Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN KHÔNG BUỘC PHẢI ĐƯA RA LỜI KHAI CHỐNG LẠI CHÍNH MÌNH HOẶC BUỘC PHẢI NHẬN MÌNH CÓ TỘI CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội 1. Khái niệm người bị buộc tội Thuật ngữ pháp lý “người bị buộc tội” lần đầu tiên xuất hiện trong Hiến pháp năm 2013. Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 2013, điểm đ khoản 1 Điều 4 BLTTHS năm 2015 ghi nhận người bị buộc tội gồm: người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Đồng thời, khoản 1 Điều 8 BLHS năm 2015 quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện…”. Một trong những điểm mới nổi bật của BLTTHS năm 2015 là ghi nhận người bị buộc tội có thể là pháp nhân thương mại thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm. Hiện nay, nhiều tác giả đã đưa ra các quan điểm khác nhau về khái niệm người bị buộc tội như: Người bị buộc tội là người bị các cơ quan tiến hành tố tụng có đủ căn cứ nghi ngờ họ thực hiện hành vi phạm tội và với họ đã bị bắt, tạm giữ, khởi tố bị can hoặc bị Tòa án đưa ra xét xử theo quy định của pháp luật [28, tr.
Khái niệm chưa nêu ra trường hợp người bị buộc tội là người bị bắt, bị tạm giữ thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm theo BLHS, chưa nêu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp ra các quyết định tố tụng làm phát sinh địa vị pháp lý của người bị buộc tội. Đồng thời, cũng có quan điểm cho rằng, người bị buộc tội là người (cá nhân) bị cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp tố tụng để bảo đảm cho việc 8 phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, truy cứu trách nhiệm hình sự khi có đủ căn cứ theo luật định xác định người đó có thể đã thực hiện tội phạm hoặc hành vi có dấu hiệu tội phạm mà BLHS quy định là tội phạm. Người bị buộc tội có địa vị pháp lý cụ thể là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được pháp luật quy định tương ứng với từng giai đoạn tố tụng cụ thể [31, tr. Theo quan điểm của học viên, người bị buộc tội còn có thể là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại trong trường hợp thực hiện hành vi phạm tội hoặc hành vi nguy hiểm cho xã hội có dấu hiệu tội phạm theo Điều 75, 76 BLHS năm 2015.
Để làm rõ khái niệm người bị buộc tội cần hiểu quy định pháp luật về người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo: Về người bị bắt. Điều 55, khoản 2 Điều 109 BLTTHS năm 2015 chưa định nghĩa người bị bắt mà chỉ quy định là người tham gia tố tụng, liệt kê các trường hợp bắt người gồm bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, bắt bị can, bị cáo để tạm giam, bắt người bị yêu cầu dẫn. Về người bị tạm giữ. Người bị tạm giữ là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ.
Họ là người chưa bị khởi tố về hình sự, trừ người bị bắt theo quyết định truy nã đã bị khởi tố về hình sự được quy định tại Điều 59 BLTTHS năm 2015. Về bị can. Bị can là người hoặc pháp nhân đã bị khởi tố về hình sự. Quyền và nghĩa vụ của bị can là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định (Điều 60 BLTTHS năm 2015).
Như vậy, BLTTHS có điểm mới khi việc ghi nhận pháp nhân có thể là bị can nếu có đủ căn cứ xác định pháp nhân đã thực hiện hành vi mà BLHS quy định là tội phạm. Theo Điều 61 BLTTHS năm 2015, bị cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Quyền và nghĩa vụ của bị cáo là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng dựa vào các tình tiết thực tế, các căn cứ pháp lý (BLHS, BLTTHS) để xác định chủ thể đã thực hiện hành vi có 9 dấu hiệu tội phạm hoặc đã thực hiện hành vi phạm tội được BLHS quy định.
Từ đó, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng ban hành các quyết định tố tụng như: Lệnh bắt, quyết định tạm giữ, quyết định khởi tố bị can, quyết định truy tố, quyết định đưa vụ án ra xét xử… để xác định địa vị pháp lý và quyền, nghĩa vụ của người bị buộc tội. Ví dụ, bị cáo là người hoặc pháp nhân thương mại đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Tư cách pháp lý và quyền, nghĩa vụ của bị cáo phát sinh từ khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử (Điều 61, 277 BLTTHS năm 2015). Theo BLTTHS năm 2015, người bị buộc tội có thể bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn hoặc bị khởi tố, điều tra, truy tố, đưa ra xét xử nhưng họ chưa thể bị coi là có tội.
