Chương 1: Những vấn đề lý luận và lßch sử quyền bào chữa cāa bß cáo trong tố tÿng hình sự Chương 2: Thực trạng quy đßnh cāa pháp luật và áp dÿng các quy đßnh pháp luật về quyền bào chữa cāa bß cáo trong tố tÿng hình sự nhìn từ thực tißn thành phố Hà Nái. Chương 3: Mát số giải pháp, kiến nghß nhằm hoàn thián pháp luật và nâng cao hiáu quả thực tißn áp dÿng các quy đßnh về quyền bào chữa cāa bß cáo nhìn từ thực tißn Thành phố Hà Nái. 5 Ch°¡ng 1 NHĄNG VÂN ĐÀ LÝ LU¾N VÀ LÞCH SĂ QUYÀN BÀO CHĄA CĂA BÞ CÁO TRONG TÞ TĀNG HÌNH SĆ 1.1 Mßt sß vÃn đÁ lý lu¿n chung vÁ quyÁn bào chąa căa bß cáo trong tß tāng hình sć 1.1 Khái niệm, đặc điểm của quyền bào chữa của bị cáo trong tố tụng hình sự Quyền con ngưßi là mát trong những thành tựu vĩ đại cāa nhân loại, có giá trß và ý nghĩa to lớn đối với tất cả mái ngưßi trên thế giới. Quyền con ngưßi được ghi nhận á hầu hết các văn bản pháp lý quốc tế như: Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (năm 1966); Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (năm 1966); Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền (năm 1948).
Quyền con ngưßi không hoàn toàn tuyát đối đối với mßi con ngưßi cÿ thể, nó có thể bß giới hạn theo quy đßnh cāa luật pháp nhằm đảm bảo quyền con ngưßi cāa mái ngưßi, giá trß đạo đức, lợi ích chung cāa cáng đồng, xã hái. Mát trong những quyền con ngưßi cơ bản là quyền tự bảo vá mình trước bất kỳ sự xâm phạm nào. Khẳng đßnh con ngưßi có thể phòng ngừa, ngăn chặn hay chống lại bất kỳ hành vi nào xâm phạm tới há trong khuôn khổ pháp luật. Pháp luật Viát Nam thừa nhận và tôn tráng các quyền con ngưßi cāa mái ngưßi dân.
Điều 14 Hiến pháp nước Cáng hòa Xã hái Chā nghĩa Viát Nam năm 2013 khẳng đßnh: <à nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con ngưßi, quyền công dân về chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật=. Và Hiến pháp cũng quy đßnh rõ: <Quyền con ngưßi, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trưßng hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng=. TTHS dưới góc đá mát ngành luật đác lập trong há thống pháp luật quốc gia đã cÿ thể hóa các quy đßnh về quyền con ngưßi, quyền công dân trong Hiến pháp năm 2013 nhằm bảo đảm thực hián quyền con ngưßi trong TTHS. TTHS là quá trình áp dụng pháp luật hình sự.
[52, tr18] Quá trình áp dÿng đó là viác thông qua 6 cưỡng chế để bảo vá lợi ích Nhà nước, lợi ích xã hái và phòng chống tái phạm. Có thể hiểu TTHS là quá trình thực hián các quy đßnh mang tính chất hình thức, trình tự, thā tÿc bắt buác trên cơ sá pháp luật hình sự nhằm xác đßnh mát hành vi nào đó có phải tái phạm hay không, xác đßnh cá nhân, pháp nhân không có tái hay có tái. Ngưßi bß tình nghi phạm tái hay ngưßi bß buác tái là mát bên trong mối quan há với bên buác tái là đại dián các Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tÿng, có nghĩa vÿ chứng minh hành vi phạm tái cāa ngưßi bß tình nghi, ngưßi bß buác tái. Các Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tÿng bằng kiến thức pháp luật, chuyên môn được giao nhiám vÿ buác tái, chứng minh viác buác tái cāa mình là chính xác nhằm đấu tranh phòng chống tái phạm.
Tuy nhiên ngưßi bß tình nghi, ngưßi bß buác tái chưa thể bß coi là có tái khi chưa có bản án có hiáu lực pháp luật cāa TA. <Để chống lại xu hướng áp đặt của các Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, pháp luật đã dành cho ngưßi bị buộc tội quyền tự bảo vệ mình, phản bác sự buộc tội, chứng minh mình vô tội trước các cáo buộc của các Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, đó chính là quyền bào chữa=[59, tr. Hián nay, quyền bào chữa được hiểu bao gồm hai quyền là quyền TBC và quyền nhß ngưßi khác bào chữa. Cũng chưa có mát khái niám pháp lý nào về <quyền TBC và nhß NBC= cāa ngưßi bß buác tái nói chung và cāa BC nói riêng trong TTHS.
Viác đưa ra khái niám quyền TBC và nhß NBC cāa ngưßi bß buác tái nói chung và cāa BC nói riêng trong TTHS là cần thiết nhằm hiểu rõ khái niám này trong xây dựng pháp luật và trong thực tißn áp dÿng pháp luật. Trong nghiên cứu lý luận, các nhà nghiên cứu đã đưa ra mát số quan điểm về khái niám quyền bào chữa trong TTHS nhưng vẫn chưa có sự thống nhất và còn nhiều tranh luận. Quan điểm thứ nhất āng há theo quan điểm cāa nhà luật hác Xô viết Stragovic M.S cho rằng: <Quyền bào chữa là tổng hoà các hành vi tố tụng hướng tới việc bác bỏ sự buộc tội và xác định bị can (bị cáo) không có lỗi hoặc nhằm làm giảm trách nhiệm của bị can (bị cáo)= và <Quyền bào chữa của bị can (bị cáo) là tất cả các quyền năng tố tụng mà pháp luật quy định cho bị can (bị cáo) để bảo vệ khỏi mọi sự buộc tội và được bị can (bị cáo) sử dụng để bác bỏ sự buộc tội, để đưa 7 ra các lý lẽ và chứng cứ trong việc biện minh hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm của mình=.196] Quan điểm thứ hai cho rằng, quyền bào chữa được hiểu ráng hơn, nó không chỉ dừng lại á viác bác bỏ sự buác tái và xác đßnh bß can không có lßi hay làm giảm trách nhiám cāa bß can mà nó còn được thể hián trong cả viác đảm bảo các quyền và lợi ích được pháp luật bảo vá cāa bß can kể cả khi chúng không trực tiếp liên quan tới viác làm giảm trách nhiám cāa bß can trong vÿ án.5] Quan điểm thứ ba cho rằng, quyền bào chữa còn thuác về ngưßi bß tình nghi phạm tái, ngưßi bß kết án, bß hại, bß đơn dân sự, nguyên đơn dân sự và ngưßi đại dián hợp pháp cāa há hay NBC, giám đßnh viên, nhân chứng. nếu quyền và lợi ích cāa há bß xâm phạm.
Quan điểm thứ tư theo PGS.TS Phạm Hồng Hải cho rằng: <Quyền bào chữa trong BLTTHS là tổng hoà các hành vi tố tụng do ngưßi bị tạm giữ, bị can, BC, ngưßi bị kết án thực hiện trên cơ sá phù hợp với quy định của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự của mình trong VAHS=.34] Quan điểm thứ năm cho rằng: <Quyền bào chữa của bị can, BC là tổng thể các quyền mà pháp luật quy định bị can, BC có thể sử dụng nhằm bác bỏ một phần hay toàn bộ sự buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho họ.5] Quan điểm thứ sáu cho rằng: <Quyền bào chữa là quyền của ngưßi bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khái tố, điều tra, truy tố, xét xử dùng để bảo vệ trước các chủ thể tiến hành tố tụng từ thßi điểm bị buộc tội đến khi có quyết định của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng về việc có tội hay không có tội.7] Quan điểm thứ bảy cho rằng: <Quyền bào chữa của ngưßi bị buộc tội trong TTHS là quyền của ngưßi bị bắt, bị tạm giữ, bị can, BC thực hiện trên cơ sá phù hợp với quy định của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự trong VAHS hoặc để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình.10] 8 Quan điểm thứ tám dựa trên cơ sá BLTTHS năm 2015 hián hành thì không chỉ có ngưßi bß tạm giữ, bß can, BC có quyền tự mình bào chữa và nhß NBC mà còn má ráng quyền cho cả ngưßi bß giữ trong trưßng hợp khẩn cấp, ngưßi bß bắt. Như vậy, khái niám quyền bào chữa trong TTHS đã được hiểu rất khác nhau. Tuy nhiên, nếu cho rằng quyền bào chữa chỉ thuác về bß can, BC như quan điểm thứ nhất, thứ hai và thứ năm thì rất hẹp, không đảm bảo được đầy đā quyền TBC và NBC cho ngưßi bß buác tái trong thßi gian há bß bắt, bß tạm giữ. Nếu cho rằng quyền bào chữa còn thuác về ngưßi bß tình nghi phạm tái, ngưßi bß kết án, ngưßi bß hại,.
như quan điểm thứ ba, thứ tư thì rất ráng và không hợp lý, vì: Thứ nhất, nái dung cāa quyền bào chữa là quyền chứng minh sự vô tái hoặc phạm tái nhẹ hơn, do đó, quyền này chỉ thuác về ngưßi bß buác tái. Thứ hai, ngưßi bß hại, nguyên đơn dân sự… là ngưßi bß thiát hại về thể chất, tinh thần hoặc vật chất, há không bß Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tÿng buác tái, do đó, quyền bào chữa không thuác về há. Há chỉ có quyền khai báo những gì há biết về hành vi phạm tái (buác tái) và chứng minh những thiát hại liên quan đế há do hành vi phạm tái gây ra, vì vậy, quyền TBC và nhß NBC luật TTHS không đặt ra đối với các chā thể này. Thứ ba, ngưßi bß kết án là ngưßi đã được TA tuyên bố là có tái bằng bản án đã có hiáu lực pháp luật.
Tôi cho rằng, về cơ bản, quyền TBC và nhß NBC thì luật TTHS cũng không đặt ra đối với ngưßi bß kết án, trừ trưßng hợp đặc biát và chỉ trong trưßng hợp cần thiết khi bản án, quyết đßnh đã có hiáu lực pháp luật được xem xét lại theo thā tÿc giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Thā tÿc giám đốc thẩm, tái thẩm là thā tÿc đặc biát, là thā tÿc TA xem xét lại bản án, quyết đßnh đã có hiáu lực pháp luật chứ không phải là mát cấp xét xử. Tuy nhiên, để bảo đảm cho HĐXX ra quyết đßnh giám đốc thẩm hoặc tái thẩm mát cách đúng đắn, khoản 2 Điều 383 BLTTHS năm 2015 quy đßnh <Trưßng hợp xét thấy cần thiết hoặc có căn cứ sửa một phần bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, TA phải triệu tập ngưßi bị kết án, NBC … tham gia phiên tòa giám đốc thẩm=. Như vậy, á thā tÿc đặc biát này, quyền TBC 9 và nhß NBC cāa ngưßi bß kết án chỉ được đặt ra trong trưßng hợp cần thiết và nếu há được TA triáu tập.