Tổng quan luận án
Đề tài "Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam" là luận án tiến sĩ luật học thuộc chuyên ngành Luật hình sự (mã số: 62 38 40 01), thực hiện tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Quang Tiệp và TS. Phạm Mạnh Hùng.
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của chứng cứ như một phương tiện pháp lý duy nhất để các cơ quan tiến hành tố tụng chứng minh tội phạm, người phạm tội và xác định sự thật khách quan của vụ án hình sự. Trong thực tiễn áp dụng, công tác điều tra, truy tố, xét xử gặp nhiều khó khăn, vướng mắc bắt nguồn từ sự thiếu đồng thuận trong khoa học luật tố tụng hình sự về khái niệm chứng cứ, các thuộc tính, phân loại chứng cứ và nguồn chứng cứ. Bên cạnh đó, các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 về chế định này còn bộc lộ điểm chưa cụ thể, chưa chặt chẽ, chưa kịp thời bổ sung quy định phù hợp với tình hình diễn biến của tội phạm công nghệ cao. Những bất cập trong nhận thức và áp dụng quy định pháp luật về chứng cứ dẫn đến tình trạng làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân vào các cơ quan bảo vệ pháp luật. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là việc thiếu vắng một công trình nghiên cứu toàn diện, đồng bộ và có hệ thống về chế định chứng cứ cùng lúc ở cả hai bình diện lý luận và thực tiễn áp dụng.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về chứng cứ, chỉ rõ tồn tại và bất cập của luật hiện hành cũng như thực tiễn áp dụng của các cơ quan bảo vệ pháp luật; trên cơ sở đó đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Để thực hiện mục tiêu trên, luận án giải quyết 6 nhiệm vụ cụ thể:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về chế định chứng cứ, xây dựng khái niệm khoa học về chứng cứ;
- Phân tích sự hình thành và phát triển của chế định chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam để kế thừa những giá trị lập pháp hợp lý;
- Nghiên cứu các quy định về chứng cứ trong pháp luật tố tụng hình sự một số nước trên thế giới nhằm rút ra kinh nghiệm có thể tiếp thu có chọn lọc vào điều kiện Việt Nam;
- Phân tích, làm sáng tỏ những quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về chứng cứ;
- Làm rõ các ưu điểm, hạn chế trong thực tiễn áp dụng quy định pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về chứng cứ, chỉ ra nguyên nhân cơ bản của vướng mắc, hạn chế;
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về chứng cứ và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng trong giai đoạn cải cách tư pháp.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở các vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng trực tiếp những quy định về chứng cứ trong BLTTHS Việt Nam, với dữ liệu thực tiễn được khảo sát từ năm 2008 đến năm 2013.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu trong luận án phân loại các công trình nghiên cứu liên quan theo các nhóm:
Ở phạm vi quốc tế, tác giả điểm lại công trình nghiên cứu tại Mỹ của GS. Mike Redmayne với cuốn sách "Chứng cứ chuyên gia và tư pháp hình sự" (Nxb Đại học Oxford, Mỹ, 2004). Tại Liên bang Nga và Liên Xô trước đây, các công trình được khảo cứu gồm: "Lý luận chứng cứ" (Nxb Khoa học, Mátxcơva, 1991) của X. Xtrôgôvich; "Thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ" (Nxb Khoa học, Mátxcơva, 1966) của R. Benkin; cuốn sách dịch "Lý luận chứng cứ tư pháp trong pháp luật Xô Viết" (Tập san Tòa án nhân dân tối cao xuất bản, 1967) của Viện sĩ A. Vưsinxki. Những công trình này tập trung vào lý thuyết chung về chứng cứ tư pháp, quan hệ giữa chứng cứ với quy định pháp luật, hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ hoặc nghiên cứu chuyên biệt về chứng cứ chuyên gia.
Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu chuyên khảo và tham khảo tiêu biểu gồm: "Chế định chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam" (Nxb Chính trị quốc gia, 2005, tái bản 2009) của TS. Trần Quang Tiệp; "Chứng cứ và chứng minh trong vụ án hình sự" (Nxb Tư pháp, 2006) của TS. Đỗ Văn Đương; "Chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam" (Nxb Tư pháp, 2005); luận án tiến sĩ luật học "Thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án hình sự ở Việt Nam hiện nay" (Học viện Cảnh sát nhân dân, 2000) của Đỗ Văn Đương đi sâu vào nghiệp vụ điều tra.
