Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Luật học với đề tài "Mô hình tố tụng hình sự Việt Nam và vấn đề áp dụng tố tụng tranh tụng" do nghiên cứu sinh Nguyễn Đình Nhâm thực hiện, thuộc chuyên ngành Luật hình sự, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TSKH Đào Trí Úc, hoàn thành tại Hà Nội năm 2024.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu của đề tài được xác định xuất phát từ ba phương diện:
- Về nhận thức: Nhận thức về mô hình tố tụng hình sự (TTHS) và các yếu tố cấu thành mô hình tại Việt Nam chưa thật rõ nét và đầy đủ; khái niệm cũng như các yếu tố hợp thành chưa được nghiên cứu một cách tổng thể, sâu sắc.
- Về lý luận: Các công trình nghiên cứu trước đây mới chỉ khai thác ở một hoặc một vài khía cạnh cụ thể hoặc từng chế định riêng lẻ, chưa có công trình nào trực diện nghiên cứu mô hình TTHS với tư cách là mục tiêu nghiên cứu trung tâm và toàn diện.
- Về thực tiễn lập pháp và áp dụng pháp luật: Mặc dù Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 đã có những sửa đổi nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị (như quy định thời điểm tham gia tố tụng của người bào chữa sớm hơn, bổ sung quyền cho người bào chữa, quy định Kiểm sát viên phải đối đáp, Chủ tọa phiên tòa tạo điều kiện tranh luận), thực tiễn áp dụng vẫn bộc lộ sự lẫn lộn về chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan tố tụng. Tòa án là cơ quan xét xử nhưng vẫn có trách nhiệm chứng minh tội phạm (Điều 10), có thẩm quyền khởi tố vụ án (Điều 104), có quyền tiếp tục xét xử khi Viện kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy tố (Điều 221). Quyền thu thập chứng cứ duy nhất thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng; người bào chữa chưa được tạo điều kiện đầy đủ; tranh tụng mới dừng lại ở thủ tục tranh luận tại phiên tòa mà chưa xuyên suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử.
- Về yêu cầu cải cách tư pháp: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, XI của Đảng và Hiến pháp năm 2013 đã đặt ra yêu cầu hiến định nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử, thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội, bảo đảm quyền con người, mở rộng quyền bào chữa và coi cải cách xét xử là trọng tâm của cải cách tư pháp.
Mục đích nghiên cứu của luận án là nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về mô hình TTHS, đánh giá chính xác, khách quan mô hình TTHS Việt Nam thể hiện trong pháp luật và thực tiễn áp dụng; trên cơ sở đó đề xuất việc tiếp thu những hạt nhân hợp lý của mô hình TTHS tranh tụng trong quá trình hoàn thiện mô hình TTHS Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án bao gồm 3 nhiệm vụ cụ thể:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về mô hình TTHS; những tiêu chí khoa học về phân loại các mô hình TTHS; làm rõ lịch sử hình thành, phát triển, đặc điểm, ưu thế, hạn chế của các mô hình TTHS điển hình trên thế giới và xu thế phát triển chung.
- Xác định và làm rõ những đặc điểm chủ yếu của mô hình TTHS Việt Nam thông qua phân tích các quy định của pháp luật TTHS từ năm 1945 đến nay, đánh giá thực tiễn áp dụng; làm rõ những mặt tích cực cũng như hạn chế của mô hình TTHS hiện hành.
- Làm rõ những yêu cầu của cải cách tư pháp đặt ra đối với việc hoàn thiện mô hình TTHS; phân tích tiền đề và thách thức đối với việc áp dụng các yếu tố của tố tụng tranh tụng; đưa ra các kiến nghị về phương hướng, giải pháp tiếp thu những hạt nhân hợp lý của mô hình TTHS tranh tụng đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN); đề xuất các điều kiện bảo đảm thể chế và áp dụng tố tụng tranh tụng tại Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là mô hình TTHS Việt Nam và việc áp dụng các yếu tố của tố tụng tranh tụng trong tiến trình cải cách tư pháp.
Phạm vi nghiên cứu được xác định tập trung vào cấu trúc của một mô hình TTHS, bao gồm: tính chất của TTHS; mục tiêu và cách thức đạt đến mục tiêu của TTHS; các chức năng tố tụng cơ bản và vị trí pháp lý của các chủ thể TTHS; chứng cứ và sự tồn tại của hồ sơ vụ án hình sự. Luận án không đi sâu vào tất cả các thủ tục kỹ thuật cụ thể ngoài mối liên hệ với các yếu tố hợp thành mô hình. Về thời gian, luận án nghiên cứu pháp luật TTHS Việt Nam từ năm 1945 đến nay.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật và phân loại hệ thống các công trình nghiên cứu liên quan theo các nhóm cụ thể:
Các công trình nghiên cứu trong nước:
- Nhóm công trình về đổi mới tổ chức và hoạt động của các thiết chế tư pháp và bổ trợ tư pháp: Nghiên cứu của Trần Văn Độ (2007) về căn cứ đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án; Phan Trung Hoài (2009) về hành nghề luật sư trong vụ án hình sự; Nguyễn Văn Tuân (2000) về luật sư và đạo đức nghề nghiệp; Trần Đình Nhã (1995) và Đỗ Ngọc Quang (2004) về đổi mới tổ chức cơ quan điều tra; Nguyễn Tất Viễn (2004) về thi hành án hình sự và giám định tư pháp; Tô Văn Hòa (2006) về tính độc lập của Tòa án tại Đức, Mỹ, Pháp, Việt Nam; Đào Trí Úc (2011) về Viện kiểm sát ở Việt Nam.
- Nhóm công trình về mô hình TTHS và tố tụng tranh tụng: Đề tài cấp Nhà nước của Lê Hữu Thể (2009-2010); bài viết của Nguyễn Thái Phúc (2007, 2008), Đào Trí Úc (2011), Lê Hữu Thể (2011) về Đề án mô hình TTHS Việt Nam của Ban cán sự đảng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC). Các công trình về nguyên tắc tranh tụng của Lê Văn Cảm và Nguyễn Ngọc Chí (đồng chủ biên, 2004) với các bài viết của Nguyễn Ngọc Chí, Trịnh Tiến Việt; nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Kháng (2003), Lê Văn Cảm (2004), Trần Văn Độ (2004), Võ Thị Kim Oanh (2006) và luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Hiển (2010).
- Nhóm công trình về các nguyên tắc, chức năng, địa vị pháp lý chủ thể và quyền con người: Nghiên cứu về nguyên tắc TTHS của Đào Trí Úc (2011), Nguyễn Ngọc Chí (2008), Lê Cảm (2006), Trịnh Quốc Toản (2004), Hoàng Thị Sơn và Bùi Kiên Điện (1999); nghiên cứu về chức năng và chủ thể của Nguyễn Thái Phúc (2005), Phan Trung Hoài (1998), Hoàng Thị Sơn (2000), Lê Tiến Châu (2008), Nguyễn Văn Du (1999), Phạm Hồng Hải (1998, 2003), Lê Hữu Thể (2005), Nguyễn Tiến Long (2005), Uông Chu Lưu và Hà Mạnh Trí (2004); nghiên cứu về quyền con người và minh oan của Lê Văn Cảm (2010-2011), Nguyễn Ngọc Chí (2003, 2005, 2010-2011), Nguyễn Hòa Bình (2014); các công trình luật so sánh của Viện Khoa học kiểm sát (2008), Viện Khoa học pháp lý (1999), Trần Đại Thắng (1999), Tô Văn Hòa (2007), Lương Thị Mỹ Quỳnh (2011).
Các công trình nghiên cứu ngoài nước:
- Các công trình chuyên khảo so sánh quốc tế của Philip Riechel ("Tư pháp hình sự so sánh"), Richard Vogler ("Tố tụng hình sự so sánh", 2005), E.A. Tomlinson ("Tư pháp hình sự so sánh: Hoa Kỳ, Tây Đức, Anh, Pháp..."), Phil Fennell, Christopher Harding, Nico Jorg, Ber Swar ("Tư pháp hình sự ở Châu Âu, nghiên cứu so sánh").
- Các công trình nền tảng của các học giả Xô Viết và Liên bang Nga: M. Chenxop (1978), M. Strogovich (1979), V. Savitski (1971), E. Misukina (2008), N. Stoiko (2009), V. Smirnov (2001), B. Petrukhin; lý thuyết của Herbert Packer (1968) và phân tích của Cole về Mô hình kiểm soát tội phạm và Mô hình tố tụng công bằng.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết:
- Phần lớn các công trình nghiên cứu trước đây chưa tiếp cận trực diện "mô hình TTHS" như một đối tượng nghiên cứu chỉnh thể, mà chủ yếu đi sâu vào từng giai đoạn tố tụng hoặc một vài thủ tục riêng biệt.
- Chưa có hệ thống tiêu chí khoa học toàn diện để xác định bản chất, cấu trúc và định vị chính xác mô hình TTHS Việt Nam hiện hành.
- Các công trình công bố trước năm 2002 hoặc trước Hiến pháp năm 2013 chưa phản ánh đầy đủ các yêu cầu mới của chiến lược cải cách tư pháp và chuẩn mực bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng các khái niệm, lý thuyết pháp lý và phương pháp nghiên cứu sau:
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng:
- Khái niệm mô hình TTHS: Luận án định nghĩa mô hình TTHS là sự khái quát cao những đặc trưng cơ bản, phổ biến, phản ánh cách thức tổ chức hoạt động TTHS, cách thức tìm đến sự thật khách quan của vụ án, qua đó quyết định địa vị tố tụng của các chủ thể tố tụng, tính chất của mối quan hệ giữa các chủ thể tố tụng và trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hình sự.
- Khung 4 yếu tố phân loại mô hình TTHS:
- Tính chất của TTHS (giải quyết tranh chấp giữa các bên hay bảo vệ trật tự công cộng do Nhà nước đứng ra giải quyết).
- Mục tiêu của TTHS và cách thức đạt đến mục tiêu ("sự thật pháp lý/hình thức" thông qua thủ tục công bằng hay "sự thật khách quan/tuyệt đối" thông qua hoạt động điều tra sâu của cơ quan nhà nước).
- Các chức năng cơ bản của TTHS (buộc tội, bào chữa, xét xử) và địa vị pháp lý của các chủ thể trong việc thực hiện các chức năng đó.
- Chứng cứ và sự tồn tại của hồ sơ vụ án hình sự (chứng cứ bằng lời trực tiếp tại phiên tòa hay chứng cứ viết lưu trong hồ sơ điều tra).
- Lý thuyết phân loại mô hình của Herbert Packer: Phân tích hai mô hình lý thuyết gồm Mô hình kiểm soát tội phạm (Crime Control Model) và Mô hình tố tụng công bằng (Due Process Model).
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận: Dựa trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và cải cách tư pháp; vận dụng các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Kết hợp phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh luật học, phương pháp thống kê, logic pháp lý.
- Phương pháp thu thập dữ liệu thực tế: Khảo sát thực tiễn tại các cơ quan tiến hành tố tụng các cấp; thực hiện trao đổi, phỏng vấn chuyên sâu đối với những người tiến hành tố tụng (Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên) và người tham gia tố tụng (Luật sư, bị can, bị cáo).
Nguồn tư liệu và dữ liệu:
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam qua các thời kỳ: Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992, 2013; các sắc lệnh tư pháp thời kỳ kháng chiến; BLTTHS năm 1988 và BLTTHS năm 2003.
- Các văn kiện, nghị quyết của Đảng: Nghị quyết số 08-NQ/TW, Nghị quyết số 48-NQ/TW, Nghị quyết số 49-NQ/TW.
- Số liệu thống kê tư pháp chính thức từ VKSNDTC và Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) về số lượng án truy tố, bản án bị hủy, quyết định khởi tố bị hủy, số vụ trả hồ sơ điều tra bổ sung, số bị can bị đình chỉ điều tra, số bị cáo tuyên không phạm tội, án oan sai và số lượng luật sư.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương 1 điểm lại và đánh giá toàn diện tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến mô hình TTHS.
