Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống tư pháp hình sự, quyền con người và quyền công dân là những giá trị cốt lõi được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận và bảo vệ tại Điều 14, trong đó quy định rõ các quyền này chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp thật sự cần thiết. Tố tụng hình sự là lĩnh vực có nguy cơ tác động trực tiếp và sâu sắc nhất đến quyền tự do thân thể của cá nhân. Trong các biện pháp ngăn chặn (BPNC) được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015, tạm giam là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất, bởi nó cách ly người bị áp dụng ra khỏi đời sống xã hội trong một khoảng thời gian nhất định. Việc áp dụng đúng đắn biện pháp tạm giam vừa bảo đảm hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm, ngăn ngừa đối tượng bỏ trốn hoặc cản trở hoạt động tố tụng, vừa tránh việc lạm quyền, xâm phạm quyền con người hoặc gây oan sai.

Trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội – khu vực cửa ngõ phía Nam Thủ đô với nhiều tuyến giao thông huyết mạch như Quốc lộ 1A và đường 70 – tình hình tội phạm về ma túy, trộm cắp, lừa đảo chiếm đoạt tài sản diễn biến phức tạp. Nhằm tạo thuận lợi cho công tác giải quyết vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng tại địa phương đã áp dụng biện pháp tạm giam với tỷ lệ khá cao. Tuy nhiên, quá trình thực thi thực tế vẫn còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế bắt nguồn từ các vướng mắc trong quy định pháp luật và công tác nghiệp vụ.

Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu toàn diện, sâu sắc và có hệ thống các vấn đề lý luận về biện pháp tạm giam trong tố tụng hình sự; phân tích thực tiễn áp dụng biện pháp tạm giam tại địa phương; từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp này trên địa bàn huyện Thanh Trì.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và các quy định của pháp luật về áp dụng biện pháp tạm giam trong tố tụng hình sự.
  2. Phân tích thực tiễn thi hành biện pháp tạm giam trên địa bàn huyện Thanh Trì thông qua việc đánh giá những kết quả đạt được, tồn tại và vướng mắc.
  3. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành biện pháp tạm giam trong tố tụng hình sự.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật về áp dụng biện pháp tạm giam trong tố tụng hình sự và thực tiễn thi hành biện pháp này tại Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Thanh Trì.
  • Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào các quy định của BLTTHS năm 2015 điều chỉnh biện pháp tạm giam; phạm vi không gian và thời gian khảo sát thực tiễn dựa trên dữ liệu công tác kiểm sát việc tạm giam của VKSND huyện Thanh Trì từ năm 2019 đến hết 06 tháng đầu năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng nhà nước pháp quyền, bảo vệ quyền con người và chiến lược cải cách tư pháp (tiêu biểu như Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 27/NQ-CP ngày 28/02/2023 của Chính phủ).

Khung pháp lý tham chiếu:

  • Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (đặc biệt là Điều 14).
  • Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (các điều khoản thuộc Chương VII về biện pháp ngăn chặn, cùng các Điều 60, 61, 109, 113, 119, 120, 125, 134, 173, 174, 240, 241, 277, 278, 328, 329, 346, 347, 391, 419, 456, 459, 462).
  • Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015; Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 (Điều 35); Luật Cư trú năm 2020.
  • Các văn bản hướng dẫn áp dụng: Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP; Thông tư liên tịch số 01/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC; Thông tư số 119/2021/TT-BCA; Quyết định số 15/QĐ-VKSTC ngày 09/01/2018; Nghị quyết số 05/2017/NQ-HĐTP; Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 (Điều 37).

Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan: Tác giả đã tổng thuật các nguồn tài liệu học thuật tiêu biểu gồm: Giáo trình Luật Tố tụng hình sự của Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội; sách chuyên khảo của Nguyễn Mai Bộ (2004), Trần Văn Biên và Đinh Thế Hưng (2017); các luận án, luận văn của Nguyễn Văn Điệp (2005), Hoàng Nguyễn Bảo Anh (2018), Đào Nguyễn Hồng Minh (2018), Nguyễn Ngọc Anh (2020), Lò Văn Nhung (2021); cùng các bài viết chuyên san của Hoàng Thị Minh Sơn (2010), Phan Thị Thanh Mai (2019), Ngô Thị Thùy Trang (2021), Nguyễn Hòa Bình (2022).

Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên ngành:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết để làm rõ bản chất pháp lý, ý nghĩa và trình tự áp dụng biện pháp tạm giam.
  • Phương pháp so sánh luật học nhằm đối chiếu các quy định giữa BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2015.
  • Phương pháp thống kê số liệu và phân tích thực tiễn dựa trên nguồn dữ liệu trích xuất từ các Báo cáo tình hình tội phạm và kết quả công tác kiểm sát của VKSND huyện Thanh Trì giai đoạn 2019 – 06 tháng đầu năm 2023, kết hợp phân tích bản án hình sự sơ thẩm thực tế.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố tụng hình sự

Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận và hệ thống hóa toàn diện các quy định của BLTTHS năm 2015 về chế định tạm giam:

  1. Khái niệm và ý nghĩa của biện pháp tạm giam:

    • Khái niệm: Trên cơ sở đối chiếu quan điểm của Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, tác giả định nghĩa: Tạm giam là BPNC trong tố tụng hình sự, do người có thẩm quyền của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo trong thời hạn nhất định, hạn chế một số quyền công dân của họ khi có căn cứ luật định, nhằm ngăn chặn hành vi gây cản trở điều tra, truy tố, xét xử, tiếp tục phạm tội hoặc bảo đảm thi hành án.
    • Ý nghĩa pháp lý: Thiết lập hành lang pháp lý chuẩn mực, ngăn ngừa sự lạm quyền của cơ quan công quyền; là cơ sở xác định trách nhiệm bồi thường oan sai theo Điều 35 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017; tạo căn cứ để người bị tạm giam thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo.
    • Ý nghĩa chính trị - xã hội: Bảo đảm trật tự an toàn xã hội, giữ vững pháp chế xã hội chủ nghĩa, phục vụ hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, ngăn chặn việc tiêu hủy chứng cứ hoặc tẩu tán tài sản.
  2. Các quy định cụ thể của BLTTHS năm 2015 về biện pháp tạm giam:

    • Đối tượng và căn cứ áp dụng (Điều 119): Áp dụng đối với bị can, bị cáo là cá nhân. Hai căn cứ chủ yếu gồm: có căn cứ chứng tỏ đối tượng sẽ gây khó khăn cho hoạt động tố tụng (bỏ trốn, tiêu hủy chứng cứ, đe dọa người làm chứng...) và có căn cứ chứng tỏ đối tượng sẽ tiếp tục phạm tội.
    • Các trường hợp áp dụng: Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, rất nghiêm trọng; tội phạm nghiêm trọng hoặc ít nghiêm trọng có mức phạt tù trên 02 năm nếu thỏa mãn một trong các điều kiện tại khoản 2 Điều 119 (vi phạm BPNC khác, không rõ nơi cư trú/lý lịch, có dấu hiệu bỏ trốn, tiếp tục phạm tội, mua chuộc/tiêu hủy chứng cứ); tội phạm ít nghiêm trọng có hình phạt tù đến 02 năm nếu tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.
    • Chính sách nhân đạo (Khoản 4 Điều 119 & Điều 419): Không tạm giam đối với phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người già yếu, bệnh nặng nếu có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng (trừ trường hợp xâm phạm an ninh quốc gia hoặc có hành vi trốn tránh/tiếp tục phạm tội nguy hiểm). Đối với người dưới 18 tuổi, việc tạm giam chỉ là biện pháp cuối cùng với thời hạn bằng 2/3 so với người đã thành niên.
    • Thẩm quyền và thủ tục: Quy định tại Điều 113 và khoản 5 Điều 119; việc tạm giam của Cơ quan điều tra phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 03 ngày; việc thông báo cho gia đình, chính quyền địa phương (Điều 119, Điều 120); trách nhiệm thông báo sắp hết hạn tạm giam của cơ sở giam giữ trước 05 ngày (hoặc 10 ngày trước khi hết hạn gia hạn).
    • Thời hạn tạm giam qua các giai đoạn:
      • Giai đoạn điều tra (Điều 173): Tối đa 02 tháng (ít nghiêm trọng), 03 tháng (nghiêm trọng), 04 tháng (rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng), kèm quy định chặt chẽ về số lần và thẩm quyền gia hạn (giảm số lần gia hạn so với BLTTHS 2003).
      • Giai đoạn phục hồi điều tra, điều tra bổ sung (Điều 174: không quá 02 tháng nếu VKS trả hồ sơ, không quá 01 tháng nếu Tòa án trả hồ sơ), điều tra lại.
      • Giai đoạn truy tố (Điều 241: không quá 20 ngày với tội ít nghiêm trọng/nghiêm trọng; 30 ngày với tội rất nghiêm trọng/đặc biệt nghiêm trọng).
      • Giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm (Điều 278: từ 30 ngày đến 03 tháng tùy loại tội, gia hạn 15-30 ngày), xét xử phúc thẩm (Điều 347: 60 ngày hoặc 90 ngày) và đảm bảo thi hành án (45 ngày kể từ ngày tuyên án).
      • Thủ tục rút gọn (Điều 456, 459, 462: điều tra không quá 20 ngày, truy tố không quá 05 ngày, chuẩn bị xét xử không quá 10 ngày).
      • Quy tắc tính thời hạn (Điều 134: 01 tháng tính là 30 ngày, kết thúc vào 24 giờ ngày cuối cùng).
    • Hủy bỏ, thay thế biện pháp tạm giam (Điều 125): Áp dụng khi đình chỉ điều tra/vụ án hoặc khi việc tạm giam không còn cần thiết, thay thế bằng bảo lĩnh, đặt tiền bảo đảm hoặc cấm đi khỏi nơi cư trú.

Chương 2: Thực tiễn thi hành biện pháp ngăn chặn tạm giam tại địa bàn huyện Thanh Trì và một số kiến nghị

Chương 2 phản ánh thực trạng áp dụng biện pháp tạm giam tại huyện Thanh Trì thông qua các dữ liệu thống kê từ năm 2019 đến tháng 6 năm 2023:

1. Kết quả đạt được trong thực tiễn:

  • Nâng cao chất lượng đấu tranh phòng chống tội phạm: Tỷ lệ tạm giam bình quân đạt 49,4% trên tổng số bị can thụ lý, bảo đảm ngăn chặn kịp thời các đối tượng phạm tội nguy hiểm và phục vụ điều tra.

Bảng 1: Tình hình bị can bị tạm giam tại huyện Thanh Trì từ năm 2019 đến 06 tháng đầu năm 2023

Năm Tổng số bị can đã thụ lý (1) Tổng số bị can bị tạm giam (2) Tỷ lệ % (2)/(1)
2019 419 168 40,1%
2020 498 215 43,2%
2021 504 300 59,52%
2022 546 265 48,53%
06 tháng đầu năm 2023 325 183 56,3%
Tổng cộng 2.292 1.131 49,4%
  • Chất lượng phê chuẩn lệnh tạm giam của Viện kiểm sát: 100% lệnh tạm giam do Cơ quan Cảnh sát điều tra đề nghị đều được VKSND huyện Thanh Trì phê chuẩn (tổng số 1.049 bị can), không có trường hợp nào bị từ chối phê chuẩn do không đủ căn cứ.

Bảng 2: Tình hình phê chuẩn lệnh tạm giam của VKSND huyện Thanh Trì (2019 – 06 tháng đầu năm 2023)

Năm Số bị can CQĐT đề nghị phê chuẩn Số bị can VKS phê chuẩn lệnh tạm giam Số bị can VKS không phê chuẩn
2019 168 168 0
2020 215 193 0
2021 300 265 0
2022 265 251 0
06 tháng đầu năm 2023 183 172 0
Tổng cộng 1.049 1.049 0
  • Kịp thời hủy bỏ, thay thế biện pháp tạm giam: Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện chuyển đổi BPNC cho 48 bị can khi xét thấy không còn cần thiết tạm giam, và Hội đồng xét xử đã trả tự do cho 01 bị cáo ngay tại phiên tòa.

Bảng 3: Tình hình hủy bỏ, thay thế biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo tại huyện Thanh Trì

Năm Số người bị tạm giam Hủy bỏ, thay thế biện pháp tạm giam Hội đồng xét xử trả tự do
2019 168 0 0
2020 215 13 0
2021 300 15 0
2022 265 9 1
06 tháng đầu năm 2023 183 11 0
Tổng cộng 1.131 48 1
  • Bảo đảm thời hạn tố tụng: Trong toàn bộ giai đoạn 2019 – 6T/2023, không phát sinh bất kỳ trường hợp nào bị giam giữ quá hạn, tạm giam trái pháp luật hoặc để xảy ra oan sai phải bồi thường.

Bảng 4: Tình hình bị can không bị áp dụng biện pháp tạm giam tại huyện Thanh Trì

Năm Tổng số bị can đã thụ lý (1) Tổng số người không bị tạm giam (2) Tỷ lệ % (2)/(1)
2019 419 251 59,9%
2020 498 283 56,8%
2021 504 204 40,47%
2022 546 281 51,47%
06 tháng đầu năm 2023 325 142 43,7%
Tổng cộng 2.161 1.094 50,6%

2. Hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân:

  • Hiện tượng lạm dụng biện pháp tạm giam: Tỷ lệ tạm giam còn chiếm mức cao (49,4%). Điển hình là vụ án Gây rối trật tự công cộng ngày 09/03/2021 tại xã Tân Triều (Bản án số 252/2021/HSST): Ba bị can Cao Duy L, Cao Biên C và Nguyễn Gia T cùng bị khởi tố theo điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS. Bị can Cao Biên C và Nguyễn Gia T được thay đổi biện pháp sang cấm đi khỏi nơi cư trú, trong khi bị can Cao Duy L có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, nơi cư trú rõ ràng nhưng vẫn bị tạm giam trong suốt quá trình tố tụng.
  • Án bị trả hồ sơ điều tra bổ sung: Một số vụ án công tác thu thập chứng cứ ban đầu chưa chặt chẽ, dẫn đến việc phải trả hồ sơ giữa các cơ quan tố tụng, làm kéo dài thời hạn tạm giam.
  • Bất cập trong quy định của BLTTHS năm 2015:
    • Khoản 1 Điều 109 quy định căn cứ áp dụng BPNC chung chỉ nhắc đến đối tượng "người bị buộc tội", chưa bao quát đối tượng "người bị kết án" để đảm bảo thi hành án, dẫn đến sự thiếu đồng bộ với các Điều 329, Điều 347 (khoản 3) và Điều 391.
    • Căn cứ "không có nơi cư trú rõ ràng" tại điểm b khoản 2 Điều 119 chưa có hướng dẫn thống nhất trong mối liên hệ với các quy định mới của Luật Cư trú năm 2020 (về nơi thường trú, tạm trú và nơi ở hiện tại).

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính dựa trên dữ liệu thực chứng

  1. Hệ thống hóa toàn bộ các mốc thời hạn, thẩm quyền và trình tự áp dụng biện pháp tạm giam qua tất cả các giai đoạn tố tụng hình sự theo BLTTHS năm 2015.
  2. Cung cấp bức tranh toàn cảnh về hoạt động tạm giam tại huyện Thanh Trì từ năm 2019 đến tháng 6 năm 2023 với 1.131 bị can bị tạm giam trên tổng số 2.292 bị can thụ lý (chiếm 49,4%); tỷ lệ phê chuẩn lệnh tạm giam của VKSND đạt 100% (1.049 bị can); 48 trường hợp được thay thế/hủy bỏ tạm giam; 100% không xảy ra quá hạn.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Hoàn thiện quy định pháp luật: Sửa đổi, bổ sung Khoản 1 Điều 109 BLTTHS năm 2015 theo hướng bổ sung chủ thể "người bị kết án" vào căn cứ áp dụng BPNC nhằm đảm bảo thi hành án; ban hành văn bản liên ngành hướng dẫn chi tiết tiêu chí xác định "không có nơi cư trú rõ ràng" phù hợp với Luật Cư trú năm 2020.
  • Nâng cao hiệu quả thực thi: Nâng cao tinh thần trách nhiệm và trình độ nghiệp vụ của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán; tăng cường kiểm sát chặt chẽ tính cần thiết của từng lệnh tạm giam nhằm hạn chế tối đa việc lạm dụng biện pháp cưỡng chế; đẩy mạnh phối hợp liên ngành giải quyết các vụ án trọng điểm.

Đóng góp về mặt học thuật và thực tiễn

Khóa luận đã giải quyết bài toán đánh giá thực thi pháp luật tố tụng hình sự tại một địa bàn đặc thù cấp huyện (Thanh Trì, Hà Nội), lấp đầy khoảng trống nghiên cứu thực chứng tại địa phương này giai đoạn sau khi BLTTHS năm 2015 đi vào ổn định (2019 – 2023).


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực tiễn của đề tài chủ yếu tập trung vào hoạt động kiểm sát của VKSND huyện Thanh Trì trong giai đoạn từ năm 2019 đến hết 06 tháng đầu năm 2023, chưa mở rộng nghiên cứu sâu các số liệu độc lập từ hệ thống Tòa án nhân dân cấp huyện và công tác quản lý tại các cơ sở giam giữ trực tiếp.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh thực tiễn áp dụng biện pháp tạm giam giữa các địa bàn quận nội thành và huyện ngoại thành của thành phố Hà Nội; đánh giá tác động toàn diện của các văn bản lập pháp mới đối với việc bảo đảm quyền của người bị tạm giam trong giai đoạn xét xử và thi hành án.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Tố tụng hình sự; các cán bộ thực tiễn tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân cấp quận, huyện.
  • Nội dung giá trị: Bảng tổng hợp chi tiết về thời hạn tạm giam qua các giai đoạn tố tụng; hệ thống bảng biểu thống kê thực tế công tác tạm giam giai đoạn 2019 – 2023; phân tích xung đột pháp lý giữa Điều 109 BLTTHS năm 2015 và Luật Cư trú năm 2020 thông qua vụ án thực tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ bị can bị áp dụng biện pháp tạm giam tại huyện Thanh Trì giai đoạn 2019 – 6T/2023 là bao nhiêu và năm nào có tỷ lệ cao nhất? Theo số liệu thống kê tại Bảng 2.1 của khóa luận, tỷ lệ bị can bị tạm giam bình quân trong giai đoạn 2019 đến 06 tháng đầu năm 2023 là 49,4% (1.131 bị can bị tạm giam trên 2.292 bị can thụ lý). Năm có tỷ lệ tạm giam cao nhất là năm 2021 với 59,52% (300/504 bị can).

2. VKSND huyện Thanh Trì đã xử lý bao nhiêu đề nghị phê chuẩn lệnh tạm giam từ Cơ quan Cảnh sát điều tra trong giai đoạn nghiên cứu? Theo Bảng 2.2, VKSND huyện Thanh Trì đã tiếp nhận và phê chuẩn 100% lệnh tạm giam do Cơ quan Cảnh sát điều tra đề nghị đối với 1.049 bị can (năm 2019: 168; 2020: 193; 2021: 265; 2022: 251; 06 tháng đầu năm 2023: 172 bị can), không có trường hợp nào không phê chuẩn.

3. Quy định của BLTTHS năm 2015 về thời hạn tạm giam đối với người dưới 18 tuổi có điểm gì khác biệt so với người đã thành niên? Căn cứ khoản 1 Điều 419 BLTTHS năm 2015, thời hạn tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi chỉ bằng hai phần ba (2/3) thời hạn tạm giam đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên.

4. Điểm bất cập giữa Điều 109 BLTTHS năm 2015 với các quy định về tạm giam để thi hành án là gì? Khoản 1 Điều 109 quy định căn cứ áp dụng BPNC chỉ nêu đối tượng là "người bị buộc tội". Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 329, khoản 3 Điều 347 và Điều 391, việc tạm giam để đảm bảo thi hành án sau khi tuyên án hoặc ở giai đoạn xét lại bản án có hiệu lực pháp luật áp dụng đối với "người bị kết án" chứ không còn mang tư cách bị can, bị cáo.


Kết luận

Khóa luận của tác giả La Như Quỳnh đã hệ thống hóa sâu sắc các vấn đề lý luận và quy định của BLTTHS năm 2015 về biện pháp ngăn chặn tạm giam, đồng thời phản ánh khách quan thực trạng áp dụng tại huyện Thanh Trì giai đoạn 2019 – 06 tháng đầu năm 2023. Công trình làm nổi bật các kết quả tích cực về kiểm soát thời hạn giam giữ và chất lượng phê chuẩn tố tụng, đồng thời thẳng thắn chỉ ra tỷ lệ áp dụng tạm giam còn cao cùng những bất cập pháp lý tại Điều 109 và Điều 119 BLTTHS. Các kiến nghị sửa đổi luật và giải pháp nâng cao nghiệp vụ tư pháp do đề tài đề xuất mang giá trị khoa học thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả phòng chống tội phạm gắn liền với bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự.