tội phạm và thực tiễn thi hành án.
- Phương pháp lịch sử cụ thể: Được áp dụng tại Chương 2 và Chương 3 để khảo cứu sự phát triển các quy phạm hình sự bảo vệ hoạt động tư pháp từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 qua các thời kỳ BLHS 1985, BLHS 1999 đến BLHS 2015.
- Phương pháp luật học so sánh, đối chiếu: Được sử dụng chủ yếu tại Chương 2 và Chương 3 để so sánh pháp luật hình sự Việt Nam với quy định của các quốc gia thuộc hệ thống Thông luật (Anh, Hoa Kỳ, Australia, Canada, Ấn Độ) và Dân luật (Liên bang Nga, các quốc gia EU như Đức, Tây Ban Nha, Đan Mạch, Séc, Romania...).
- Phương pháp thống kê, khảo sát thực tế và xã hội học pháp luật: Được áp dụng tập trung tại Chương 4 để thu thập, phân loại, lượng hóa số liệu các vụ án hình sự, số bị cáo bị truy tố, xét xử, kết quả định tội danh và quyết định hình phạt trên địa bàn 8 tỉnh duyên hải miền Trung trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến 2021.
- Phương pháp hệ thống: Dùng để cấu trúc các nhóm giải pháp hoàn thiện văn bản pháp luật và nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật hình sự.
Nguồn tư liệu và dữ liệu thực tế
Nguồn dữ liệu của luận án gồm: hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hình sự, tố tụng hình sự của Việt Nam qua các thời kỳ; các báo cáo công tác hàng năm của VKSND Tối cao và VKSND các tỉnh duyên hải miền Trung (trong đó có báo cáo công tác năm 2021); dữ liệu án văn, hồ sơ các vụ án xâm phạm hoạt động tư pháp tại Tòa án và Viện kiểm sát địa phương thuộc địa bàn nghiên cứu từ năm 2010 đến 2021; hệ thống các văn bản pháp luật nước ngoài và các báo cáo tư pháp quốc tế.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài ở phạm vi ngoài nước và trong nước; xác lập cơ sở phương pháp luận, các câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu của luận án. Tác giả chỉ ra rằng mặc dù các tài liệu nghiên cứu quốc tế đã tiếp cận hành vi xâm phạm công lý dưới góc độ tội phạm học và lập pháp so sánh, nhưng do sự khác biệt về thể chế chính trị và mô hình tố tụng nên không thể áp dụng máy móc vào Việt Nam. Tại Việt Nam, khoảng trống lý luận xuất hiện khi thiếu vắng một nghiên cứu hoàn chỉnh về toàn bộ nhóm tội danh theo BLHS năm 2015 gắn với địa bàn duyên hải miền Trung – nơi ghi nhận các vụ án xâm phạm hoạt động tư pháp nghiêm trọng, phức tạp.
Chương 2: Những vấn đề lý luận và pháp luật hình sự một số quốc gia quy định về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp
Chương này giải quyết các vấn đề lý luận nền tảng và kinh nghiệm quốc tế:
- Xác định bản chất pháp lý: Luận giải khái niệm hoạt động tư pháp, quyền tư pháp và cơ quan tư pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; phân định ranh giới giữa cơ quan thực hiện quyền tư pháp (Tòa án) và các cơ quan tham gia thực hiện quyền tư pháp, tiến hành các hoạt động tư pháp (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Cơ quan thi hành án).
- Dấu hiệu pháp lý đặc trưng: Phân tích 4 yếu tố cấu thành tội phạm chung của nhóm:
- Khách thể: Sự đúng đắn, bình thường và nghiêm minh của hoạt động tố tụng và thi hành án; bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
- Mặt khách quan: Các hành vi làm sai lệch quá trình giải quyết vụ án, cản trở tố tụng, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm người tiến hành hoặc tham gia tố tụng, không chấp hành các phán quyết tư pháp.
- Chủ thể: Gồm chủ thể đặc biệt (người có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp: Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Giám thị trại giam...) và chủ thể thường (người tham gia tố tụng, người bị kết án, công dân).