Về nghiên cứu trong nước, tác giả phân nhóm các công trình thành hai mảng lớn: (1) nhóm công trình về đổi mới tổ chức và hoạt động của các thiết chế tư pháp (Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra, Luật sư, Giám định, Thi hành án); (2) nhóm công trình nghiên cứu về các nguyên tắc TTHS, địa vị pháp lý chủ thể, ba chức năng tố tụng cơ bản, bảo đảm quyền con người và các nghiên cứu so sánh pháp luật. Luận án phân tích sự tồn tại của hai luồng ý kiến tại Việt Nam về nguyên tắc TTHS: luồng ý kiến thứ nhất coi nguyên tắc là quy phạm pháp lý có tính bắt buộc của Nhà nước; luồng ý kiến thứ hai coi nguyên tắc là tư tưởng chỉ đạo khái quát mang tính định hướng lập pháp và áp dụng.
Về nghiên cứu ngoài nước, tác giả khảo cứu các công trình tại Tây Âu (Pháp, Đức, Anh), Hoa Kỳ, Liên Xô trước đây và Liên bang Nga sau năm 1991, cùng kinh nghiệm cải cách tại Chile và Italia. Tác giả phân tích xu hướng hội tụ, thâm nhập lẫn nhau giữa hai truyền thống pháp luật lớn: các quốc gia thuộc mô hình thẩm vấn tiếp thu các yếu tố tranh tụng nhằm nâng cao tính dân chủ và bảo vệ quyền con người; ngược lại, các quốc gia theo mô hình tranh tụng gia tăng vai trò kiểm soát tội phạm và sự chủ động của Thẩm phán.
Từ đó, chương 1 rút ra những vấn đề còn bỏ ngỏ cần tiếp tục làm rõ: xác lập khái niệm và tiêu chí phân loại mô hình TTHS; đánh giá chính xác tính chất mô hình TTHS Việt Nam hiện hành; xác định phương hướng và mức độ tiếp thu các yếu tố của tố tụng tranh tụng.
Chương 2: Cơ sở lý luận về mô hình tố tụng hình sự
Chương 2 tập trung xây dựng cơ sở lý luận nền tảng về mô hình TTHS. Tác giả phân tích cấu trúc của hoạt động TTHS và đưa ra định nghĩa chuẩn xác về mô hình TTHS, đồng thời xác lập hệ thống 4 tiêu chí cốt lõi để nhận diện và phân loại các mô hình:
- Tính chất của TTHS: Giải quyết xung đột quyền lợi giữa các bên bình đẳng hay là hoạt động xử lý xâm phạm trật tự công cộng do Nhà nước đơn phương tiến hành.
- Mục tiêu và phương thức đạt mục tiêu: Tìm kiếm "sự thật hình thức/pháp lý" thông qua thủ tục đối tụng công bằng hay tìm kiếm "sự thật khách quan/tuyệt đối" bằng các biện pháp điều tra, thẩm vấn của cơ quan nhà nước.
- Chức năng cơ bản và địa vị pháp lý của chủ thể: Phân định rạch ròi ba chức năng độc lập (buộc tội, bào chữa, xét xử) với vai trò trọng tài trung lập của Tòa án, hay kết hợp nhiều chức năng trong các cơ quan tiến hành tố tụng.
- Chứng cứ và hồ sơ vụ án: Coi trọng chứng cứ bằng lời trực tiếp tại phiên tòa và không thừa nhận hồ sơ lập sẵn, hay sử dụng chứng cứ viết được thu thập trong hồ sơ điều tra làm căn cứ xét xử.
Chương này phân tích sâu sắc ba mô hình TTHS điển hình:
- Mô hình tố tụng tranh tụng: Hình thành từ thời cổ đại Hy Lạp - La Mã, phát triển trong hệ thống Thông luật (Anh - Mỹ). Đặc trưng bởi tính chất đối tụng giữa hai bên bình đẳng; chức năng phân định rạch ròi; Tòa án đóng vai trò trọng tài thụ động; chứng cứ được thẩm tra công khai bằng lời qua thủ tục hỏi chéo (cross-examination); không tồn tại hồ sơ vụ án tiền xét xử có giá trị chứng minh mặc định; thừa nhận chế định thương lượng nhận tội (plea bargaining). Ưu thế là bảo đảm dân chủ, tôn trọng nhân quyền, hạn chế tối đa oan sai; hạn chế là nguy cơ bỏ lọt tội phạm cao, chi phí và thời gian xét xử tốn kém.
- Mô hình tố tụng thẩm vấn: Phát triển tại châu Âu lục địa từ thế kỷ 16, gắn với hệ thống Dân luật. Đặc trưng bởi mục tiêu tìm sự thật tuyệt đối; các cơ quan tố tụng chuyên nghiệp của Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc thu thập chứng cứ và chứng minh tội phạm; Tòa án chủ động thẩm vấn; dựa chủ yếu vào hồ sơ vụ án viết; không áp dụng thương lượng nhận tội. Ưu thế là hiệu quả kiểm soát tội phạm và xác minh sự thật cao; hạn chế là vị thế bên bào chữa yếu thế, tiềm ẩn nguy cơ lạm quyền và vi phạm quyền con người.
- Mô hình tố tụng pha trộn: Phản ánh sự dung hợp các yếu tố của cả thẩm vấn và tranh tụng tùy thuộc điều kiện lịch sử, chính trị, văn hóa của từng quốc gia.
Chương 2 cũng trình bày chi tiết hai mô hình lý thuyết của Herbert Packer, được tổng hợp tại bảng so sánh sau:
| Tiêu chí so sánh |
Mô hình kiểm soát tội phạm (Crime Control Model) |
Mô hình tố tụng công bằng (Due Process Model) |
| Mục tiêu ưu tiên |
Trấn áp tội phạm là mục tiêu quan trọng nhất nhằm bảo đảm trật tự xã hội. |
Bảo đảm sự công bằng, ngăn ngừa sự lạm quyền của Nhà nước đối với cá nhân. |
| Quan niệm về tự do |
Tự do đạt được thông qua các biện pháp hạn chế, phòng chống và xử lý tội phạm. |
Tự do đạt được thông qua việc kiểm soát sự can thiệp của chính quyền vào đời sống công dân. |
| Căn cứ phán quyết |
Ra các quyết định dựa trên các tình tiết phạm tội thực tế (tội thực tế). |
Ra các quyết định dựa trên nguyên lý phạm tội về mặt luật pháp (tội pháp lý). |
| Đặc điểm quy trình |
Nhấn mạnh tính hiệu quả, nhanh chóng, dứt khoát; tỷ lệ buộc tội cao; rút gọn thủ tục. |
Nhấn mạnh tính hợp pháp, thủ tục chính thức; tìm kiếm chứng cứ thông qua tranh tụng. |
| Sàng lọc tố tụng |
Loại bỏ người dường như không phạm tội ngay từ giai đoạn đầu; coi trọng điều tra. |
Đặt quy trình dưới sự kiểm soát chặt chẽ, chấp nhận quy trình phức tạp để tránh oan sai. |
Cuối chương 2, tác giả khái quát sự phát triển của mô hình TTHS Việt Nam trong lịch sử hiện đại từ năm 1945 đến trước thời kỳ đổi mới.
Chương 3: Cơ sở pháp lý và thực tiễn của mô hình tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành
Chương 3 phân tích thực trạng pháp lý và thực tiễn áp dụng mô hình TTHS Việt Nam theo quy định của BLTTHS năm 2003:
- Về cơ sở pháp lý: Luận án chỉ rõ mô hình TTHS Việt Nam hiện hành mang bản chất là mô hình pha trộn nhưng thiên về thẩm vấn. Sự pha trộn thể hiện ở việc đã bước đầu tiếp thu một số yếu tố tranh tụng tại phiên tòa, mở rộng quyền bào chữa. Tuy nhiên, tính chất thẩm vấn vẫn chiếm ưu thế tuyệt đối: các cơ quan tiến hành tố tụng giữ thế chủ động toàn diện; Tòa án vẫn mang trách nhiệm chứng minh tội phạm (Điều 10), có quyền khởi tố vụ án tại phiên tòa (Điều 104) và tiếp tục xét xử khi Viện kiểm sát rút truy tố (Điều 221); quy trình tố tụng phụ thuộc nặng nề vào hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra lập; lời khai tại phiên tòa chỉ mang tính chất kiểm tra lại hồ sơ điều tra.
