CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - PHÁP LUẬT VỀ BIỆN PHÁP TẠM GIAM VÀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIAM 1. Khái niệm, đặc điểm của biện pháp tạm giam, người bị tạm giam và bảo đảm quyền con người của người bị tạm giam Biện pháp tạm giam và NBTG là những phạm trù công cụ trong quá trình nghiên cứu đảm bảo QCN của NBTG. Vì vậy, cần nghiên cứu làm rõ khái niệm, đặc điểm của BPTG và khái niệm, đặc điểm của NBTG.
Khái niệm, đặc điểm của biện pháp tạm giam 1. Khái niệm “biện pháp tạm giam” Trước hết, cần hiểu Biện pháp tạm giam (BPTG) là một trong những biện pháp ngăn chặn (BPNC) mà Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 (BLTTHS) quy định. Biện pháp này sẽ cách ly NBTG ra khỏi xã hội trong thời gian nhất định nhằm ngăn chặn hành vi trốn tránh pháp luật, cản trở hoạt động của cơ quan, người tiến hành tố tụng hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội. Ngoài cách hiểu khái quát về BPNC tạm giam như trên, trong các giáo trình, công trình nghiên cứu chuyên khảo về TTHS khái niệm BPNC tạm giam còn được diễn đạt theo nhiều cách khác nhau, điển hình như một số khái niệm sau: - Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam (2008) của Nxb.
Đại học quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) cho rằng: “Tạm giam là BPNC trong TTHS do cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội trong trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm mà BLHS quy định hình phạt trên hai năm và có căn cứ để cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội” (6, tr. 8 - Theo tác giả Nguyễn Mai Bộ: “Tạm giam là biện pháp cách ly bị can, bị cáo với xã hội trong thời gian nhất định nhằm ngăn chặn hành vi trốn tránh pháp luật, cản trở việc điều tra, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội của bị can, bị cáo đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử thi hành án được thuận lợi” (22, tr. Từ những quan niệm trên có thể rút ra khái niệm BPNC tạm giam như sau: Tạm giam là biện pháp ngăn chặn do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị yêu cầu dẫn độ, người bị dẫn độ khi có căn cứ và theo trình tự, thủ tục luật định nhằm ngăn chặn hành vi trốn tránh pháp luật, cản trở điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hoặc tiếp tục phạm tội hay bỏ trốn gây khó khăn, cản trở yêu cầu dẫn độ hoặc thi hành quyết định dẫn độ. Nhìn chung, BPTG là BPNC mang tính nghiêm khắc nhất, vì biện pháp này hạn chế nhiều nhất quyền tự do của con người.
Không như các BPNC khác như cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền đều không hạn chế hoặc hạn chế trong địa bàn mà người bị tình nghi phạm tội đang cư trú, BPTG sẽ cách ly hẳn người bị tình nghi phạm tội ra khỏi cộng đồng ảnh hưởng rất lớn đến danh dự, uy tín và đời sống của con người.2 Đặc điểm biện pháp tạm giam Từ khái niệm được xây dựng như trên có thể chỉ ra được những đặc điểm thuộc về bản chất của BPNC tạm giam như sau: Một là, BPNC tạm giam là một trong những BPNC được quy định trong pháp luật TTHS Việt Nam. Trong đó, căn cứ, thủ tục, thẩm quyền, thời hạn áp dụng cũng như căn cứ, thẩm quyền, thủ tục thay thế, hủy bỏ BPNC được quy định trong các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự cụ thể. Hai là, BLTTHS giao cho các cơ quan, người tiến hành tố tụng có thẩm quyền áp dụng BPTG. 9 Ba là, đối tượng bị áp dụng BPNC tạm giam là người bị tình nghi phạm tội hoặc người bị dẫn độ.
Đặc điểm này giúp phân biệt BPNC tạm giam với những BPNC, cưỡng chế trong các lĩnh vực tố tụng khác nhau như tố tụng dân sự, tố tụng hành chính. Bốn là, hiệu quả của việc áp dụng BPNC tạm giam là người bị áp dụng BPNC này bị cách ly ra khỏi đời sống xã hội trong khoảng thời gian nhất định. Theo đó, khi cơ quan có thẩm quyền quyết định áp dụng BPNC tạm giam, người bị áp dụng được giao cho các cơ sở giam giữ để chịu sự quản lý trong khoảng thời gian nhất định theo Lệnh, quyết định tạm giam. Với việc bị quản lý tại cơ sở giam giữ, người bị tạm giam không thể tiếp tục phạm tội hay có cách hành động gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án hình sự như bỏ trốn, thông cung, tiêu hủy chứng cứ… Năm là, mục đích của BPTG là ngăn chặn hành vi cản trở quá trình giải quyết vụ án của các cơ quan tư pháp và thi hành án hoặc tiếp tục phạm tội hay bỏ trốn gây khó khăn, cản trở yêu cầu dẫn độ hoặc thi hành quyết định dẫn độ.
Trên thực tế, tại các nước trên thế giới hiện nay đều có quy định về BPTG, theo cách này hay cách khác, các BPNC này đều có một mục đích là ngăn chặn tội phạm và đảm bảo cho công tác giải quyết vụ án một cách khách quan nhất. Khái niệm, đặc điểm của người bị tạm giam 1. Khái niệm người bị tạm giam Khái niệm người bị tạm giam đã được các nhà làm luật quy định cụ thể trong Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015. Điều 3 của luật này nêu khái niệm NBTG như sau: “Người bị tạm giam là người đang bị quản lý tại cơ sở giam giữ trong thời hạn tạm giam, gia hạn tạm giam theo quy định của BLTTHS, bao gồm bị can; bị cáo; người bị kết án phạt tù, người bị kết 10 án tử hình mà bản án chưa có hiệu lực pháp luật hoặc đang chờ thi hành án; NBTG để thực hiện việc dẫn độ” (Điều 3) [9, tr.
Người bị tạm giam là đối tượng áp dụng biện pháp tạm giam có thể bị can, bị cáo trong một số các trường hợp được quy định tại Điều 119 BLTTHS 2015 cụ thể như sau: “Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng. - Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 02 năm khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp: a) Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm; b) Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can; c) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn; d) Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội; đ) Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này. Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù đến 02 năm nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã. Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ các trường hợp: 11 a) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã; b) Tiếp tục phạm tội; c) Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những người này; d) Bị can, bị cáo về tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ xác định nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia” (Điều 119) [11, tr.
Điều 503 BLTTHS quy định: “Việc bắt người bị yêu cầu dẫn độ để tạm giam hoặc thi hành quyết định dẫn độ được thực hiện theo quy định tại Điều 113 của Bộ luật này. Từ đó có thể thấy NBTG có thể là người bị xem xét yêu cầu dẫn độ hoặc thi hành yêu cầu dẫn độ khi có đủ các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 502 của BLTTHS.2 Đặc điểm của người bị tạm giam Một là, NBTG là người bị áp dụng BPNC tạm giam, một BPNC được quy định cụ thể trong pháp luật tố tụng hình sự. Trong đó, căn cứ, thủ tục, thẩm quyền, thời hạn áp dụng cũng như căn cứ, thẩm quyền, thủ tục thay thế, hủy bỏ BPNC được quy định trong các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự một cách rất cụ thể. Hai là, NBTG có thể là bị can, bị cáo, người bị kết án hoặc người bị dẫn độ.
Đó là những người mà cơ quan có thẩm quyền nghi ngờ rằng người đó đã thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự (BLHS) quy định là tội phạm. Ba là, NBTG sẽ bị tạm giam trong cơ sở giam giữ. Theo đó, khi cơ quan có thẩm quyền quyết định áp dụng BPNC tạm giam, người bị áp dụng 12 được giao cho các cơ sở giam giữ để chịu sự quản lý trong khoảng thời gian nhất định theo Lệnh, quyết định tạm giam. Với việc bị quản lý tại cơ sở giam giữ, người bị tạm giam không thể tiếp tục phạm tội hay có cách hành động gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án hình sự như bỏ trốn, thông cung, tiêu hủy chứng cứ… Bốn là, một số quyền của NBTG sẽ bị hạn chế theo quy định của pháp luật Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 quy định khá đầy đủ các quyền cơ bản của QCN trong các lĩnh vực dân sự, văn hóa, chính trị, quyền được bảo vệ tính mạng sức khỏe, danh dự, nhân phẩm áp dụng cho NBTG.
Trong đó, Điều 9 Luật tạm giữ, tạm giam quy định rất rõ NBTG chỉ bị hạn chế bởi Luật này hoặc luật khác có liên quan, còn lại họ vẫn được hưởng hết các quyền công dân.