mở đầu cho công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta. Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Trước đó, có thể thấy, quan điểm không thừa nhận nguyên tắc tranh tụng trong đề tài “Những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách của tố tụng hình sự Việt Nam” do Vũ Đức Khiển [45], kết quả nghiên cứu và kiến nghị đề xuất có l4 vấn đề: Trong đó các tác giả của đề tài kiến nghị một số vấn đề xác định nguyên tắc của TTHS Việt Nam. Về nguyên tắc tranh tụng, quan điểm của ban chủ nhiệm đề tài cho rằng: không cần xác định tranh tụng như là một nguyên tắc cơ bản của TTHS nước ta giống như luật của nhiều nước phương tây đã xác định.
Vì ban chủ nhiệm đề tài cho rằng: Thứ nhất, tư tưởng chỉ đạo xây dựng BLTTHS (sửa đổi) xuất phát từ quan điểm tổ chức bộ máy Nhà nước ta theo nguyên tắc tập trung quyền lực, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công phân nhiệm và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước. Xây dựng bộ máy các cơ quan tiến hành TTHS cũng tuân theo nguyên tắc này. Nguyên tắc tranh tụng được xác định trong TTHS của một số nước 12 trên nền tảng của lý thuyết phân chia quyền lực. Vì vậy, xác định nguyên tắc tranh tụng trong TTHS không phù hợp với nguyên tắc tổ chức Bộ máy nhà nước ta.
Thứ hai, chức năng của các cơ quan tố tụng đã được Luật hiện hành xác định rõ ràng: Cơ quan điều tra các loại tội phạm; Viện kiểm sát thực hiện hai chức năng: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật và chức năng công tố; Toà án thực hiện chức năng xét xử. Nếu xác định nguyên tắc tranh tụng tuyệt đối hoá Toà án chỉ đóng vai trò trọng tài, không buộc tội, không gỡ tội. Quan điểm về tranh tụng đã không thừa nhận nguyên tắc phối hợp (Điều 9 BLTTHS năm l988). Đồng thời truyền thống TTHS nước ta từ năm l945 đến l996 đã khẳng định trách nhiệm bảo vệ của nhà nước đối với công dân trước những hành vi phạm tội.
Điều này không có nghĩa là tạo ra sự bất bình đẳng trong TTHS. Quan điểm trên của ban chủ nhiệm đề tài thể hiện những hạn chế nhất định khi đối chiếu với quan điểm về cải cách tư pháp của Đảng ta thể hiện trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/0l/2002 của Bộ chính trị và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị (khoá IX) về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. - Nhận thức được vai trò quan trọng của bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS và sự cần thiết xây dựng nguyên tắc tranh tụng trong TTHS Việt Nam được thể hiện trong công trình “Mô hình lý luận BLTTHS Việt Nam” của Phạm Hồng Hải [33, tr. Cuốn sách gồm 3 chương, đáng chú ý là nội dung mục 3 trong chương 3: Tiến tới xây dựng tố tụng hình sự ở Việt Nam theo kiểu tranh tụng.
Với nhận định, BLTTHS năm l988 của Việt Nam đã có nhiều quy định tiến bộ với nhiều nguyên tắc như: Nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 20); Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án (Điều 4); Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án (Điều 20). Những nguyên tắc này ít nhiều đã thể hiện nội dung tranh tụng trong TTHS, song các yếu tố xét hỏi vẫn nhiều hơn. Tác giả cho rằng, tại các giai đoạn khởi tố, điều tra, xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm việc tranh tụng hầu như không tồn tại - đây là sự lạc hậu của TTHS nước ta so với TTHS ở một số quốc gia khác cũng đang có những điều kiện kinh tế-xã hội tương tự. Trong điều kiện hội nhập, xây dựng TTHS Việt Nam theo kiểu TTHS tranh tụng là đòi hỏi cấp bách hiện nay và khẳng định: bản 13 thân tranh tụng là nguyên tắc của TTHS, là phương pháp để tìm ra sự thật khách quan của vụ án.
Ở mục 4, chương l: Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị truy cứu trách nhiệm hình sự, tác giả đã đề xuất những nội dung của BLTTHS. Trong đó, tác giả cho rằng những vấn đề chung của TTHS cần có 17 nguyên tắc, trong đó tác giả nhấn mạnh “Nguyên tắc tranh tụng”. Tuy tác giả yêu cầu Luật hoá nguyên tắc tranh tụng, nhưng những nhận định và đề xuất liên quan đến nguyên tắc này trong công trình giới hạn ở phạm vi nghiên cứu tổng thể BLTTHS. Nhóm các công trình nghiên cứu về tranh tụng tại các phiên tòa ở Việt Nam - Ngoài các công trình thể hiện quan điểm có cả thừa nhận và không thừa nhận nguyên tắc tranh tụng và bảo đảm nguyên tắc tranh tụng ở nước ta, còn có một số các công trình tuy không đề cập trực tiếp nhưng cũng thể hiện những nội dung nghiên cứu ở các góc độ khác nhau liên quan đến tranh tụng hoặc nguyên tắc tranh tụng như: luận án tiến sĩ luật học “Thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong TTHS” của Hoàng Thị Sơn [66]; đề tài nghiên cứu khoa học “Tranh tụng tại phiên tòa - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” [81]; cuốn “Vai trò của luật sư trong hoạt động tranh tụng” của Trương Thị Hồng Hà [32]; công trình khoa học với đề tài “Hoàn thiện các quy định của BLTTHS năm 2003 liên quan đến tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm - Cơ sở lý Comment [Water1]: luận và thực tiễn” do Nguyễn Đức Mai [52].