- Về thực tiễn áp dụng: Tác giả sử dụng các số liệu và bảng biểu thống kê để đánh giá thực trạng hoạt động tư pháp hình sự:
- Bảng 3.1: Chất lượng xét xử của Tòa án;
- Bảng 3.2: Sự phát triển về số lượng của đội ngũ luật sư;
- Bảng 3.3: Số bị can, bị cáo bị oan;
- Bảng 3.4: Số vụ án Tòa án trả hồ sơ yêu cầu Viện kiểm sát điều tra bổ sung;
- Biểu đồ 3.1: Số lượng các vụ án truy tố ra tòa;
- Biểu đồ 3.2: Số quyết định khởi tố bị can bị VKS hủy bỏ;
- Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ bản án, quyết định của Tòa án bị hủy bỏ;
- Biểu đồ 3.4: Số bị can bị đình chỉ điều tra vì không phạm tội;
- Biểu đồ 3.5: Số bị cáo bị Tòa án tuyên không phạm tội.
- Về nguyên nhân của những hạn chế: Luận án chỉ rõ sự lẫn lộn giữa chức năng xét xử và chức năng buộc tội; quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa bị hạn chế; Hội đồng xét xử dành quá nhiều thời lượng cho việc xét hỏi thay vì điều hành tranh luận; thiếu cơ chế ràng buộc để Cơ quan điều tra thực hiện các yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát; tâm lý ỷ lại vào hồ sơ giấy tờ và định kiến buộc tội sẵn có từ giai đoạn tiền xét xử.
Chương 4: Định hướng và nội dung tiếp thu tố tụng tranh tụng trong quá trình đổi mới mô hình tố tụng hình sự Việt Nam
Chương 4 đề xuất các giải pháp đổi mới mô hình TTHS Việt Nam:
- Phân tích tiền đề và thách thức: Làm rõ tiền đề chính trị, pháp lý từ các Nghị quyết của Đảng (Nghị quyết 08-NQ/TW, Nghị quyết 48-NQ/TW, Nghị quyết 49-NQ/TW) và Hiến pháp năm 2013; nhận diện thách thức về năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ tư pháp, số lượng và chất lượng đội ngũ luật sư, cũng như rào cản từ thói quen tố tụng thẩm vấn truyền thống.
- Xác định các yếu tố tranh tụng cần tiếp thu:
- Tách bạch và phân định rành mạch ba chức năng cơ bản: Viện kiểm sát thực hiện chức năng buộc tội (thực hành quyền công tố và gắn công tố với hoạt động điều tra); người bị buộc tội và người bào chữa thực hiện chức năng bào chữa (bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ và lập luận); Tòa án chỉ thực hiện chức năng xét xử độc lập, vô tư, khách quan.
- Bãi bỏ các thẩm quyền mang tính chất buộc tội của Tòa án (bãi bỏ quyền khởi tố vụ án tại phiên tòa, bãi bỏ trách nhiệm chứng minh tội phạm của Tòa án, đình chỉ xét xử khi Viện kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy tố).
- Đổi mới căn bản thủ tục xét xử tại phiên tòa theo hướng lấy tranh tụng làm trung tâm; phán quyết của Tòa án phải căn cứ trực tiếp vào kết quả kiểm tra, đối chất và tranh luận công khai tại phiên tòa thay vì định kiến từ hồ sơ điều tra.
- Mở rộng quyền thu thập chứng cứ và tiếp cận tài liệu vụ án của người bào chữa ngay từ giai đoạn khởi tố, điều tra.
- Các biện pháp bảo đảm thể chế: Đề xuất kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan tư pháp; hoàn thiện pháp luật về luật sư và trợ giúp pháp lý; tăng cường trách nhiệm giải trình và đổi mới phương thức đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng tranh tụng cho Thẩm phán, Kiểm sát viên và Luật sư.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án nêu bật các đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn:
- Về mặt lý luận:
- Luận án là công trình nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về mô hình TTHS; đưa ra định nghĩa khoa học hoàn chỉnh về mô hình TTHS.
- Xác lập và luận giải hệ thống 4 tiêu chí khoa học để nhận diện và phân loại các mô hình TTHS (tính chất tố tụng; mục tiêu và cách thức đạt mục tiêu; chức năng tố tụng và địa vị pháp lý chủ thể; chứng cứ và hồ sơ vụ án).
- Phân tích sâu sắc các đặc trưng, ưu thế, hạn chế của các mô hình TTHS tranh tụng, thẩm vấn, pha trộn và các học thuyết phân loại hiện đại, rút ra bài học kinh nghiệm quốc tế phục vụ cải cách tư pháp tại Việt Nam.
- Về mặt thực tiễn:
- Đánh giá khách quan và xác định bản chất của mô hình TTHS Việt Nam hiện hành là mô hình pha trộn thiên về thẩm vấn; chỉ rõ những bất cập về thể chế, sự chồng chéo chức năng và những hạn chế trong thực tiễn vận hành.
- Hệ thống hóa các quan điểm, định hướng của Đảng và quy định của Hiến pháp năm 2013 về cải cách tư pháp và bảo vệ quyền con người; phân tích rõ tiền đề và thách thức khi áp dụng tố tụng tranh tụng.
- Đề xuất lộ trình, nội dung và mức độ tiếp thu các yếu tố hợp lý của mô hình tranh tụng vào mô hình TTHS Việt Nam (phân định rạch ròi ba chức năng tố tụng, bãi bỏ thẩm quyền buộc tội của Tòa án, nâng cao vị thế người bào chữa, lấy kết quả tranh tụng tại tòa làm căn cứ phán quyết).
- Đề xuất các biện pháp bảo đảm đồng bộ về thể chế, tổ chức bộ máy và nhân lực tư pháp nhằm phục vụ trực tiếp cho việc sửa đổi, bổ sung BLTTHS năm 2003 và hoàn thiện hệ thống cơ quan tư pháp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của đề tài: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở cấp độ cấu trúc và các yếu tố nền tảng cấu thành mô hình TTHS (tính chất, mục tiêu, chức năng/chủ thể, chứng cứ/hồ sơ). Do đó, luận án không nghiên cứu toàn bộ các quy định chi tiết về quy trình, thủ tục tố tụng cụ thể, các biện pháp ngăn chặn hay kỹ thuật điều tra đối với từng loại tội phạm riêng biệt.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Đánh giá tác động thực tiễn và hiệu quả thi hành sau khi các nguyên tắc tranh tụng được thể chế hóa trong BLTTHS mới.
- Đi sâu nghiên cứu cơ chế kiểm tra, đánh giá các loại chứng cứ mới (như chứng cứ điện tử, dữ liệu số) trong điều kiện đẩy mạnh tranh tụng.
- Nghiên cứu các giải pháp bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất, công nghệ và quy chuẩn đạo đức nghề nghiệp trong quá trình thực hiện tranh tụng tại phiên tòa.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với công tác lập pháp và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học cho Quốc hội, Ban Chỉ đạo Cải cách Tư pháp Trung ương, TANDTC, VKSNDTC và Bộ Tư pháp trong việc sửa đổi, bổ sung BLTTHS và các luật tổ chức cơ quan tư pháp.
- Đối với nghiên cứu khoa học và giảng dạy: Là tài liệu tham khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành luật tại các cơ sở đào tạo luật học về môn học Luật Tố tụng hình sự, Tư pháp hình sự so sánh và Lý luận về Nhà nước và pháp luật.
- Đối với hoạt động thực tiễn tư pháp: Cung cấp cơ sở lý luận và kỹ năng nhận diện chức năng tố tụng cho Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên và Luật sư thuộc Liên đoàn Luật sư Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng tranh luận, bảo đảm quyền bào chữa và hạn chế oan sai.
- Phần đáng tham khảo nhất: Khung lý thuyết 4 tiêu chí phân loại mô hình TTHS tại Chương 2 và hệ thống giải pháp thể chế tiếp thu tố tụng tranh tụng tại Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Tác giả luận án định nghĩa "mô hình tố tụng hình sự" như thế nào?
Trả lời: Theo luận án, mô hình TTHS là sự khái quát cao những đặc trưng cơ bản, phổ biến, phản ánh cách thức tổ chức hoạt động TTHS, cách thức tìm đến sự thật khách quan của vụ án, qua đó quyết định địa vị tố tụng của các chủ thể tố tụng, tính chất của mối quan hệ giữa các chủ thể tố tụng và trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hình sự.
2. Luận án xác định mô hình tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành thuộc loại mô hình nào?
Trả lời: Tác giả nhận định mô hình TTHS Việt Nam hiện hành thuộc mô hình TTHS pha trộn thiên về thẩm vấn. Mặc dù đã có sự tiếp thu một số yếu tố tranh tụng tại phiên tòa, vai trò chủ đạo trong việc thu thập chứng cứ và chứng minh tội phạm vẫn tập trung ở các cơ quan tiến hành tố tụng của Nhà nước, và quá trình xét xử vẫn phụ thuộc lớn vào hồ sơ vụ án được lập sẵn.
3. Bốn tiêu chí cốt lõi nào được luận án xác lập để phân loại các mô hình tố tụng hình sự?
Trả lời: Bốn tiêu chí gồm: (1) Tính chất của TTHS; (2) Mục tiêu của TTHS và cách thức đạt đến mục tiêu; (3) Các chức năng cơ bản của TTHS và địa vị pháp lý của các chủ thể trong việc thực hiện các chức năng cơ bản; (4) Chứng cứ và sự tồn tại của hồ sơ vụ án hình sự.
4. Những bất cập lớn nhất trong việc phân định chức năng của Tòa án theo BLTTHS năm 2003 được luận án chỉ ra là gì?
Trả lời: Luận án chỉ rõ BLTTHS năm 2003 vẫn giao cho Tòa án các thẩm quyền thuộc chức năng buộc tội, làm lẫn lộn với chức năng xét xử, bao gồm: Tòa án có trách nhiệm chứng minh tội phạm (Điều 10), có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự tại phiên tòa (Điều 104), và có quyền tiếp tục xét xử ngay cả khi Viện kiểm sát đã rút toàn bộ quyết định truy tố (Điều 221).
5. Điểm khác biệt căn bản giữa hai mô hình lý thuyết của Herbert Packer được luận án phân tích là gì?
Trả lời: Mô hình kiểm soát tội phạm (Crime Control Model) ưu tiên mục tiêu trấn áp tội phạm nhanh chóng, dứt khoát, dựa trên "tội thực tế" và giảm thiểu thủ tục cản trở. Ngược lại, Mô hình tố tụng công bằng (Due Process Model) ưu tiên bảo vệ quyền con người, ngăn ngừa lạm quyền từ Nhà nước, dựa trên "tội pháp lý" thông qua quy trình tranh tụng chính thức và chặt chẽ.
Kết luận
Luận án tiến sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Đình Nhâm đã nghiên cứu có hệ thống cơ sở lý luận về mô hình tố tụng hình sự, xác lập khung 4 tiêu chí khoa học để phân loại và so sánh các mô hình tố tụng điển hình trên thế giới. Dựa trên việc phân tích các quy định pháp luật từ năm 1945 đến nay cùng số liệu thực tiễn tư pháp, luận án khẳng định mô hình tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành là mô hình pha trộn thiên về thẩm vấn, chỉ rõ những hạn chế về phân định chức năng và bảo đảm quyền con người. Quán triệt đường lối cải cách tư pháp của Đảng và các nguyên tắc hiến định trong Hiến pháp năm 2013, tác giả đã đề xuất hệ thống giải pháp thể chế và lập pháp đồng bộ nhằm tiếp thu hợp lý các yếu tố của tố tụng tranh tụng. Công trình cung cấp nguồn tư liệu học thuật và căn cứ khoa học quan trọng phục vụ quá trình hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.