Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, các quan hệ sở hữu tài sản tại Việt Nam ngày càng phát triển đa dạng, kéo theo sự gia tăng về tính chất phức tạp của các hành vi xâm hại quyền sở hữu. Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định cụ thể các tội phạm xâm phạm sở hữu nhằm thiết lập hành lang pháp lý bảo vệ tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức và công dân. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng quy định pháp luật hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản vẫn bộc lộ nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc định tội danh và lượng hình. Tình trạng "hình sự hóa" các quan hệ hợp đồng dân sự, kinh tế hoặc ngược lại "dân sự hóa", "hành chính hóa" hành vi có dấu hiệu tội phạm vẫn xảy ra trong quá trình xử lý tin báo, tố giác tội phạm và giải quyết vụ án. Bên cạnh đó, hệ thống văn bản hướng dẫn áp dụng đối với tội danh này còn thiếu tính đồng bộ và chưa bao quát hết các tình huống phát sinh. Tại tỉnh Thanh Hóa – địa bàn có diện tích rộng, quy mô dân số lớn và tốc độ phát triển kinh tế nhanh – tình hình tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản diễn biến phức tạp với nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi.
Xuất phát từ thực tế đó, khóa luận xác định mục đích nghiên cứu là nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thông qua việc làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá quy định pháp luật và phân tích thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
Để đạt được mục đích trên, khóa luận triển khai 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu, làm rõ các vấn đề lý luận về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, bao gồm khái niệm, đặc điểm, các dấu hiệu pháp lý, phân biệt với các tội phạm xâm phạm sở hữu khác và khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam qua các giai đoạn.
- Đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự trong việc định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn từ năm 2019 đến tháng 9 năm 2023.
- Chỉ ra những tồn tại, hạn chế, bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật, xác định nguyên nhân và đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác điều tra, truy tố, xét xử loại tội phạm này.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn như sau:
- Đối tượng nghiên cứu: Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 từ thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
- Phạm vi nghiên cứu: Dưới góc độ khoa học luật hình sự, khóa luận tập trung nghiên cứu quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và thực tiễn xét xử tội danh này tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Thanh Hóa trong mốc thời gian từ năm 2019 đến tháng 9 năm 2023.
Cơ sở lý luận, pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận xây dựng hệ thống lập luận dựa trên lý luận cấu thành tội phạm của khoa học luật hình sự Việt Nam (gồm 4 yếu tố: khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan) và quy định của pháp luật thực định. Cơ sở pháp lý trực tiếp bao gồm các quy định về tài sản (Điều 105), quyền tài sản (Điều 115) và quy định về giao kết, thực hiện hợp đồng (Điều 400, các điều khoản về hợp đồng vay, mượn, thuê tài sản) trong Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 175 cùng các điều khoản liên quan trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngoài ra, đề tài khảo cứu có hệ thống các văn bản pháp luật hình sự trong lịch sử: Hiến pháp 1946; Sắc lệnh số 26/SL ngày 25/02/1946, Sắc lệnh số 233/SL ngày 17/11/1946, Sắc lệnh số 267/SL ngày 15/6/1956; Thông tư số 442/TTg ngày 19/1/1955 của Thủ tướng Chính phủ; Sắc luật số 03/SL-1976; hai Pháp lệnh năm 1970; Bộ luật Hình sự năm 1985 (Điều 135, Điều 158 và các luật sửa đổi năm 1989, 1991, 1992, 1997); Bộ luật Hình sự năm 1999 (Điều 140 và Luật sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Phương pháp nghiên cứu được tác giả kết hợp sử dụng gồm:
- Phương pháp logic - lịch sử cụ thể: Nghiên cứu quá trình phát triển của chính sách hình sự và lịch sử lập pháp của Nhà nước Việt Nam về tội danh qua các thời kỳ.
- Phương pháp khảo sát, thống kê: Thu thập, phân loại và xử lý số liệu xét xử của 114 vụ án với 131 bị cáo phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được TAND hai cấp tỉnh Thanh Hóa giải quyết trong giai đoạn 2019 – tháng 9/2023; khảo sát gần 15 vụ án xâm phạm sở hữu có liên quan.
- Phương pháp nghiên cứu điển hình: Lựa chọn và phân tích sâu 10 bản án đã có hiệu lực pháp luật tại Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa nhằm làm rõ việc áp dụng pháp luật trong các tình huống thực tế.
- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp: Đánh giá các dấu hiệu pháp lý, đối chiếu ranh giới giữa tội phạm hình sự với hành vi vi phạm pháp luật dân sự, kinh tế và giữa tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
- Phương pháp hệ thống hóa: Sắp xếp các luận điểm, dữ liệu và giải pháp theo bố cục logic, chặt chẽ.
Nguồn dữ liệu của khóa luận được trích xuất từ báo cáo tổng kết công tác xét xử, bảng thống kê số liệu của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2019 – tháng 9/2023; các bản án hình sự sơ thẩm; số liệu kinh tế - xã hội từ Cổng thông tin điện tử tỉnh Thanh Hóa và Tổng điều tra dân số năm 2019; cùng các giáo trình, tài liệu chuyên khảo của Trường Đại học Luật Hà Nội.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề chung về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Chương này tập trung làm sáng tỏ bản chất pháp lý và lịch sử hình thành tội danh:
- Khái niệm và đặc điểm: Tác giả định nghĩa tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi của chủ thể có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định, lợi dụng sự tin tưởng của người khác để nhận tài sản một cách hợp pháp, sau đó dùng thủ đoạn gian dối hoặc thủ đoạn khác để chiếm đoạt tài sản đó. Tội phạm có 4 đặc điểm: (1) Tài sản bị chiếm đoạt đang nằm trong sự chiếm hữu, quản lý hợp pháp của chủ tài sản; (2) Người phạm tội có được tài sản một cách hợp pháp ban đầu thông qua sự tín nhiệm; (3) Mục đích chiếm đoạt tài sản chỉ nảy sinh sau khi đã nhận được tài sản hợp pháp; (4) Thủ đoạn chiếm đoạt rất đa dạng (gian dối, bỏ trốn, không chịu trả hoặc sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến mất khả năng trả lại).
- Lịch sử lập pháp: Giai đoạn trước năm 1985, tội danh xuất hiện dưới tên gọi "bội tín" trong Thông tư số 442/TTg năm 1955 và Sắc luật số 03/SL-1976. Đến BLHS năm 1985, tội danh được phân tách thành hai điều luật độc lập: Điều 135 (xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa) và Điều 158 (xâm phạm tài sản công dân). Đến BLHS năm 1999, hai tội danh này được hợp nhất tại Điều 140; đến năm 2009 được sửa đổi mức định lượng giá trị tài sản từ 1 triệu đồng lên 4 triệu đồng.
- Phân biệt tội danh: Tác giả xây dựng 5 tiêu chí phân biệt giữa tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:
- Thời điểm nảy sinh ý định chiếm đoạt: Tội lừa đảo có ý định trước khi nhận tài sản; tội lạm dụng tín nhiệm có ý định sau khi đã nhận tài sản hợp pháp.
- Hành vi phạm tội: Tội lừa đảo dùng gian dối làm tiền đề để nhận tài sản; tội lạm dụng tín nhiệm nhận tài sản ngay tình qua giao dịch rồi mới thực hiện thủ đoạn gian dối, bỏ trốn hoặc cố tình không trả.
- Thời điểm hoàn thành tội phạm: Tội lừa đảo hoàn thành ngay khi nhận được tài sản; tội lạm dụng tín nhiệm hoàn thành khi người phạm tội có hành vi vi phạm cam kết, thể hiện ý thức chiếm đoạt.
- Giá trị tài sản định lượng: Mức khởi điểm của tội lạm dụng tín nhiệm là từ 4.000.000 đồng (hoặc dưới 4.000.000 đồng kèm điều kiện nhân thân); tội lừa đảo là từ 2.000.000 đồng.
- Mức hình phạt: Khung hình phạt cao nhất của tội lừa đảo là 20 năm tù hoặc tù chung thân; tội lạm dụng tín nhiệm có mức cao nhất là 20 năm tù.
- Phân định với tranh chấp dân sự, kinh tế: Ranh giới cốt lõi là việc chứng minh người vi phạm có hay không có ý thức cố ý chiếm đoạt tài sản thông qua các dấu hiệu khách quan (bỏ trốn, tẩu tán tài sản, sử dụng vào mục đích bất hợp pháp). Nếu không chứng minh được ý thức chiếm đoạt thì chỉ xử lý trách nhiệm dân sự.
