Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TẠM GIỮ 1. Khái niệm biện pháp ngăn chặn tạm giữ 1. Khái niệm biện pháp ngăn chặn Tạm giữ là một trong những biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự. Vì vậy, trước khi đưa ra khái niệm biện pháp tạm giữ, vấn đề đặt ra là phải làm sáng tỏ khái niệm, bản chất của biện pháp ngăn chặn nói chung.
Cho đến nay trong luật thực định (BLTTHS) không có quy phạm định nghĩa quy định khái niệm các biện pháp ngăn chặn. Mặc dù vậy, trong khoa học luật tố tụng hình sự có nhiều quan niệm khác nhau về biện pháp ngăn chặn như: Từ điển Luật học giải thích biện pháp ngăn chặn là: “Biện pháp cưỡng chế về mặt tố tụng hình sự áp dụng khi có đủ căn cứ đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang để ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án” [ 24, tr. Từ điển đã xác định đúng đối tượng và mục đích áp dụng, nhưng không chỉ ra chủ thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn. Quan điểm khác cho rằng: “Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự do người có thẩm quyền áp dụng đối với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người truy nã hoặc người khác nhằm ngăn chặn tội phạm họ đang thực hiện, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh hoặc có hành động cản trở điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự khi có những căn cứ theo quy định của BLTTHS” [12, tr.
7 Quan điểm này đã đúng khi chỉ ra bản chất cưỡng chế tố tụng hình sự của biện pháp ngăn chặn; đối tượng áp dụng gồm: bị can, bị cáo, người bị truy nã hoặc người khác; mục đích áp dụng là nhằm ngăn chặn tội phạm đang được thực hiện, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động cản trở điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Một quan điểm nữa cho rằng: “Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong phạm vi thẩm quyền của mình hoặc người có thẩm quyền áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị kết án hoặc đối với người chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang) theo những trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định nhằm ngăn chặn tội phạm, bảo đảm cho việc tiến hành hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án”.Quan điểm này đã chỉ ra khá đầy đủ và cụ thể bản chất, chủ thể, đối tượng, trình tự thủ tục áp dụng và mục đích áp dụng. Như vậy, những quan niệm trên đã nêu được nhiều khía cạnh khác nhau của biện pháp ngăn chặn và tương đối thống nhất khi đề cập đến bản chất pháp lý của những biện pháp này là biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự; đối tượng áp dụng gồm; bị can, bị cáo và người chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang), mục đích áp dụng là nhằm ngăn chặn tội phạm và bảo đảm cho việc tiến hành hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Tuy nhiên, ở khía cạnh này hay khía cạnh khác, các quan điểm nêu trên chưa thật sự chỉ ra đầy đủ tất cả các đặc điểm của biện pháp ngăn chặn.
Cho đến nay, trong BLTTHS năm 2003, thậm chí cả BLTTHS năm 2015 vẫn chưa có quy phạm định nghĩa quy định khái niệm biện pháp ngăn chặn. Bởi vậy, vẫn còn có những quan điểm khác nhau về vấn đề này là điều dễ hiểu. 8 Để có thể đưa ra khái niệm biện pháp ngăn chặn thật sự khoa học, chúng tôi cho rằng nội hàm khái niệm cần nêu ra được một cách chính xác và đầy đủ những nội dung sau: bản chất pháp lý, căn cứ áp dụng, chủ thể có thẩm quyền áp dụng, đối tượng bị áp dụng và mục đích áp dụng. Về bản chất pháp lý: biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự thể hiện việc hạn chế quyền con người bị áp dụng.
Đó có thể là quyền tự do cá nhân (tự do thân thể, tự do đi lại, tự do cư trú) hoặc quyền về tài sản, v.v… Việc hạn chế những quyền này để kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội mà chủ thể đang thực hiện, ngăn ngừa họ phạm tội mới, trốn tránh pháp luật hoặc có hành vi gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử cũng như để bảo đảm thi hành án. Về chủ thể áp dụng: Chỉ những cơ quan người có thẩm quyền, tiến hành tố tụng hình sự mới được áp dụng Về đối tượng bị áp dụng: theo quy định của BLTTHS năm 2003 thì đối tượng bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bao gồm: bị can, bị cáo và người có liên quan đến việc thực hiện tội phạm chưa bị khởi tố. Theo quy định của BLTTS năm 2015, đối tượng bị áp dụng biện pháp ngăn chặn là người bị buộc tội (Điều 109, khoản 1). Người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (điểm đ, khoản 1 Điều 4).
Về căn cứ áp dụng: Theo quy định của Điều 79 BLTTHS năm 2003 và Điều 109 BLTTHS năm 2015 thì chỉ định áp dụng biện pháp ngăn chặn khi có căn cứ sau: + Khi có căn cứ xác định một người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm hoặc đang thực hiện tội phạm. Trong trường hợp đang chuẩn bị thực hiện tội phạm thì tội phạm đó phải thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; + Khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ tiếp tục phạm tội; 9 + Khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử; + Khi cần bảo đảm thi hành án. Về mục đích áp dụng: là ngăn chặn tội phạm; ngăn ngừa hành vi cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và bảo đảm thi hành bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Từ sự phân tích ở trên có thể đưa ra khái niệm biện pháp ngăn chặn như sau: “Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc người khác do pháp luật tố tụng hình sự quy định, áp dụng đối với người bị buộc tội khi có căn cứ xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm; đang thực hiện tội phạm, sẽ tiếp tục phạm tội hoặc chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc cần bảo đảm thi hành án nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa hành vi cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và bảo đảm thi hành bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”.
Khái niệm biện pháp tạm giữ Tạm giữ là một trong những biện pháp ngăn chặn được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Nhưng trong cả ba BLTTHS năm 1988, năm 2003 và năm 2015 đều không có quy phạm định nghĩa về khái niệm tạm giữ. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 48 BLTTHS năm 2003 và khoản 1 Điều 59 BLTTHS năm 2015 đã chính thức ghi nhận về mặt pháp lý khái niệm người bị tạm giữ, theo đó: “Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ” (khoản 1 Điều 48 BLTTHS năm 2003); “Người bị tạm giữ là bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc 10 người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ” (khoản 1, Điều 59 BLTTHS năm 2003). Trong khoa học luật tố tụng hình sự, có một số quan điểm khác nhau về khái niệm tạm giữ.
Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn do cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền quyết định tước tự do thân thể trong thời hạn nhất định đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang nhằm bảo đảm cho Cơ quan điều tra có thời gian tiến hành các hoạt động điều tra ban đầu để có cơ sở quyết định khởi tố bị can, tạm giam hoặc trả tự do người bị bắt” [8, tr. Quan điểm thứ hai cho rằng: “Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự thể hiện việc người hoặc cơ quan có thẩm quyền quyết định tước tự do với thời gian ngắn đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc người có lệnh truy nã nhằm ngăn chặn tội phạm, xác minh để quyết định việc truy cứu trách nhiệm hình sự (khởi tố bị can) đối với họ” [6, tr. Quan điểm thứ ba cho rằng: “Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do người có thẩm quyền của cơ quan điều tra và các cơ quan khác do pháp luật quy định áp dụng, tạm thời hạn chế tự do thân thể trong thời hạn ngắn đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã, nhằm ngăn chặn tội phạm, hành vi cản trở hoạt động điều tra của người bị tạm giữ, bảo đảm cho Cơ quan điều tra có thời gian tiến hành các hoạt động điều tra ban đầu để trên cơ sở đó đưa ra các quyết định tố tụng như khởi tố bị can, tạm giam, áp dụng biện pháp ngăn chặn khác hoặc trả tự do cho họ” [25, tr. Có thể thấy cả ba quan điểm nói trên đều có hạt nhân hợp lý.
Quan điểm thứ nhất đã nêu được đầy đủ mục đích của việc áp dụng biện pháp tạm 11 giữ; quan điểm thứ hai đã nêu được chủ thể áp dụng biện pháp tạm giữ; Quan điểm thứ ba đã nêu được chính xác bản chất pháp lý, chủ thể áp dụng, đối tượng bị áp dụng và mục đích áp dụng. Tuy nhiên, những quan điểm này vẫn còn những hạn chế, bất cập nhất định.