- Mặt chủ quan: Đa số thực hiện với lỗi cố ý.
- Cơ sở lập pháp và kinh nghiệm quốc tế: Khảo cứu quy định hình sự của các nước thuộc hệ thống Common Law và Civil Law (phân tích các mô hình tội danh chống lại công lý, hình phạt áp dụng cho thẩm phán và nhân viên hành pháp lạm quyền) để rút ra các giá trị gợi mở cho việc hoàn thiện BLHS Việt Nam.
- Lý luận về định tội danh và quyết định hình phạt: Xác định các nguyên tắc phân định tội danh trong trường hợp tội phạm có cấu thành phức tạp, hành vi vi phạm đồng thời xâm phạm nhiều khách thể khác nhau.
Chương 3: Quy định về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp trong pháp luật hình sự Việt Nam
Chương 3 tái hiện sự phát triển lịch sử lập pháp và phân tích sâu các quy định hiện hành:
- Khái quát lịch sử từ năm 1945 đến trước năm 2015: Trình bày quá trình ghi nhận tội phạm qua các sắc lệnh giai đoạn kháng chiến, Sắc luật số 03/SL (1957), pháp điển hóa lần đầu tại BLHS năm 1985 và sửa đổi tại BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
- Quy định tại BLHS năm 2015: Phân tích chi tiết Chương XXIV (Điều 367 đến Điều 391) với các nhóm tội cụ thể:
- Nhóm tội xâm phạm hoạt động tư pháp do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện: Tội dùng nhục hình (Điều 373), Tội bức cung (Điều 374), Tội làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc (Điều 375), Tội thiếu trách nhiệm để người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù trốn (Điều 376), Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật (Điều 377), Tội tha trái pháp luật người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù (Điều 378), Tội ra bản án trái pháp luật (Điều 370), Tội ra quyết định trái pháp luật (Điều 371)...
- Nhóm tội xâm phạm hoạt động tư pháp do người khác thực hiện: Tội mua chuộc hoặc cưỡng ép người khác trong việc khai báo, cung cấp tài liệu (Điều 384), Tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị áp giải, đang bị xét xử (Điều 386), Tội vi phạm quy định về giam giữ (Điều 388), Tội không chấp hành án (Điều 380), Tội không thi hành án (Điều 379), Tội cản trở việc thi hành án (Điều 389), Tội không tố giác tội phạm (Điều 390), Tội gây rối trật tự phiên tòa, phiên họp (Điều 391)...
- Phân tích các bất cập lập pháp: Thiếu tính đồng bộ trong khung hình phạt so với Phần chung; quy định dấu hiệu định lượng hoặc định tính ở một số điều khoản chưa rõ ràng, gây khó khăn cho việc xử lý hình sự trên thực tế.
Chương 4: Thực tiễn áp dụng pháp luật về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp và các yêu cầu giải pháp đảm bảo áp dụng đúng pháp luật về các tội phạm này
Chương 4 chứa đựng toàn bộ nội dung nghiên cứu thực chứng và hệ thống giải pháp của tác giả:
- Thực trạng tình hình tội phạm và xử lý hình sự tại 8 tỉnh duyên hải miền Trung (2010 – 2021): Dựa trên nguồn dữ liệu khảo sát thực tế, tác giả xây dựng 5 bảng thống kê cơ bản phản ánh các góc độ áp dụng pháp luật:
- Bảng 4.1: Số liệu các vụ án xâm phạm hoạt động tư pháp trên địa bàn các tỉnh duyên hải miền Trung giai đoạn 2010 - 2021.
- Bảng 4.2: Số liệu các vụ án xâm phạm hoạt động tư pháp tại từng địa phương cụ thể thuộc các tỉnh duyên hải miền Trung giai đoạn 2010 – 2021 (thống kê phân bố theo từng địa phương: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận).
- Bảng 4.3: Tỷ lệ tội phạm cụ thể trong nhóm các tội xâm phạm hoạt động tư pháp trên địa bàn các tỉnh duyên hải miền Trung trong năm 2021.