Như vậy, người bị buộc tội chưa bị coi là người phạm tội mà là người bị nghi thực hiện tội phạm, có thể bị áp dụng các biện pháp luật định khi cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng xác định sự thật khách quan của vụ án, xử lý chính xác tội phạm, người phạm tội. Việc chứng minh tội phạm phải tuân theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định để rút ra kết luận, quyết định buộc tội, kết tội hoặc không buộc tội, kết tội. Hoạt động chứng minh tội phạm cần bảo đảm được các quyền tố tụng của người bị buộc tội và những người tham gia tố tụng khác. Từ những nội dung đã phân tích, có thể đưa ra khái niệm người bị buộc tội như sau: Người bị buộc tội là người hoặc pháp nhân thương mại (thông qua đại diện theo pháp luật) đã bị cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nghi thực hiện tội phạm, xác lập tư cách pháp lý của họ là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và tiến hành các hoạt động luật định để xem xét buộc tội họ.
Khái niệm nhận mình có tội của người bị buộc tội Từ điển Tiếng Việt định nghĩa nhận là “2. Chịu là có, là đúng; thừa nhận. Nhận lỗi…” [30, tr. BLTTHS năm 2015 đề cập về hành vi nhận mình có tội của người bị buộc tội thông qua các quy định: Một là, hành vi tự thú, đầu thú (điểm h, i Điều 4 BLTTHS năm 2015).
Theo đó, tự thú là việc người bị buộc tội tự nguyện khai báo với cơ quan, tổ chức về hành vi phạm tội của mình trước khi người bị buộc tội, hành vi phạm tội của họ bị phát 10 hiện. Đầu thú là trường hợp người bị buộc tội sau khi bị phát hiện đã tự nguyện ra trình diện và khai báo với cơ quan có thẩm quyền về hành vi phạm tội của mình. Hai là, lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, lời khai của bị can, bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố (Điều 95, 98, 309 BLTTHS năm 2015). Khi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiến hành lấy lời khai, người bị bắt, bị tạm giữ trình bày những tình tiết liên quan đến việc họ bị nghi thực hiện tội phạm.
Trong quá trình hỏi cung, bị can trình bày rõ ràng, đầy đủ về những tình tiết của vụ án mà người đó đang bị tình nghi thực hiện tội phạm. Lời nhận tội chỉ có thể được coi là chứng cứ nếu phù hợp với những chứng cứ khách của vụ án, không được dùng lời nhận tội của bị can làm chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội. Ba là, khi hỏi bị cáo, bị cáo nói lời sau cùng (Điều 309, 324 BLTTHS năm 2015) tại phiên tòa sơ thẩm. Bị cáo trả lời những câu hỏi làm rõ tình tiết, chứng cứ, tài liệu, vật chứng trong vụ án của Hội đồng xét xử, Viện kểm sát, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự.
Bị cáo trình bày ý kiến về bảo cáo trạng và những tình tiết của vụ án. Kết thúc tranh luận, bị cáo được nói lời sau cùng. Theo đó, bị cáo “tự nhận mình có tội” là đồng ý về tội danh và những nội dung liên quan đến việc xác định người đó có tội trong bản cáo trạng, bản luận tội của Viện kiểm sát. Như vậy, BLTTHS năm 2015 quy định việc “nhận mình có tội” của người bị buộc tội thể hiện ra ngoài bằng hình thức nói, viết (biên bản) và được thực hiện theo trình tự, thủ tục BLTTHS.
Theo quan điểm của học viên, nhận mình có tội của người bị buộc tội là sự thừa nhận của người bị buộc tội về việc đã thực hiện tội phạm hoặc hành vi có dấu hiệu tội phạm mà BLHS quy định là tội phạm được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng xác minh, thu thập theo trình tự, thủ tục của BLTTHS trong quá trình giải quyết VAHS. Khái niệm lời khai chống lại chính mình của người bị buộc tội Từ điển Tiếng Việt định nghĩa chống là “3. Hoạt động ngược lại, gây trở lực cho hành động của ai hoặc cho tác động của cái gì” [30, tr. 11 Trong quá trình giải quyết VAHS, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng các biện pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội.
Theo điểm b khoản 1 Điều 87 BLTTHS năm 2015, lời khai, lời trình bày là một trong những nguồn chứng cứ để làm rõ tội phạm, người phạm tội.