Ở góc độ bài viết tạp chí chuyên ngành, các công trình được trích dẫn gồm: nghiên cứu của TS. Trần Quang Tiệp trên Tạp chí Kiểm sát (số 6/2004; số 9, 10/2008) và Tạp chí Nhà nước và pháp luật (số 5/2007) về đối tượng chứng minh, nghĩa vụ chứng minh và phương pháp thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ; bài viết của TS. Nguyễn Văn Du trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật (số 11/2005) về khái niệm chứng cứ từ góc độ lịch sử và luật so sánh; bài viết của PGS.TS. Phạm Tuấn Bình trên Tạp chí Trật tự an toàn xã hội (số 3/1999); các bài nghiên cứu của TS. Bùi Kiên Điện trên Tạp chí Luật học về giới hạn chứng minh (số 4/1997) và đánh giá chứng cứ (số 6/2000); bài viết của TS. Trịnh Tiến Việt trên Tạp chí Nghề luật (số 2/2006) về chứng cứ và nguồn chứng cứ theo Điều 64 BLTTHS năm 2003; bài viết của Nguyễn Văn Bốn (Tạp chí Kiểm sát, số 9/2008) và TS. Mai Thế Bày (Tạp chí Kiểm sát, số 9, 10/2008).
Ngoài ra, chế định chứng cứ còn được đề cập trong các giáo trình của PGS. Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên, 2001), GS. Võ Khánh Vinh (chủ biên, 2002), PGS. Hoàng Thị Minh Sơn (chủ biên, 2009); sách bình luận khoa học BLTTHS năm 2003 (Nxb Chính trị quốc gia, 2004; Nxb Công an nhân dân, 2004) và công trình của PGS. Trần Minh Hưởng cùng TS. Trịnh Tiến Việt đồng chủ biên (2011).
Khoảng trống nghiên cứu mà tác giả luận án lựa chọn giải quyết là: các công trình trước đây chỉ tiếp cận từng khía cạnh riêng lẻ hoặc đi sâu vào quá trình chứng minh, nghiệp vụ điều tra cụ thể; chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, đồng bộ và có hệ thống về chế định chứng cứ đồng thời dưới cả hai góc độ lý luận và thực tiễn áp dụng ở cấp độ một luận án tiến sĩ luật học tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án được xây dựng dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về đấu tranh phòng chống tội phạm, cùng các thành tựu của khoa học triết học, xã hội học, lịch sử, lý luận về nhà nước và pháp luật, luật hình sự, luật tố tụng hình sự và tội phạm học. Luận án vận dụng lý luận nhận thức duy vật biện chứng của Lênin, khẳng định con người có khả năng nhận thức thế giới khách quan, mọi tội phạm xảy ra đều để lại dấu vết vật chất hoặc phản ánh trong ý thức con người và thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm nghiệm chân lý.
Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng là các phương pháp chuyên ngành của khoa học luật tố tụng hình sự, bao gồm:
- Phương pháp lịch sử: nghiên cứu sự hình thành, phát triển của các quy định về chứng cứ qua các giai đoạn lịch sử pháp luật phong kiến, thời kỳ Pháp thuộc, giai đoạn từ 1945 đến trước BLTTHS 1988;
- Phương pháp so sánh: đối chiếu quy định về chứng cứ giữa các trường phái tố tụng, giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật tố tụng hình sự một số nước trên thế giới;
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: làm rõ các khái niệm khoa học, các thuộc tính, phân loại chứng cứ, nguồn chứng cứ và đánh giá thực tiễn áp dụng;
- Phương pháp thống kê: phân tích các số liệu tổng kết thực tiễn xét xử, số liệu báo cáo ngành.