- Bảng 4.4: Kết quả định tội danh đối với người phạm tội xâm phạm hoạt động tư pháp trên địa bàn các tỉnh duyên hải miền Trung giai đoạn 2010 - 2021.
- Bảng 4.5: Kết quả quyết định hình phạt đối với người phạm tội xâm phạm hoạt động tư pháp trên địa bàn các tỉnh duyên hải miền Trung giai đoạn 2010 - 2021.
- Những hạn chế, vướng mắc phát hiện từ thực tiễn:
- Tồn tại sự không thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong định tội danh đối với tội phạm có cấu thành kép (hành vi dùng nhục hình dẫn đến chết người).
- Tình trạng xử lý hình phạt chưa tương xứng, áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo hoặc hình phạt cải tạo không giam giữ chưa thật chặt chẽ ở một số vụ án chức vụ tư pháp.
- Vấn đề bỏ lọt hành vi vi phạm do thiếu cơ chế kiểm soát độc lập, việc thu thập chứng cứ trong nội bộ các cơ quan tố tụng gặp nhiều trở ngại do tính chất khép kín của hoạt động điều tra, giam giữ.
- Hệ thống yêu cầu và giải pháp:
- Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự: Sửa đổi, bổ sung Chương XXIV BLHS 2015 nhằm khắc phục sự bất hợp lý trong chế tài; hoàn thiện dấu hiệu cấu thành của tội Dùng nhục hình, tội Bức cung, tội Làm sai lệch hồ sơ; bổ sung các hành vi nguy hiểm mới xuất hiện trong thực tiễn nhưng chưa có tội danh điều chỉnh.
- Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật: Ban hành nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao; nâng cao trình độ chuyên môn, văn hóa pháp lý và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tiến hành tố tụng; tăng cường chức năng điều tra chuyên trách của Cơ quan điều tra VKSND Tối cao; hoàn thiện cơ chế thanh tra, kiểm sát và giám sát tư pháp tại các tỉnh duyên hải miền Trung.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt khoa học lý luận
- Luận án là công trình khoa học chuyên khảo ở cấp độ tiến sĩ luật học đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm hoạt động tư pháp trên cơ sở các quy định của BLHS năm 2015 trong bối cảnh thực hiện cải cách tư pháp theo các văn kiện Đại hội Đảng và Hiến pháp năm 2013.
- Luận án góp phần làm giàu và cụ thể hóa hệ thống lý luận của Luật Hình sự về hoạt động tư pháp, quyền tư pháp và ranh giới bảo hộ của pháp luật hình sự đối với hoạt động tư pháp; làm sáng tỏ các dấu hiệu pháp lý đặc thù của nhóm tội này trong mối quan hệ với các nhóm tội phạm chức vụ và tội phạm xâm phạm trật tự quản lý hành chính khác.
- Cung cấp luận cứ khoa học giải quyết tranh chấp lý luận về định tội danh phức tạp (như tội danh kép giữa xâm phạm hoạt động tư pháp và xâm phạm tính mạng, sức khỏe của công dân).
Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp
- Tổng kết thực tiễn khu vực: Cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện về tình hình tội phạm và thực tiễn định tội danh, áp dụng hình phạt đối với nhóm tội phạm này tại 8 tỉnh duyên hải miền Trung trong giai đoạn 12 năm (2010 – 2021).
- Kiến nghị lập pháp: Đề xuất cụ thể định hướng sửa đổi, bổ sung các điều luật thuộc Chương XXIV BLHS năm 2015, khắc phục mâu thuẫn giữa Phần chung và Phần các tội phạm về hệ thống chế tài; hình sự hóa một số hành vi nguy hiểm chưa được quy định.
- Giải pháp áp dụng pháp luật: Đưa ra các giải pháp liên ngành nhằm nâng cao tính chính xác trong định tội danh, ngăn ngừa tình trạng oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm; tăng cường cơ chế kiểm sát, điều tra của Cơ quan điều tra VKSND Tối cao đối với các vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp tại khu vực miền Trung.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Giới hạn không gian địa bàn: Luận án chỉ khảo sát thực tiễn tại 8 tỉnh, thành phố duyên hải miền Trung (Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận), do đó một số phát hiện thực tiễn mang tính đặc thù địa phương, chưa phản ánh đầy đủ tình hình trên bình diện các vùng kinh tế – xã hội khác hoặc quy mô toàn quốc.