Chương 2: Quy định của BLHS năm 2015 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Chương 2 phân tích chuyên sâu 4 yếu tố cấu thành tội phạm và hệ thống chế tài quy định tại Điều 175 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
- Khách thể: Xâm hại trực tiếp đến quan hệ quyền sở hữu tài sản (không xâm hại quan hệ nhân thân). Đối tượng tác động là tài sản hữu hình (vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản trị giá được bằng tiền); tài sản vô hình không thuộc đối tượng tác động của tội phạm này.
- Mặt khách quan: Thể hiện qua hành vi nhận tài sản qua hợp đồng (vay, mượn, thuê...) rồi thực hiện một trong các hành vi: (1) Dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt; (2) Đến hạn trả mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả; (3) Sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại. Hậu quả định lượng tài sản bị chiếm đoạt trị giá từ 4.000.000 đồng trở lên, hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích.
- Chủ thể: Người từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự và là người được chủ tài sản tín nhiệm giao tài sản thông qua giao dịch hợp pháp.
- Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp. Mục đích chiếm đoạt là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành, nảy sinh sau thời điểm nhận tài sản.
- Hệ thống hình phạt (Điều 175):
- Khung cơ bản (Khoản 1): Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm đối với tài sản chiếm đoạt có giá trị dưới 50.000.000 đồng.
- Khung tăng nặng thứ nhất (Khoản 2): Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm (chiếm đoạt từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; có tổ chức; có tính chất chuyên nghiệp; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; dùng thủ đoạn xảo quyệt; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự; tái phạm nguy hiểm).
- Khung tăng nặng thứ hai (Khoản 3): Phạt tù từ 05 năm đến 12 năm đối với tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
- Khung tăng nặng thứ ba (Khoản 4): Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm đối với tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng trở lên.
- Hình phạt bổ sung (Khoản 5): Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Chương 3: Thực tiễn xét xử và áp dụng pháp luật hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Chương này đánh giá tình hình thực tế thông qua số liệu thống kê và án lệ cụ thể:
- Đặc điểm địa bàn: Thanh Hóa có diện tích tự nhiên 11.120,6 km² (đứng thứ 5 cả nước), thềm lục địa 18.000 km², dân số năm 2019 là 3.640.128 người (đứng thứ 3 cả nước), mật độ 328 người/km². Cơ cấu kinh tế có công nghiệp - xây dựng chiếm 47,1%, dịch vụ chiếm 33,28%, nông lâm thủy sản chiếm 10,9%.
- Số liệu xét xử giai đoạn 2019 – tháng 9/2023: TAND hai cấp tỉnh Thanh Hóa đã giải quyết tổng cộng 114 vụ án với 131 bị cáo về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
| Năm |
Số vụ án giải quyết |
Số bị cáo trong vụ án |
| 2019 |
33 |
37 |
| 2020 |
18 |
21 |
| 2021 |
25 |
27 |
| 2022 |
23 |
31 |
| Đến tháng 9/2023 |
15 |
15 |
| Tổng cộng |
114 |
131 |
(Nguồn số liệu: Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa)
- Cơ cấu hình phạt áp dụng: Phần lớn các bị cáo bị áp dụng hình phạt tù từ 3 năm trở xuống (73 bị cáo, chiếm 55,7%) và tù từ trên 3 năm đến 7 năm (41 bị cáo, chiếm 31,3%). Không có trường hợp nào áp dụng cải tạo không giam giữ hoặc tù chung thân.
| Năm |
Cải tạo không giam giữ |
Phạt tù từ 3 năm trở xuống |
Phạt tù trên 3 năm đến 7 năm |
Phạt tù trên 7 năm đến 15 năm |
Phạt tù trên 15 năm đến 20 năm |
Tù chung thân |
| 2019 |
0 |
23 |
11 |
3 |
0 |
0 |
| 2020 |
0 |
13 |
5 |
3 |
0 |
0 |
| 2021 |
0 |
16 |
7 |
4 |
0 |
0 |
| 2022 |
0 |
14 |
12 |
4 |
1 |
0 |
| Đến 9/2023 |
0 |
7 |
6 |
1 |
1 |
0 |
| Tổng cộng |
0 |
73 |
41 |
15 |
2 |
0 |
(Nguồn số liệu: Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa)
- Phân tích bản án điển hình: Bản án số 127/2023/HS-ST ngày 16/6/2023 của TAND tỉnh Thanh Hóa xét xử bị cáo Nguyễn Công H. Ngày 03/9/2010, H ký hợp đồng thuê xe ô tô Innova (trị giá định giá 585.080.000 đồng) của anh Nguyễn Anh T trong 15 ngày với giá 900.000 đồng/ngày. Sau đó, H đem xe cầm cố lấy 250.000.000 đồng chi tiêu cá nhân rồi cắt liên lạc, bỏ trốn. Ngày 12/9/2011, H bị truy nã và đến ngày 09/11/2022 bị bắt giữ. Tòa án xác định hành vi của H có đầy đủ yếu tố cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Khoản 4 Điều 175 BLHS năm 2015 và tuyên phạt bị cáo 12 năm tù.
- Hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn:
- Thiếu văn bản hướng dẫn chi tiết phân biệt giữa vi phạm hợp đồng dân sự và tội phạm hình sự, dẫn đến nguy cơ hình sự hóa tranh chấp hoặc bỏ lọt tội phạm.
- Hình phạt bổ sung (Khoản 5 Điều 175) hầu như không được các tòa án áp dụng trên thực tế.
- Khó khăn trong việc thu thập chứng cứ chứng minh dấu hiệu "bỏ trốn" khi người phạm tội rời khỏi nơi cư trú nhưng vẫn liên lạc với gia đình.
- Khó thống nhất cách hiểu và chứng minh tình tiết "sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại".
- Bất cập trong định lượng khởi điểm (mức 4.000.000 đồng) và quy định tình tiết nhân thân "đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản" (người có tiền án về tội giết người, ma túy chiếm đoạt dưới 4 triệu đồng không bị xử lý hình sự tội này nếu chưa có tiền án về tội chiếm đoạt).
Chương 4: Một số đề xuất bảo đảm áp dụng đúng pháp luật về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Trên cơ sở thực tiễn tại địa phương, tác giả đề xuất 6 nhóm giải pháp:
- 4.1. Hoàn thiện quy định pháp luật hình sự: Ban hành văn bản hướng dẫn giải thích rõ ràng các dấu hiệu định tội như "bỏ trốn", "sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp" và xem xét điều chỉnh mức định lượng cấu thành cơ bản.
- 4.2. Nâng cao hoạt động tổng kết thực tiễn: Định kỳ tổ chức rút kinh nghiệm công tác xét xử, giải đáp các vướng mắc nghiệp vụ giữa các cấp tòa án.
- 4.3. Nâng cao năng lực của cán bộ áp dụng pháp luật: Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, kỹ năng thu thập, đánh giá chứng cứ cho Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán.
- 4.4. Tăng cường cơ chế phối hợp giữa các cơ quan áp dụng pháp luật: Thiết lập sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án trong quá trình phân loại, xử lý tin báo và giải quyết vụ án.
- 4.5. Tăng cường vai trò của luật sư và trợ giúp pháp lý: Bảo đảm quyền bào chữa, tranh tụng dân chủ tại phiên tòa nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan.
- 4.6. Nâng cao công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật: Đẩy mạnh tuyên truyền các phương thức, thủ đoạn phạm tội để nâng cao ý thức cảnh giác của người dân và doanh nghiệp khi tham gia các giao dịch dân sự, kinh tế.
Kết quả và đóng góp
- Hệ thống hóa lý luận: Khóa luận làm rõ bản chất pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo BLHS năm 2015, chỉ ra 4 đặc điểm nhận diện cốt lõi và xây dựng 5 tiêu chí phân biệt rành mạch với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng như các tranh chấp hợp đồng dân sự.
- Dữ liệu thực tiễn chi tiết: Cung cấp bức tranh toàn diện về thực trạng xét xử tội danh này tại TAND tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn 2019 – tháng 9/2023 với số liệu tổng hợp 114 vụ án/131 bị cáo và phân tích cơ cấu 6 nhóm hình phạt được áp dụng.
- Phát hiện bất cập thực định: Chỉ ra 5 nhóm vướng mắc nổi cộm trong công tác xét xử, đặc biệt là sự thiếu vắng của việc áp dụng hình phạt bổ sung và khó khăn trong chứng minh dấu hiệu "bỏ trốn", "mục đích bất hợp pháp".
- Hệ thống giải pháp đồng bộ: Đề xuất 6 nhóm kiến nghị có tính khả thi, kết hợp giữa hoàn thiện quy định lập pháp, nâng cao năng lực cán bộ tiến hành tố tụng và tăng cường công tác phổ biến giáo dục pháp luật.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực tiễn của đề tài mới chỉ giới hạn tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Thanh Hóa trong khoảng thời gian từ năm 2019 đến tháng 9 năm 2023; chưa có điều kiện đối chiếu, so sánh số liệu với các địa phương khác trên phạm vi toàn quốc.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Khóa luận mở ra hướng nghiên cứu mở rộng quy mô khảo sát thực tiễn xét xử tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên phạm vi cả nước; đồng thời nghiên cứu chuyên sâu về mô hình lập pháp và kỹ thuật xây dựng các dấu hiệu định tội định khung tại Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự; cán bộ nghiên cứu pháp luật; Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Luật sư và những người tham gia tố tụng.
- Phần nội dung đáng lưu ý: Bảng tiêu chí so sánh phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Chương 1); phân tích 4 yếu tố cấu thành theo Điều 175 BLHS 2015 (Chương 2); hệ thống bảng biểu số liệu thống kê xét xử cùng phân tích bản án điển hình số 127/2023/HS-ST (Chương 3).
Câu hỏi thường gặp
1. Dấu hiệu mấu chốt để phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là gì?
Dấu hiệu mấu chốt nằm ở thời điểm nảy sinh ý định chiếm đoạt và tính chất nhận tài sản ban đầu. Đối với tội lừa đảo, ý định chiếm đoạt và thủ đoạn gian dối có trước khi nhận tài sản; nạn nhân vì bị lừa dối nên tự nguyện giao tài sản. Đối với tội lạm dụng tín nhiệm, việc nhận tài sản ban đầu hoàn toàn ngay tình, hợp pháp thông qua hợp đồng; ý định chiếm đoạt tài sản chỉ nảy sinh sau khi người phạm tội đã có được tài sản trong tay.
2. Mức định lượng giá trị tài sản tối thiểu để cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 BLHS 2015 là bao nhiêu?
Mức giá trị tài sản bị chiếm đoạt tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự ở khung cơ bản là từ 4.000.000 đồng trở lên. Trường hợp tài sản dưới 4.000.000 đồng chỉ bị xử lý hình sự nếu người vi phạm đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này/tội chiếm đoạt tài sản khác chưa được xóa án tích.
3. Trong giai đoạn 2019 đến tháng 9/2023, TAND hai cấp tỉnh Thanh Hóa đã xét xử bao nhiêu vụ án và bị cáo phạm tội danh này?
Theo số liệu thống kê trong khóa luận, TAND hai cấp tỉnh Thanh Hóa đã giải quyết 114 vụ án với 131 bị cáo phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (năm 2019: 33 vụ/37 bị cáo; năm 2020: 18 vụ/21 bị cáo; năm 2021: 25 vụ/27 bị cáo; năm 2022: 23 vụ/31 bị cáo; đến tháng 9/2023: 15 vụ/15 bị cáo).
4. Mức hình phạt nào được TAND tỉnh Thanh Hóa áp dụng phổ biến nhất đối với tội phạm này?
Hình phạt phạt tù từ 3 năm trở xuống được áp dụng nhiều nhất với 73 bị cáo (chiếm 55,7% tổng số bị cáo), tiếp đến là hình phạt tù từ trên 3 năm đến 7 năm với 41 bị cáo (chiếm 31,3%). Toàn bộ giai đoạn không có trường hợp nào áp dụng án phạt cải tạo không giam giữ hoặc tù chung thân.
5. Vụ án Nguyễn Công H (Bản án số 127/2023/HS-ST) có tình tiết và mức xử phạt như thế nào?
Nguyễn Công H thuê xe ô tô Innova trị giá 585.080.000 đồng trong 15 ngày, sau đó đem cầm cố lấy 250.000.000 đồng chi tiêu cá nhân rồi bỏ trốn, bị truy nã từ năm 2011 đến cuối năm 2022 mới bị bắt. TAND tỉnh Thanh Hóa đã tuyên phạt bị cáo 12 năm tù giam theo quy định tại Khoản 4 Điều 175 BLHS năm 2015.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Duy Ngọc đã làm sáng tỏ một cách có hệ thống các vấn đề lý luận và quy định pháp luật hình sự hiện hành về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015. Thông qua việc phân tích thực tiễn xét xử 114 vụ án tại Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2019 – tháng 9/2023, công trình đã chỉ ra những vướng mắc điển hình trong phân định ranh giới giữa tội phạm và quan hệ dân sự, kinh tế. Hệ thống 6 nhóm giải pháp do tác giả đề xuất mang tính đồng bộ, góp phần nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật và hoàn thiện công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm sở hữu trong giai đoạn hiện nay.