Nguồn tư liệu và dữ liệu của luận án bao gồm: hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước qua các thời kỳ; các văn bản hướng dẫn chỉ đạo áp dụng pháp luật của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC), Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) và các cơ quan tư pháp trung ương; số liệu thống kê, tổng kết hàng năm của ngành Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân từ trung ương đến địa phương; các bản án hình sự, quyết định giám đốc thẩm, tài liệu hồ sơ vụ án hình sự trong thực tiễn xét xử giai đoạn 2008 - 2013.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về chứng cứ trong luật tố tụng hình sự
Chương 1 tập trung giải quyết ba nội dung lý luận nền tảng:
Thứ nhất, những vấn đề lý luận về chứng cứ: Tác giả điểm lại các quan điểm lịch sử về chứng cứ:
- Quan điểm thần học, tôn giáo: phó mặc sự thật cho "Đấng tối cao" qua các thử thách thể xác (nhúng tay nước sôi, nhảy từ trên cao, đập đầu vào đá), quyết đấu hoặc lời sám hối;
- Trình tự tố tụng kiểu tố cáo: vận hành theo công thức La Mã Nemo judex sine actore (không có người tố cáo thì không có quan tòa), coi lời nhận tội của bị cáo là "vua của các chứng cứ" (regina probationum);
- Trình tự tố tụng kiểu thẩm vấn và lý luận chứng cứ hình thức: ý nghĩa và hiệu lực của chứng cứ được luật quy định sẵn, thẩm phán áp dụng máy móc, không được tự do đánh giá theo niềm tin nội tâm;
- Quan điểm nhân chủng học: xác định chứng cứ qua cấu trúc cơ thể, tính cách con người;
- Quan điểm niềm tin nội tâm tự do của thẩm phán (ra đời năm 1790 tại Pháp);
- Quan điểm mác-xít: dựa trên lý luận nhận thức và thuộc tính phản ánh của vật chất.
Về khái niệm chứng cứ đương đại, tác giả phân tích và phản biện bốn quan điểm (của M.Trenxôv, M.Xtrôgôvich, Giáo trình CĐKS Hà Nội, các luật gia tư sản) do đồng nhất chứng cứ với sự kiện thực tế hoặc nhầm lẫn giữa chứng cứ và nguồn chứng cứ; đồng thời đồng thuận với quan điểm của TS. Đỗ Văn Đương để đưa ra khái niệm của luận án: "Chứng cứ trong tố tụng hình sự là những thông tin có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định mà CQĐT, VKS và Tòa án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội, cũng như các tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn và chính xác vụ án hình sự".
Về thuộc tính, tác giả khẳng định chứng cứ gồm ba thuộc tính có quan hệ hữu cơ: tính khách quan, tính liên quan (thuộc nội dung) và tính hợp pháp (thuộc hình thức), phản biện quan điểm của GS. Alếchxâyev (vốn chỉ thừa nhận tính liên quan và tính hợp pháp).
Về phân loại chứng cứ, tác giả xác định ba căn cứ chính:
- Theo quan hệ với sự kiện chủ yếu của đối tượng chứng minh: chứng cứ trực tiếp và chứng cứ gián tiếp (trích dẫn luận điểm của GS. A. Konhi và PGS. Nguyễn Ngọc Chí);
- Theo ý nghĩa chứng minh: chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội;
- Theo nguồn phản ánh: chứng cứ gốc và chứng cứ sao lại, thuật lại (second hand evidence hay hearsay evidence theo luật Anh; trích dẫn quan điểm của GS. A. Vưsinxki và PGS. Nguyễn Ngọc Chí). Ngoài ra điểm lại các cách phân loại của lý luận tư sản (plena probatio, minus plena probatio, semi plena major, semi plena minor và phân loại của Hêlie).
Về nguồn chứng cứ, tác giả định nghĩa: "Nguồn chứng cứ là nơi cung cấp những tài liệu quan trọng, mà từ đó, các cơ quan tiến hành tố tụng có thể rút ra chứng cứ có giá trị chứng minh sự thật khách quan của vụ án". Nguồn chứng cứ gồm 4 nhóm: vật chứng; lời khai của người tham gia tố tụng; kết luận giám định; biên bản hoạt động điều tra, xét xử và tài liệu, đồ vật khác.
Thứ hai, lịch sử hình thành và phát triển những quy định của luật tố tụng hình sự Việt Nam về chứng cứ:
| Giai đoạn lịch sử |
Văn bản pháp luật tiêu biểu |
Nội dung và giá trị lập pháp về chứng cứ |
| Thời kỳ phong kiến |
- Bộ luật Hồng Đức (các điều 664 - 670, 714) - Hoàng Việt luật lệ (Điều 369, 377) - Quốc triều khám tụng điều lệ (1777) |
- Ghi nhận nguồn chứng cứ gồm lời khai, vật chứng; phương pháp hỏi cung, lấy lời khai, đối chất. - Quy định tội vu cáo nếu khai man (Điều 666); cấm tra khảo khi tang chứng đã rõ (Điều 668); quy định điều kiện của người làm chứng (Điều 714). - Cấm tra khảo người già, trẻ em (Điều 369 Hoàng Việt luật lệ); xử phạt quan khám nghiệm tử thi sai sự thật (Điều 377). - Quy định chặt chẽ thủ tục khám xét, khai quật tử thi (Quốc triều khám tụng điều lệ). |
| Thời kỳ Pháp thuộc |
- BLTTHS áp dụng tại Bắc Kỳ |
- Quy định các nguồn: thư chứng (Điều 39), vật chứng (Điều 40), lời khai bị can (Điều 17), người làm chứng và nghĩa vụ làm chứng (Điều 20 - 30). |
| Giai đoạn 1945 - 1988 |
- Nghị định số 82-NĐ (1946) - Thông tư số 2795-HCTP (1956) - Thông tư số 2225-HCTP (1956) - Thông tư số 16/TATC (1974) và Bản hướng dẫn sơ thẩm - Công văn số 98-NCPL (1974) - Giáo trình CĐKS Hà Nội (đầu thập niên 1980) |
- Điều 9 Nghị định 82-NĐ quy định Ty Liêm phóng thu thập tài liệu chứng cứ, lập biên bản. - Thông tư 2795 quy định các trường hợp bắt buộc trưng cầu giám định pháp y. - Thông tư 2225 nghiêm cấm mớm cung, bức cung, nhục hình; không dùng lời thú tội làm chứng cứ duy nhất; thừa nhận nguyên tắc suy đoán vô tội. - Thông tư 16/TATC lần đầu liệt kê nguồn chứng cứ; quy định nguyên tắc xét hỏi khách quan tại phiên tòa, trình tự thẩm tra lời khai, tranh tụng. - Công văn 98-NCPL lần đầu định nghĩa vật chứng và vị trí của kết luận giám định. |
Thứ ba, quy định pháp luật tố tụng hình sự một số nước trên thế giới về chứng cứ: Tác giả khảo cứu kinh nghiệm lập pháp tố tụng hình sự của các nước thuộc hệ thống thông luật (Anglô - Sắcxông) và hệ thống dân luật (châu Âu lục địa) về tiêu chuẩn chấp nhận chứng cứ, quy tắc loại trừ chứng cứ bất hợp pháp và đánh giá chứng cứ.
Chương 2: Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về chứng cứ và thực tiễn áp dụng
Chương 2 phân tích nội dung thực định và dữ liệu thực tế:
Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về chứng cứ: Luận án phân tích các điều khoản của BLTTHS năm 2003 điều chỉnh chế định chứng cứ (trọng tâm là Điều 64 về định nghĩa và các nguồn chứng cứ; các điều luật về vật chứng, lời khai của các diện đối tượng tham gia tố tụng, kết luận giám định, biên bản tố tụng). Tác giả chỉ rõ BLTTHS năm 2003 còn thiếu sót khi chưa công nhận băng ghi âm, ghi hình và dấu vết điện tử là nguồn chứng cứ độc lập; các quy định về trình tự thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ còn tản mạn, chưa có tiêu chí loại trừ chứng cứ vi phạm thủ tục tố tụng một cách dứt khoát.
Thực tiễn áp dụng những quy định về chứng cứ: Dựa trên các báo cáo thực tế xét xử và số liệu của TAND, VKSND từ năm 2008 đến năm 2013, tác giả đánh giá:
- Ưu điểm: Việc áp dụng quy định về chứng cứ đã giúp các cơ quan tiến hành tố tụng điều tra, truy tố, xét xử nhiều vụ án chính xác, hạn chế lọt tội phạm, phục vụ trật tự an toàn xã hội.
- Hạn chế, sai phạm trong ba giai đoạn tố tụng: Giai đoạn điều tra còn xảy ra tình trạng vi phạm thủ tục thu thập chứng cứ, mớm cung, bức cung, dùng nhục hình, phụ thuộc vào lời nhận tội của bị can; sai phạm trong lập biên bản tố tụng, biên bản khám nghiệm hiện trường; thu giữ, niêm phong và bảo quản vật chứng không đúng quy cách làm mất hoặc biến dạng dấu vết; đánh giá chứng cứ phiến diện, chỉ chú trọng chứng cứ buộc tội mà xem nhẹ chứng cứ gỡ tội. Giai đoạn truy tố còn tình trạng kiểm sát viên thụ động dựa vào hồ sơ của cơ quan điều tra, chưa kiểm tra kỹ lưỡng các mâu thuẫn trong hệ thống chứng cứ gián tiếp. Giai đoạn xét xử, việc tranh tụng tại phiên tòa ở một số nơi còn mang tính hình thức, hội đồng xét xử còn có xu hướng tin vào hồ sơ điều tra hơn là kết quả thẩm tra công khai tại tòa, dẫn tới một số vụ án bị hủy để điều tra lại hoặc xử oan sai.
- Nguyên nhân: Nhận thức lý luận về chứng cứ và nguồn chứng cứ chưa thống nhất; trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp của một bộ phận cán bộ tiến hành tố tụng còn hạn chế; áp lực chỉ tiêu xử lý vụ án; cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ công tác giám định và bảo quản chứng cứ còn thiếu thốn, lạc hậu.
Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về chứng cứ trước yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay
Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp gắn với định hướng cải cách tư pháp:
Sự cần thiết nâng cao hiệu quả áp dụng: Xuất phát từ chủ trương cải cách tư pháp của Đảng (Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020), xác định hoạt động xét xử là trọng tâm, tranh tụng là khâu đột phá nhằm chống oan, sai và bảo vệ quyền con người.
Các giải pháp cụ thể:
- Hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về chứng cứ:
- Sửa đổi khái niệm chứng cứ trong BLTTHS theo hướng xác định rõ bản chất chứng cứ là "thông tin có thật", phân định ranh giới giữa chứng cứ và nguồn chứng cứ;
- Mở rộng diện nguồn chứng cứ hợp pháp: bổ sung băng ghi âm, đĩa ghi hình, dữ liệu điện tử, thông điệp dữ liệu vào hệ thống nguồn chứng cứ được luật công nhận chính thức để xử lý tội phạm công nghệ cao;
- Bổ sung quy tắc loại trừ chứng cứ bất hợp pháp: quy định rõ các chứng cứ thu thập được do bức cung, dùng nhục hình hoặc vi phạm nghiêm trọng trình tự, thủ tục luật định thì tuyệt đối không có giá trị chứng minh và không được sử dụng làm căn cứ định tội;
- Quy định cụ thể, chặt chẽ thủ tục thu thập, bảo quản, phục hồi dấu vết điện tử và thủ tục trưng cầu giám định tư pháp.
- Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong thực tiễn:
- Đổi mới thủ tục xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, chuyển trọng tâm từ việc thẩm vấn theo hồ sơ có sẵn sang tranh tụng bình đẳng, công khai, phán quyết của Tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá toàn diện chứng cứ tại phiên tòa;
- Nâng cao năng lực chuyên môn, bản lĩnh chính trị và phẩm chất đạo đức của đội ngũ điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán;
- Tăng cường đầu tư trang thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, cơ sở vật chất phục vụ công tác khám nghiệm hiện trường, thu thập và bảo quản vật chứng, hiện đại hóa hoạt động giám định tư pháp hình sự.
Kết quả và những đóng góp mới
Theo công bố của tác giả, luận án mang lại những kết quả và đóng góp mới về khoa học:
Về mặt lý luận:
- Luận án phân tích làm sáng tỏ hệ thống lý luận chung về chứng cứ trong luật tố tụng hình sự; xây dựng khái niệm khoa học về chứng cứ, phân biệt rõ bản chất của chứng cứ (thông tin có thật) với nguồn chứa đựng chứng cứ;
- Phân tích làm rõ ba thuộc tính khách quan, liên quan và hợp pháp của chứng cứ trong mối quan hệ biện chứng; làm rõ hệ thống tiêu chí phân loại chứng cứ và cơ cấu các nguồn chứng cứ trong tố tụng hình sự.
Về mặt lịch sử và so sánh:
- Luận án hệ thống hóa toàn diện lịch sử hình thành và phát triển của chế định chứng cứ trong pháp luật Việt Nam từ các bộ luật phong kiến (Bộ luật Hồng Đức, Hoàng Việt luật lệ, Quốc triều khám tụng điều lệ), thời kỳ Pháp thuộc đến giai đoạn 1945 - 1988, chỉ ra các giá trị lập pháp truyền thống cần kế thừa;
- Khảo cứu các quy định về chứng cứ trong pháp luật tố tụng hình sự một số nước trên thế giới, rút ra bài học kinh nghiệm về tiêu chuẩn chứng cứ và loại trừ chứng cứ phi pháp.
Về mặt thực tiễn và giải pháp:
- Phân tích thực trạng các quy định của BLTTHS năm 2003 về chứng cứ, chỉ rõ các điểm chưa hoàn thiện;
- Khảo sát, đánh giá thực trạng áp dụng quy định về chứng cứ qua ba giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử tại Việt Nam giai đoạn 2008 - 2013, nhận diện các sai phạm điển hình và nguyên nhân cơ bản;
- Đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện lập pháp (định nghĩa chứng cứ, nguồn chứng cứ điện tử, quy tắc loại trừ chứng cứ bất hợp pháp) và giải pháp tổ chức thực hiện gắn liền với cải cách tư pháp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Văn bản luận án thể hiện phạm vi nghiên cứu giới hạn ở các quy định trực tiếp về chứng cứ trong BLTTHS năm 2003 và thực tiễn áp dụng trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2013. Luận án chưa bao quát các vấn đề phát sinh sau mốc thời gian này, cũng như chưa khảo sát toàn bộ các dạng hành vi phạm tội sử dụng công nghệ cao ở quy mô rộng ngoài các nguồn dữ liệu án văn thu thập được.
Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở từ nội dung văn bản gồm: tiếp tục theo dõi, đánh giá việc thực thi các quy định mới về chứng cứ trong tiến trình sửa đổi toàn diện Bộ luật Tố tụng hình sự; nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế kiểm tra, đánh giá tính xác thực của dữ liệu điện tử, chứng cứ kỹ thuật số trong các tội phạm phi truyền thống; hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo đảm tranh tụng thực chất trong hoạt động đánh giá chứng cứ tại Tòa án.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo dành cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành luật: khai thác khung lý luận về chế định chứng cứ, lịch sử lập pháp tố tụng hình sự Việt Nam qua các thời kỳ và hệ thống quan điểm học thuật trong và ngoài nước;
- Giảng viên các cơ sở đào tạo luật: sử dụng nội dung Chương 1 và Chương 2 để giảng dạy môn học Luật Tố tụng hình sự, đặc biệt là học phần về lý luận chứng cứ và chứng minh;
- Cán bộ thực tiễn tại Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và luật sư: tham khảo phương pháp nhận diện ba thuộc tính của chứng cứ, quy tắc đánh giá hệ thống chứng cứ gián tiếp, các sai phạm nghiệp vụ thường gặp trong thu thập, bảo quản vật chứng và ghi lời khai để phòng ngừa oan, sai;
- Cơ quan lập pháp và cơ quan cải cách tư pháp: tham khảo các kiến nghị sửa đổi quy định về nguồn chứng cứ điện tử và quy tắc loại trừ chứng cứ bất hợp pháp phục vụ việc hoàn thiện chính sách, pháp luật tố tụng hình sự.
Câu hỏi thường gặp
1. Tác giả luận án định nghĩa chứng cứ như thế nào và điểm cốt lõi phân biệt giữa chứng cứ và nguồn chứng cứ là gì?
Theo tác giả luận án, chứng cứ trong tố tụng hình sự là những thông tin có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định mà CQĐT, VKS và Tòa án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội, cũng như các tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn và chính xác vụ án hình sự. Điểm cốt lõi phân biệt là: chứng cứ là nội dung thông tin được rút ra, còn nguồn chứng cứ là nơi chứa đựng hoặc cung cấp tài liệu để rút ra thông tin đó; bản thân nguồn chứng cứ không phải là chứng cứ.
2. Ba thuộc tính của chứng cứ được luận án xác định gồm những gì và tác giả phản biện quan điểm nào?
Ba thuộc tính gồm tính khách quan, tính liên quan (thuộc về nội dung) và tính hợp pháp (thuộc về hình thức). Tác giả phản biện quan điểm của GS. Alếchxâyev (cho rằng chứng cứ chỉ có hai thuộc tính là tính liên quan và tính hợp pháp). Luận án khẳng định nếu không có tính khách quan (tồn tại độc lập ngoài ý thức con người), việc nhận thức và giải quyết vụ án sẽ rơi vào chủ quan, dẫn đến oan sai.
3. Tại sao luận án đề xuất mở rộng nguồn chứng cứ đối với băng ghi âm, ghi hình và dấu vết điện tử?
Luận án chỉ ra rằng trước yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm công nghệ cao, các hành vi phạm tội ngày càng để lại nhiều dấu vết kỹ thuật số. Nếu chỉ giới hạn ở các nguồn truyền thống theo BLTTHS năm 2003 (vật chứng, lời khai, kết luận giám định, biên bản), cơ quan tiến hành tố tụng sẽ thiếu cơ sở pháp lý vững chắc để thu thập, đánh giá các dữ liệu điện tử thu giữ hợp pháp, gây khó khăn cho việc phát hiện và xử lý tội phạm.
4. Pháp luật phong kiến Việt Nam đã có những quy định tiến bộ nào về chứng cứ được luận án ghi nhận?
Luận án ghi nhận: Bộ luật Hồng Đức đã quy định trách nhiệm hình sự về tội vu cáo đối với người khai gian hại người vô tội (Điều 666); cấm tra khảo khi tang chứng đã rõ ràng (Điều 668); quy định điều kiện người làm chứng không được có thù oán hay thân tình (Điều 714). Hoàng Việt luật lệ cấm tra tấn người già trên 70 tuổi, trẻ em dưới 15 tuổi và người tàn phế mà phải căn cứ vào chứng cứ để định tội (Điều 369); xử phạt nghiêm khắc quan lại khám nghiệm tử thi sai sự thật (Điều 377).
5. Cơ sở lý luận của hai thuộc tính khách quan và liên quan của chứng cứ được luận án dựa trên nguyên tắc triết học nào?
Tính khách quan của chứng cứ có cơ sở lý luận là nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng, đòi hỏi cơ quan tiến hành tố tụng tôn trọng sự thật, không suy diễn định kiến. Tính liên quan của chứng cứ có cơ sở lý luận là nguyên tắc toàn diện của chủ nghĩa duy vật biện chứng, đòi hỏi việc giải quyết vụ án phải xem xét đầy đủ các mối quan hệ liên quan để rút ra bản chất sự việc, tránh thu thập tài liệu tràn lan hoặc bỏ sót chứng cứ.
Kết luận
Luận án tiến sĩ luật học của tác giả đã nghiên cứu toàn diện chế định chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn áp dụng. Thông qua việc phân tích lịch sử lập pháp dân tộc, khảo cứu kinh nghiệm quốc tế và đánh giá thực trạng áp dụng BLTTHS năm 2003 giai đoạn 2008 - 2013, công trình đã chỉ rõ những vướng mắc, sai phạm phổ biến và nguyên nhân trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Các giải pháp do luận án đề xuất tập trung vào việc hoàn thiện khái niệm chứng cứ, bổ sung nguồn chứng cứ điện tử, thiết lập quy tắc loại trừ chứng cứ bất hợp pháp và đẩy mạnh tranh tụng tại phiên tòa, đóng góp thiết thực cho công cuộc cải cách tư pháp và phòng chống oan, sai tại Việt Nam.