- Khung thời gian dữ liệu: Chuỗi dữ liệu thực chứng của luận án dừng lại ở mốc tổng kết năm 2021; các diễn biến tội phạm và thực tiễn áp dụng sau năm 2021 chưa được cập nhật trong các bảng thống kê định lượng.
- Phạm vi đối tượng nghiên cứu: Luận án tập trung vào phương diện luật hình sự (dấu hiệu pháp lý, TNHS, định tội danh, quyết định hình phạt), chưa đi sâu phân tích toàn diện các khía cạnh tội phạm học chuyên biệt (như cơ chế tâm lý tội phạm, phòng ngừa tội phạm học chi tiết cho từng nhóm đối tượng) hay quy trình tố tụng hình sự đặc thù.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng phạm vi khảo sát thực chứng ra các địa bàn trọng điểm khác (khu vực miền Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ) để xây dựng báo cáo so sánh đa vùng về tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp trên cả nước.
- Tiếp tục theo dõi, đánh giá tác động thực tiễn của các quy định thuộc Chương XXIV BLHS 2015 trong giai đoạn sau năm 2021 khi các đạo luật tư pháp tiếp tục được sửa đổi theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.
- Đi sâu nghiên cứu chuyên biệt về kỹ năng, chiến thuật điều tra tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp của Cơ quan điều tra VKSND Tối cao đối với từng tội danh cụ thể như Tội làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc hoặc Tội ra bản án, quyết định trái pháp luật.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo khoa học có giá trị phục vụ cho nhiều đối tượng trong nghiên cứu, xây dựng và thực thi pháp luật:
- Đối với cơ quan lập pháp (Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội): Cung cấp cơ sở lý luận và dữ liệu thực tế phục vụ quá trình nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các quy định của BLHS năm 2015 liên quan đến Chương XXIV và các quy định của pháp luật tố tụng liên quan.
- Đối với các cơ quan tư pháp Trung ương (TAND Tối cao, VKSND Tối cao): Làm tài liệu tham khảo cho việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn áp dụng thống nhất các điều luật về tội xâm phạm hoạt động tư pháp, đặc biệt trong việc tháo gỡ vướng mắc về định tội danh đối với các hành vi dùng nhục hình, bức cung, làm sai lệch hồ sơ.
- Đối với các cơ quan tiến hành tố tụng địa phương (CQĐT, Viện kiểm sát, Tòa án, Cơ quan thi hành án): Cung cấp nguồn án lệ, bài học nghiệp vụ thực tiễn từ các vụ án tại khu vực duyên hải miền Trung, hỗ trợ cán bộ tố tụng nâng cao kỹ năng phát hiện, phân loại tội phạm và phòng tránh vi phạm pháp luật trong hoạt động công vụ.
- Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học: Là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật Hình sự, Tố tụng hình sự, Tội phạm học tại các cơ sở đào tạo luật trên toàn quốc.
Câu hỏi thường gặp
1. Phạm vi địa bàn nghiên cứu thực tiễn và mốc thời gian thống kê của luận án được xác định như thế nào?
Thực tiễn áp dụng pháp luật được tác giả khảo sát tại 8 tỉnh, thành phố trực thuộc khu vực duyên hải miền Trung gồm: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận. Mốc thời gian nghiên cứu thực tiễn được tính từ năm 2010 đến thời điểm nghiên cứu, trong đó hệ thống bảng số liệu thống kê thu thập và phân tích phản ánh giai đoạn từ năm 2010 đến hết năm 2021.
2. Tình hình tội phạm chức vụ và xâm phạm hoạt động tư pháp tại khu vực duyên hải miền Trung năm 2021 có biến động ra sao so với toàn quốc?