- Nguyên tắc tranh tụng và bảo đảm nguyên tắc tranh tụng còn được thể hiện trong nhiều bài viết quy mô nhỏ như: cuốn “Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền” do Lê Cảm và Nguyễn Ngọc Chí đồng chủ biên [77]; bài viết “Mỹ, tranh tụng khi xét xử tại tòa” của Phan Lan [46, tr.13]; bài viết “Nguyên tắc tranh tụng trong hệ thống các nguyên tắc cơ bản của luật TTHS” của Lê Cảm [15, tr.3-8]; bài viết “Đặc điểm của mô hình TTHS và phương hướng hoàn thiện mô hình TTHS ở Việt Nam” của Nguyễn Đức Mai [51, tr.1-8]; bài viết “Cần bổ sung nguyên tắc tranh tụng vào BLTTHS” của Lại Văn Trình [78, tr. 14 Các công trình nêu trên chủ yếu đề cập đến sự cần thiết phải áp dụng nguyên tắc tranh tụng trong hoạt động xét xử, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống và toàn diện theo chiều sâu về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam. Ở Việt Nam hiện nay, nghiên cứu hoạt động tranh tụng được đặt trong tổng thể của việc nghiên cứu hệ thống TTHS. Bên cạnh đó, tranh tụng với ý nghĩa là một nguyên tắc của TTHS đòi hỏi các chủ thể tiến hành tố tụng, các cá nhân, cơ quan có liên quan phải có trách nhiệm bảo đảm cho hoạt động tranh tụng được thực hiện trên thực tiễn đúng theo quy định của pháp luật.
Có bảo đảm tranh tụng công khai, khách quan, công bằng và trực tiếp giữa các bên buộc tội và gỡ tội dưới sự điều khiển công minh, chính trực của TP thì sự thật khách quan mới được làm sáng tỏ. Như vậy, pháp luật mới được thực hiện nghiêm minh, mới bảo vệ được quyền con người, quyền công dân. Hoạt động tranh tụng từ đó đòi hỏi phải được đặt trong tổng thể các quy định của pháp luật. Ngay từ khi mới ra đời, nền Tư pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã chịu ảnh hưởng rất nhiều của hệ thống Tư pháp của Pháp, đó là mô hình tố tụng thẩm vấn.
Sau đó vào giai đoạn những năm1960, khi hệ thống tư pháp Việt Nam có sự cải cách cơ bản thì ngay trong hệ thống cơ quan tư pháp có sự phối hợp, ràng buộc lẫn nhau. Trong các giai đoạn TTHS, hoạt động tranh tụng của Luật sư mặc dù chưa được quy định phù hợp với thực tiễn xét xử, song do chịu nhiều ảnh hưởng của tố tụng tranh tụng nên Luật sư đã và đang chuyển dần từ vai trò của người hỗ trợ cho hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án để chuyển sang vai trò chính là người “gỡ tội”. Những năm gần đây, đặc biệt kể từ sau khi có Nghị quyết số 08/NQ-TW, vấn đề tranh tụng trong TTHS nói riêng và tranh tụng trong các phiên toà được xem xét một cách khá toàn diện. Thực tiễn đang có hai luồng ý kiến khác nhau.
Ý kiến thứ nhất cho rằng: Cần phải chuyển mô hình tố tụng của Việt Nam sang mô hình tố tụng tranh tụng nhằm bảo đảm sự bình đẳng, khách 15 quan trong quá trình tố tụng, phát huy yếu tố tranh tụng trong tất cả các khâu, các giai đoạn tố tụng từ giai đoạn bắt tạm giữ, tạm giam, điều tra thu thập chứng cứ đến giai đoạn xét xử và thậm chí kể cả các giai đoạn thi hành án. Nghiêng về ý kiến này, đại diện là Phạm Hồng Hải, phó chủ tịch liên đoàn luật sư Việt Nam, trong bài viết: “Phương hướng hoàn thiện mô hình TTHS Việt Nam”, tài liệu hội thảo khoa học Mô hình luật TTHS Việt Nam tháng 12 năm 2009. Tác giả đã đi sâu vào phân tích theo Nghị quyết số 08; Nghị quyết 48 và Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp ở nước ta. Tác giả đã phân tích và đánh giá trên lịch sử tồn tại và phát triển của TTHS Việt Nam qua các giai đoạn, tìm ra những ưu điểm và hạn chế của nó.
Tác giả cũng nêu, hiện nay theo quy định của pháp luật ở Việt Nam có ba CQTHTT là CQĐT, VKS và TA, tiến hành tố tụng đều thực hiện một nhiệm vụ là chứng minh tội phạm, tại Điều 10 của BLTTHS hiện hành “trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về Cơ quan tiến hành tố tụng”. Từ đó, tác giả đưa ra phương hướng hoàn thiện mô hình TTHS Việt Nam trong thời gian tới là phải xây dựng TTHS Việt Nam theo kiểu tranh tụng. Nhưng tác giả mới chỉ đưa ra phương hướng chung, chưa có phương hướng, nguyên tắc cụ thể theo kiểu tranh tụng và cũng chưa đi sâu về cơ sở lý luận, thực tiễn của mô hình TTHS mà chỉ phân tích và đánh giá trên một phương hướng chuyển sang mô hình tố tụng tranh tụng. Ý kiến thứ hai cho rằng: Ở Việt Nam, mô hình tố tụng thẩm vấn đã vận dụng và áp dụng mang lại nhiều hiệu quả thiết thực trong tổ chức và hoạt động điều tra, truy tố và xét xử, đặc biệt là ở lĩnh vực hình sự.