CHƯƠNG 1: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CUA BO LUAT TO TUNG HINH SU VE BIEN PHAP NGAN CHAN TAM GIAM TRONG TO TUNG HÌNH SỰ 1. Một số van đề lý luận về biện pháp ngăn chặn tạm giam 1. Khai niệm biện pháp ngăn chặn tạm giam Khi nói đến nhà nước pháp quyền, phải thấy ban đầu đây là quan niệm, tư tưởng về dân chủ và về phương thức tổ chức quyền lực, trong đó vai trò của pháp luật luôn được đề cao và phải được bảo đảm tôn trọng. Pháp luật giữ vị trí tôi thượng trong đời sống nhà nước và đời sống xã hội.
Sự thống trị của Hiến pháp và pháp luật chính là cơ sở hình thành nên nhà nước pháp quyền. Chính vì thế, tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật là một nhu cầu tự thân và là đòi hỏi căn bản cho sự tôn tại, phát triển của nhà nước đó. Việc tạo được ý thức coi trọng pháp luật trong quản lý xã hội, quản lý nhà nước là một điều vô cùng quan trọng. Do đó, khi mà các biện pháp thuyết phục được áp dụng không đem lại hiệu quả, các cơ quan pháp luật phải sử dụng đến các biện pháp có tính quyền lực cưỡng chế như là một công cụ sắc bén và hữu hiệu để buộc các chủ thể phải thể hiện sự tôn trọng pháp luật băng việc thực hiện những hành vi cụ thé, phù hợp với mục tiêu va lợi ích cua nhà nước được thể hiện trong các quy phạm pháp luật mà không còn sự lựa chọn nào khác".
Theo từ điển Luật học thì biện pháp cưỡng chế có nghĩa là “biện pháp bắt buộc cá nhân hay tổ chức phải thực hiện một nghĩa vụ, trách nhiệm theo A. ~ z +A 2 A z A R z z A À_ 932 quyết định đã có hiệu lực cua một ca nhân, tô chức có thâm quyên. Đây là biện pháp mang tính quyền lực nhà nước do cơ quan, người có thâm quyền áp dụng theo những thủ tục, trình tự và điều kiện nhất định. Căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm pháp luật mà cưỡng chế có nhiều hình thức khác nhau như ' Đào Nguyễn Hồng Minh (2018), Biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với bị can trong tô tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, trổ.
? Viện Khoa học pháp lý (2006), Tir điển Luật học, Nxb. Từ điển Bách khoa và Nxb. Tư pháp, Hà Nội. cưỡng chế dân sự, cưỡng chế hành chính, cưỡng chế tố tụng dân sự.
Biện pháp cưỡng chế trong TTHS được quy định trong BLTTHS, chỉ áp dụng đối với những chủ thé tham gia TTHS trên cơ sở những căn cứ nhất định, theo trình tự thủ tục do pháp luật TTHS quy định. Xuất phát từ bản chất tội phạm là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội cũng như nhiệm vụ phát hiện, xác định tội phạm, ngăn chặn tiếp tục phạm tội và xử lý thích đáng đối với người phạm tội, có thể thấy, việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong lĩnh vực TTHS là nhu cầu thực sự cần thiết, khách quan, đảm bảo cho các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. So với các lĩnh vực hoạt động nhà nước khác thì TTHS là lĩnh vực mà trong đó việc áp dụng biện pháp cưỡng chế có nguy cơ xâm phạm nhiều nhất đến quyên nhân thân, quyên tự do của cá nhân. Nếu việc áp dụng vượt quá giới hạn, trái pháp luật sẽ dễ dẫn đến tình trạng lạm quyền, vi phạm nghiêm trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Vì vậy, cần phải hạn chế việc áp dụng biện pháp cưỡng chế trong thực tiễn TTHS cũng như cần quy định chặt chẽ, chính xác, cụ thể chế định các biện pháp cưỡng chế TTHS. Điều này thể hiện sự tôn trọng của Nhà nước đối với các quyền tự do cá nhân, đồng thời là cơ sở pháp lý bảo đảm sự giám sát của nhân dân, xã hội đối với toàn bộ hoạt động TTHS nói chung va áp dụng các biện pháp cưỡng chế TTHS nói riêng. Trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế TTHS, các BPNC chiếm vị trí trung tâm và có vai trò đặc biệt quan trọng. BPNC là biện pháp cưỡng chế trong TTHS được áp dung đối với bị can, bị cáo, người bị truy nã hoặc đối với người chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang) nhằm ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trỗn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự”.
Các biện pháp ngăn chặn có sức ảnh hưởng vô cùng lớn đên thân thê, quyên con người, hạn chê một sô quyên > Đại học Luật Hà Nội (2022), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr227. nhân thân của công dân. Vì lẽ đó, BLTTHS đã có một chương riêng để quy định các điều luật về những biện pháp ngăn chặn đó là Chương VII với tiêu đề chương là “Biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế”. Dé tạo điều kiện thuận lợi cho việc đấu tranh phòng, chống tội phạm, pháp luật TTHS Việt Nam quy định nhiều biện pháp cưỡng chế khác nhau.
Những biện pháp cưỡng chế trong TTHS có nội dung tương đối rộng và cụ thể, được chia thành ba nhóm: - Nhóm 1: Gồm những biện pháp nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa người có hành vi phạm tội bỏ trốn hoặc có hành vi gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án như giữ người trong trường hợp khan cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền dé bảo dam, cam đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh. - Nhóm 2: Gồm những biện pháp bảo đảm cho việc thu thập chứng cứ như khám xét, khám nghiệm hiện trường, xem xét dấu vết trên thân thê. - Nhóm 3: Gồm những biện pháp bảo đảm thuận lợi cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án như kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân có liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân, buộc pháp nhân nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án, áp giải bị can, bị cáo, người bị kết án, dẫn giải người làm chứng, những biện pháp xử li do thẩm phán chủ tọa phiên tòa áp dụng đối với người có hành vi vi phạm nội quy phiên tòa. Tạm giam có thể coi là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất trong số các biện pháp ngăn chặn và được quy định cụ thé tại Điều 119 BLTTHS năm 2015.
Đây là biện pháp hạn chế tự do có thời hạn do cơ quan THTT áp dụng đối với bị can, bị cáo trong những trường hợp được luật định. Tính nghiêm khắc còn được thé hiện ở chỗ ngoài việc bị tước bỏ quyền tự do thân thé, người bị tạm giam còn bị hạn chế một số quyền như quyền tự do đi lại và cư trú, quyên tự do ngôn luận, hội họp, biểu tình, quyền tự do tín ngưỡng. ˆ So * Lò Văn Nhung (2021), Biện pháp tạm giam và thực tiên thi hành tại tỉnh Điện Biên, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội, tr7-8. với các BPNC khác như cẩm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền để bao đảm.
thì các biện pháp này chi ảnh hưởng đến quyền tự do đi lại trong phạm vi nhất định hoặc quyền, lợi ích về tài sản mà không ảnh hưởng đến các quyền tự do khác của công dân như quyền bat khả xâm phạm về thân thé. Các biện pháp bắt người, tạm giữ cũng là BPNC nghiêm khắc nhưng thời hạn hạn chế quyền tự do trong bắt, tạm giữ ngắn hơn nhiều so với tạm giam. Trong khoa học luật TTHS, nghiên cứu về biện pháp tạm giam cũng có nhiều khái nhiệm chưa thống nhất: Theo Giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội: Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do CQDT, VKS, Toa án áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng hay bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng theo quy định của pháp luật”. Theo Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội thì: Tạm giam là BPNC do người có thâm quyền THTT áp dụng hạn chế tự do thân thé trong một thời gian nhất định đối với bị can, bị cáo khi có căn cứ do Bộ luật TTHS quy định nhằm ngăn chặn việc bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc dé đảm bảo thi hành án”.
Quan điểm của Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội đã chỉ ra đối tượng áp dụng là bị can, bị cáo; căn cứ dé ap dụng biện pháp tam giam. Tuy nhiên, quan điểm này chỉ đưa ra một dang chủ thé có thầm quyền áp dụng là người có thấm quyền tố tụng, chưa đưa ra chủ thé khác là cơ quan có thâm quyên áp dụng. Bên cạnh đó, quan điểm này cũng chưa chỉ rõ thế nào là người có thâm quyền tô tụng để quyết định áp dụng biện pháp tạm giam. Quan điểm của Trường Đại học Luật Hà Nội đã khắc phục được những điều đó.
Quan điểm này đã quy định rõ trường hợp bị can, bị cáo nào bị áp dụng biện pháp tạm > Đại học Luật Hà Nội (2022), Sđd, tr253. 6 Trường Đại học Kiém sát Hà Nội (2016), Gido trình Luật 1ô tụng hình sự, Nxb Đại hoc Quoc gia Hà Nội, tr. 10 giam, bổ sung chủ thé có thấm quyền là cơ quan THTT gồm CQDT, VKS, Tòa án do BLTTHS quy định. Từ ý kiến phân tích hai quan điểm trên, tác giả đưa ra khái niệm về biện pháp tạm giam như sau: “Biện pháp tạm giam là BPNC trong TTHS, do người có thẩm quyên của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo trong thời gian nhất định, hạn chế một số quyên công dân của họ khi có căn cứ do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định, nhằm ngăn chặn việc bị can, bị cáo sẽ gây cản trở cho việc điêu tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc dé dam bảo thi hành an”.