Theo Báo cáo công tác năm 2021 của VKSND các tỉnh, thành phố khu vực duyên hải miền Trung được trích dẫn trong luận án, số lượng vụ án khởi tố tại khu vực này tăng 4,7% về số vụ so với năm 2020 (toàn quốc chỉ tăng 3,1%). Riêng nhóm tội phạm về chức vụ và xâm phạm hoạt động tư pháp tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn đáng kể so với mức tăng 6,1% của toàn quốc.
3. Tác giả luận giải mâu thuẫn lý luận giữa quan niệm "hoạt động tư pháp" theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng như thế nào?
Tác giả phân tích: Quan niệm nghĩa hẹp đồng nhất hoạt động tư pháp với quyền xét xử của Tòa án (theo lý thuyết phân quyền), coi điều tra, công tố, thi hành án là hành pháp; quan niệm nghĩa rộng lại gộp toàn bộ các hoạt động xét xử cùng các hoạt động điều tra, công tố, thi hành án và cả bổ trợ tư pháp (công chứng, luật sư...). Luận án chỉ rõ Tòa án là cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp (quyền xét xử phán quyết độc lập). Tuy nhiên, để Tòa án thực hiện được quyền tư pháp thì quá trình này bắt buộc phải có các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, thi hành án của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Cơ quan thi hành án. Do đó, các hoạt động này chính là hoạt động tư pháp mang tính quyền lực nhà nước, là điều kiện cần thiết để hiện thực hóa quyền tư pháp và là đối tượng bảo vệ của pháp luật hình sự.
4. Những vụ án thực tế điển hình nào tại duyên hải miền Trung được tác giả dẫn chứng về sự xâm phạm hoạt động tư pháp nghiêm trọng?
Luận án dẫn chứng hai vụ án đặc biệt nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn duyên hải miền Trung gây xôn xao dư luận cả nước:
- Vụ án dùng nhục hình dẫn đến hậu quả nạn nhân Ngô Thanh Kiều tử vong tại tỉnh Phú Yên.
- Vụ án ông Huỳnh Văn Nén tại tỉnh Bình Thuận bị bức cung, dùng nhục hình dẫn đến việc phải chấp hành hình phạt tù oan sai trong thời gian gần 17 năm.
5. Hệ thống số liệu thực tiễn tại Chương 4 của luận án được xây dựng qua những bảng dữ liệu cụ thể nào?
Chương 4 của luận án xây dựng 5 bảng số liệu thống kê thực chứng giai đoạn 2010 – 2021 trên địa bàn 8 tỉnh duyên hải miền Trung:
- Bảng 4.1: Số liệu các vụ án xâm phạm hoạt động tư pháp trên địa bàn các tỉnh duyên hải miền Trung giai đoạn 2010 - 2021.
- Bảng 4.2: Số liệu các vụ án xâm phạm hoạt động tư pháp tại từng địa phương cụ thể thuộc các tỉnh duyên hải miền Trung giai đoạn 2010 – 2021.
- Bảng 4.3: Tỷ lệ tội phạm cụ thể trong nhóm các tội xâm phạm hoạt động tư pháp trên địa bàn các tỉnh duyên hải miền Trung trong năm 2021.
- Bảng 4.4: Kết quả định tội danh đối với người phạm tội xâm phạm hoạt động tư pháp trên địa bàn các tỉnh duyên hải miền Trung giai đoạn 2010 - 2021.
- Bảng 4.5: Kết quả quyết định hình phạt đối với người phạm tội xâm phạm hoạt động tư pháp trên địa bàn các tỉnh duyên hải miền Trung giai đoạn 2010 - 2021.
Kết luận
Luận án tiến sĩ luật học của nghiên cứu sinh Phùng Anh Dũng đã giải quyết một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp trên cơ sở pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành và kinh nghiệm lập pháp quốc tế. Thông qua việc phân tích chuỗi dữ liệu thực chứng 2010 – 2021 tại 8 tỉnh duyên hải miền Trung, công trình đã làm sáng tỏ thực trạng áp dụng pháp luật, chỉ ra những bất cập trong định tội danh và áp dụng chế tài hình phạt đối với nhóm tội phạm này. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống giải pháp lập pháp và thực tiễn đồng bộ, góp phần phục vụ công cuộc cải cách tư pháp và hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam.