phần mở đầu với việc thừa nhận “nhân phẩm vốn có và những quyền bình đẳng và không thể chuyển nhượng được của tất cả các thành viên trong xã hội loài người” [30]. Đây là sự thể hiện nguyên lý phổ quát của quyền con ngƣời, trong đó có quyền đƣợc bảo vệ một cách bình đẳng trƣớc pháp luật. Ở cấp độ khu vực, Công ƣớc Châu Mỹ về quyền con ngƣời cũng thừa nhận một cách mạnh mẽ rằng “những quyền cơ bản của con người không xuất phát từ việc họ là công dân của một quốc gia nào đó mà dựa trên những thuộc tính của loài 7 người” [6]. Theo Tòa án Nhân quyền liên Mỹ, những quyền đã đƣợc thừa nhận trong Công ƣớc, về mặt bản chất, không thể bị đình chỉ ngay cả trong trƣờng hợp khẩn cấp, bởi vì những quyền này là “thuộc tính cố hữu của con người” và điều này dẫn tới hệ quả là yếu tố có thể bị đỉnh chỉ hoặc hạn chế theo nhƣ Công ƣớc chỉ có thể là “việc thực thi đầy đủ và hiệu quả” những quyền đƣợc quy định trong đó.
Cuối cùng, Hiến chƣơng Châu Phi về quyền con ngƣời và quyền dân tộc cũng thừa nhận rằng “các quyền cơ bản của con người bắt nguồn từ các thuộc tính của con người và cần được bảo vệ ở cấp độ quốc gia và quốc tế” [34]. Ngày nay, đang tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau trong việc định nghĩa về quyền con ngƣời, mỗi cách hiểu là một khía cạnh riêng biệt về vấn đề nhân quyền. Tuy nhiên, khi tổng hợp các quan điểm này lại, chúng ta có thể phân chia thành ba quan điểm chính về quyền con ngƣời nhƣ sau: Quan điểm đầu tiên: xuất phát từ việc coi con ngƣời là một thực thể tự nhiên, lập luận rằng quyền con ngƣời phải là "bẩm sinh", là "đặc quyền", tức là những quyền và lợi ích của con ngƣời theo bản chất của họ, không thể phân chia ra khỏi cá nhân. Quan điểm thứ hai: khác biệt so với quan điểm trƣớc, cách suy luận này đặt con ngƣời và quyền con ngƣời vào bối cảnh xã hội và cho rằng chúng đƣợc Nhà nƣớc và pháp luật can thiệp để bảo vệ.
Các triết lý của trƣờng phái này coi quyền con ngƣời nhƣ một khái niệm mang tính lịch sử, đặt con ngƣời vào trong mạch lƣới các mối liên kết xã hội [52, tr. Quan điểm thứ ba: quan niệm của triết học Mác - Lênin đối với vấn đề quyền con ngƣời đã loại bỏ đƣợc tính chất chủ quan, phản khoa học đối với con ngƣời, quyền con ngƣời ở hai quan điểm trên [52, tr. Từ quan niệm trên có thể hiểu, về cơ bản, quyền con ngƣời bao hàm cả quyền tự nhiên và quyền xã hội. Quyền con ngƣời cần đƣợc đặt trong tổng thể các mối quan hệ xã hội, dƣới sự kiểm soát, trói buộc của xã hội, gắn liền với sự chinh phục, thống trị tự nhiên và xã hội.
Khái niệm quyền con ngƣời chỉ thực sự ra đời khi con ngƣời bị những chủ thể sống khác xâm phạm đến quyền lợi của mình. 8 Nhận thức khái niệm quyền con ngƣời với những đặc điểm, tính chất của nó có thể thấy quyền con ngƣời là một khái niệm trừu tƣợng và có thể đƣa ra khái niệm nhƣ sau: "Quyền con người là những bảo đảm pháp lý quốc tế có mục đích bảo hộ các cá nhân và các tổ chức chống lại những hành vi hoặc sự bỏ mặc có thể gây phương hại đến phẩm giá, những sự được cho phép và sự tự do căn bản của con người". Biện pháp tạm giam: Tạm giam là một trong những biện pháp ngăn chặn trong TTHS, là biện pháp cƣỡng chế nghiêm khắc nhất, tác động trực tiếp lên quyền tự do căn bản của con ngƣời. Tạm giam là biện pháp tạm thời hạn chế tự do, cách ly bị can, bị cáo với xã hội, với gia đình họ trong thời hạn nhất định để ngăn ngừa họ có hành vi né tránh trách nhiệm, cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội [51].
Người bị tạm giam: BLTTHS hiện hành chỉ giải thích từ ngữ về ngƣời bị buộc tội gồm: ngƣời bị bắt, ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà không quy định chi tiết đối với ngƣời bị tạm giam [49]. Điều 3, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 quy định, ngƣời bị tạm giam là ngƣời đang bị quản lý ở cơ sở giam giữ có thời hạn tạm giam, gia hạn tạm giam theo quy định của BLTTHS, trong đó có bị can [45]. Bị can: Điều 60 của BLTTHS năm 2015 quy định, bị can là ngƣời đã bị khởi tố về hình sự. Về bản chất, một ngƣời trở thành bị can khi có quyết định khởi tố bị can của Cơ quan THTT.
Bị can có thể bị Cơ quan THTT áp dụng biện pháp ngăn chặn theo quy định của BLTTHS. Tóm lại, “bị can là người có dấu hiệu thực hiện hành vi vi phạm pháp luật và đã bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố về hình sự” [43]. Từ các quy định trên có thể đƣa ra khái niệm nhƣ sau:"Bị can bị tạm giam là cá nhân đã bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố về hành vi phạm tội và đang hạn chế tự do tại cơ sở giam giữ trong thời hạn tạm giam hoặc gia hạn tạm giam theo BLTTHS hiện hành". Tội phạm là biểu hiện tiêu cực trong xã hội chỉ xuất hiện khi có sự tồn tại của giai cấp và Nhà nƣớc.
Lịch sử Nhà nƣớc và pháp luật cho thấy, đấu tranh ngăn ngừa tội phạm là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của bất cứ Nhà nƣớc nào, muốn phát hiện tội phạm và ngƣời phạm tội, đƣa ngƣời này ra xử lý trƣớc pháp luật. 9 Mỗi quốc gia trên thế giới đều có cách thức và thủ tục về phát hiện và xử lý tội phạm riêng. Sự đa dạng này phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ bản chất Nhà nƣớc, cấu trúc chính trị, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, ý thức của con ngƣời. Tuy nhiên, thủ tục đƣa ngƣời phạm tội ra xử lý trƣớc pháp luật đƣợc gọi dƣới một tên chung là thủ tục tố tụng.
Nhƣ vậy, có thể đƣa ra khái niệm nhƣ sau: “TTHS là trình tự do pháp luật quy định cách thức thực hiện các quy định của pháp luật để xác minh, điều tra các vụ việc, phát hiện nhanh chóng, chính xác, để mọi hành vi vi phạm pháp luật đều được xử lý kịp thời”. Từ định nghĩa trên cho thấy, nhiệm vụ bao trùm nhất TTHS là phát hiện và xử lý tội phạm. Tuy nhiên, quyền lực Nhà nƣớc trong lĩnh vực TTHS rất mạnh, tác động đến ngƣời bị buộc tội bằng các biện pháp cƣỡng chế đặc biệt nhƣ: bắt, tạm giữ, tạm giam để phát hiện xử lý tội phạm. Khi quyền lực Nhà nƣớc mạnh nhƣ thế dẫn đến hệ quả là phía bên kia của TTHS là ngƣời bị buộc tội ở vị trí rất yếu.
Một bên mạnh, một bên yếu dễ dẫn đến quyền của bên yếu sẽ bị xâm phạm. Vừa phát hiện đƣợc tội phạm, vừa bảo vệ quyền con ngƣời đó là nhiệm vụ cực kỳ khó khăn của hoạt động TTHS. Nhƣng TTHS trong Nhà nƣớc văn minh và nhân đạo phải đặt ra đòi hỏi đó. Quyền của bị can bị tạm giam là một một lĩnh vực đặc thù của quyền con ngƣời nói chung và quyền con ngƣời trong TTHS nói riêng.
Nó có những đặc trƣng của quyền con ngƣời thông thƣờng nhƣng cũng có đầy đủ đặc điểm riêng biệt. Từ cách hiểu trên chúng tôi rút ra khái niệm nhƣ sau: "Quyền con người của bị can bị tạm giam là những giá trị cơ bản của con người chỉ dành cho con người khi họ bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố về hành vi phạm tội và đang bị hạn chế tự do tại cơ sở giam giữ trong thời hạn tạm giam hoặc gia hạn tạm giam theo BLTTHS hiện hành mà Nhà nước phải có nghĩa vụ ghi nhận trong pháp luật và bảo đảm thực hiện trên thực tế”. Hiến pháp năm 2013 và BLTTHS năm 2015 đã ghi nhận các quyền con ngƣời cơ bản của bị can bị tạm giam nhƣ: quyền không bị bắt tạm giam tùy tiện; quyền không bị phân biệt đối xử và đối xử bình đẳng; quyền không bị tra tấn, đối 10 xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục; quyền không bị coi là có tội khi chƣa có bản án kết tội đã có hiệu lực của Tòa án; quyền đƣợc bào chữa… 1. Đặc điểm quyền con người của bị can bị tạm giam Xét riêng ở khía cạnh quyền con ngƣời của ngƣời bị tạm giam có thể thấy, đây là nơi quyền con ngƣời bị ảnh hƣởng và chịu sự tác động rất nhiều bởi việc Cơ quan THTT, ngƣời THTT tham gia giải quyết VAHS.
Do vậy, nếu quyền con ngƣời trong tạm giam bị xâm hại thì sẽ để lại hệ quả vô cùng nghiêm trọng đối với xã hội. Quyền con ngƣời của bị can bị bắt tạm giam cũng mang những đặc trƣng, đặc điểm của quyền con ngƣời nhƣ: Tính phổ quát, biểu hiện ở chỗ quyền con ngƣời là quyền bẩm sinh, phù hợp với bản chất con ngƣời, là tài sản chung của nhân loại. Quyền con ngƣời mang tính toàn cầu bởi vì con ngƣời là thành viên của cộng đồng nhân loại. Tính đặc thù, biểu hiện ở chỗ quyền con ngƣời mang tính đặc trƣng, giá trị riêng biệt phụ thuộc vào mức độ phát triển kinh tế - xã hội, truyền thống văn hoá, lịch sử tại mỗi địa phƣơng, quốc gia, vùng lãnh thổ.
Sự thừa nhận tính đặc thù của quyền con ngƣời cho phép các quốc gia có quyền đƣa ra những quy định pháp luật cụ thể, không trái với các chuẩn mực quốc tế. Tính giai cấp, tuy không phải nằm trong nội dung các quyền mà đƣợc thể hiện trong việc thực thi quyền con ngƣời. Với vai trò là thiết chế xã hội, quyền con ngƣời gắn liền với Nhà nƣớc và luật pháp - là những định chế có tính giai cấp sâu sắc. Quyền con ngƣời còn đƣợc phân chia tùy theo chủ thể quyền và nội dung quyền.
Theo chủ thể quyền bao gồm: quyền của công dân và quyền của nhóm; quyền quốc gia (quyền của quốc gia, dân tộc, quyền phát triển). Trong đó, quyền phát triển là một quyền không thể phủ nhận của các quốc gia, các dân tộc và cũng là quyền của từng cá nhân. Quyền này bao gồm hai nhóm chính: nhóm quyền dân sự, chính trị và nhóm quyền kinh tế, văn hóa, xã hội.