Chương 1 LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN VÔ TỘI TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội ở cấp xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Hiện nay trong khoa học pháp lý Việt Nam chưa có một khái niệm chung nhất về bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội ở cấp xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Các khái niệm khóa học pháp lý hiện nay mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu về nguyên tắc suy đoán vô tội, nội dung, ý nghĩa của nguyên tắc suy đoán vô tội. Do đó, việc tìm hiểu và xây dựng khái niệm trên là rất cần thiết.
Một mặt giúp các cơ quan tiến hành tố tụng hiểu thế nào là bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội, bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ đó có câu trả lời tại sao phải bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội và sự cần thiết phải bảo đảm quyền của người bị buộc tội. Mặt khác, bổ sung thêm quan điểm khoa học về bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội trong xét xử sơ thẩm. Trong nội hàm khái niệm bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội có một số nội dung chúng ta cần phải làm rõ: Xét xử sơ thẩm là gì? Thế nào là hoạt động bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội? nguyên tắc SĐVT. Sau lần lượt làm rõ các vấn đề trên chúng ra sẽ có một khái niệm chung về bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Trước hết ta có thể thấy, xét xử sơ thẩm được coi là cấp xét xử thứ nhất được tiến hành theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định, trong đó Tòa án cấp sơ thẩm có thẩm quyền sau khi nghiên cứu toàn diện, khách quan và đầy đủ vụ án, lần đầu tiên đưa vụ án hình sự ra xét xử công khai nhằm xác định có hay không có hành vi phạm tội xảy ra, một người có phải là người đã thực hiện hành vi phạm tội xảy ra hay không, để từ đó ra bản án, quyết định phù hợp với tính chất mà Cáo trạng của Viện kiểm sát (VKS) đã truy tố. Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, hoạt động xét xử của Tòa án được coi là khâu trung tâm, bởi nó “thể hiện đầy đủ nhất bản chất của hệ thống tư pháp của Nhà nước, là giai đoạn quyết định tính đúng đắn, khách quan của việc giải quyết vụ án, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân".[5] 7 luan an Cấp xét xử sơ thẩm có những đặc trưng cơ bản sau đây: - Thời điểm bắt đầu được xác định từ khi hồ sơ vụ án cùng với bản Cáo trạng của VKS được chuyển sang Tòa án có thẩm quyền và đã được Tòa án vào sổ thụ lý vụ án; - Thời điểm kết thúc bằng việc Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án hình sự do Hội đồng xét xử tuyên tại phiên tòa hoặc quyết định đình chỉ vụ án; - Nhiệm vụ của Tòa án cấp sơ thẩm là xem xét và giải quyết nội dung vụ án theo quy định của pháp luật, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. - Ngoài Tòa án đóng vai trò chính trong hoạt động xét xử. Thì có cả Viện kiểm sát cũng tham gia với tư cách người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng khác là bị cáo, người bào chữa, người bị hại, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch….
Theo từ điển Tiếng Việt thì: “Bảo đảm” được hiểu là “Làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được, hoặc có đầy đủ những gì cần thiết”. "Suy đoán" bắt nguồn từ tiếng Latinh “praesumptino”, được hiểu là sự giả định một vấn đề nào đó là đúng cho đến khi chưa bị bác bỏ. Như vậy, có thể suy đoán một vấn đề nào đó là đúng hoặc suy đoán một vấn đề nào đó là sai. Từ "presume" trong tiếng Anh được dịch sang tiếng Việt mang hai nghĩa khác nhau: 1) Suy đoán (dự đoán) và 2) Giả định.
Vì vậy, trong khoa học Luật TTHS, nguyên tắc "presumption of innocence" có hai tên gọi khác nhau: Nguyên tắc "suy đoán vô tội" và nguyên tắc "giả định vô tội". Tuy nhiên, trong luận văn này chúng tôi không tranh luận về thuật ngữ mà xem xét nguyên tắc này với tên gọi "suy đoán vô tội" (theo cách gọi phổ biến từ trước tới nay ở Việt Nam) để làm rõ khái niệm "nguyên tắc suy đoán vô tội" [6] - Thuật ngữ “nguyên tắc” bắt nguồn từ tiếng Latinh là “pirincipium” có ba nghĩa: 1) Luận điểm cơ bản, luận điểm gốc của học thuyết; 2) Niềm tin, quan điểm đối với sự vật; 3) Nguyên lý cấu trúc và hoạt động của dụng cụ, thiết bị. Theo Từ điển tiếng Việt, “nguyên tắc” là “Điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm”.672] 8 luan an Theo Triết học Mác- Lênin thì “nguyên tắc” là“những tư tưởng xuất phát điểm, có tính chất chỉ đạo, có tính chất chủ đạo, định hướng là nguyên tắc cơ bản của hành động”.[13] Trong khoa học pháp lý, thuật ngữ “nguyên tắc của pháp luật” được định nghĩa như sau:“Nguyên tắc của pháp luật là những tư tưởng chỉ đạo, cơ bản mang tính chất xuất phát điểm, định hướng, chịu sự quy định của những quy luật phát triển khách quan của xã hội, xuyên suốt nội dung, hình thức pháp luật, toàn bộ thực tiễn pháp luật, hoạt động xây dựng, áp dụng pháp luật, hành vi pháp luật, ý thức luật”.344] Với tư cách là ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Luật tố tụng hình sự cũng có những nguyên tắc riêng mang đặc điểm đặc chung của nguyên tắc pháp luật vừa mang những đặc trưng riêng của luật tố tụng hình sự - một ngành luật hình thức. Đến nay khái niệm nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự là một vấn đề vẫn đang gây tranh cãi.TS Trần Đình Nhã thì việc sử dụng khái niệm: “nguyên tắc của Luật tố tụng hình sự” là sự nhầm lẫn khi coi TTHS và pháp luật TTHS là một.
Các nguyên tắc của TTHS là những chế định pháp lý, được thể hiện bởi những quy phạm pháp luật TTHS, thể hiện bản chất của TTHS và mang tính định hướng cho các hoạt động và hành vi TTHS.TS Phạm Hồng Hải thì nguyên tắc TTHS là những quan điểm, tư tưởng, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về quá trình giải quyết vụ án hình sự đã được thể chế hóa trong BLTTHS mà các chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng, các cơ quan nhà nước, tổ chức và mọi công dân phải tuân theo. Khi nguyên tắc được quy định trong BLTTHS thì đó là nguyên tắc của TTHS. Nếu tư tưởng, quan điểm nào đó là quan điểm, tư tưởng chủ đạo của Luật TTHS thì chúng cũng là nguyên tắc của Luật TTHS. Ví dụ: nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc nhân đạo là nguyên tắc của TTHS và là nguyên tắc của Luật TTHS.TSKH Lê Cảm thì nguyên tắc của luật TTHS là tư tưởng chủ đạo, định hướng cơ bản của hoạt động TTHS được thể hiện trong pháp luật TTHS, trong 9 luan an việc giải thích và thực tiễn áp dụng pháp luật TTHS thông qua quy phạm hay chế định của nó.[3] Theo tác giả Nguyễn Ngọc Chí thì "Luật tố tụng hình sự" là khái niệm để chỉ tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
"Luật tố tụng hình sự" là một phạm trù chủ quan, là nhận thức hiện tượng khách quan của nhà làm luật. Vì vậy, những phương châm, định hướng quan trọng chi phối toàn bộ hay một số giai đoạn của quá trình TTHS, quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật TTHS được gọi là các nguyên tắc cơ bản của Luật TTHS.[4] Từ việc nghiên cứu trên nhiều quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu khoa học ta có thể hiểu về định nghĩa nguyên tắc suy đoán vô tội như sau: Nguyên tắc suy đoán vô tội là một nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự Việt Nam, là tư tưởng chủ đạo, cơ bản mang tính xuất phát điểm, bảo đảm người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không bị coi là có tội khi lỗi của họ chưa được cơ quan tiến hành tố tụng chứng minh theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định và chưa có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Chủ thể của việc bảo đảm nguyên tắc SĐVT là các cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn xét xử sơ thẩm (Tòa án, Viện kiểm sát). Theo Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp; Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp [28].
Chỉ có Tòa án là cơ quan duy nhất mới có quyền xét xử các vụ án hình sự, trong quá trình thực hiện chức năng của mình Tòa án đóng vai trò phán quyết, việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ vào quá trình điều tra và diễn biến tại phiên tòa xét xử sơ thẩm. Trong khi Viện kiểm sát thực hiện chức năng công tố, ngoài giám sát việc xét xử thì Viện kiểm sát còn thực hiện hoạt động truy tố, buộc tội bị cáo trước Tòa. Xét về góc độ lý luận một chủ thể đang thực hiện chức năng buộc tội thì không thể đồng thời thực hiện việc SĐVT cho bị cáo trước Tòa được. Như vậy, Tòa án sẽ là chủ thể quan trọng nhất trong việc thực hiện hoạt động bảo đảm nguyên tắc SĐVT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
10 luan an Như vậy, ta có thể hiểu về khái niệm bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội trong xét xử sơ thẩm là: Việc Tòa án và những người có thẩm quyền ở cấp xét xử lần đầu vụ án hình sự có trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật và tạo các điều kiện cần thiết để bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không bị coi là có tội cho đến khi có Bản án kết tội của Tòa án. Nguyên tắc suy đoán vô tội cũng được thể hiện không chỉ trong Hiến pháp mà còn cả trong luật tố tụng hình sự. Hiến pháp 1992 quy định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt nếu chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của tòa án”.