CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỂ CHUNG VỀ GIỚI HAN XÉT XỬ TRONG TO TUNG HÌNH SU 1.I- Khái niêm øiới han xét xử trong tố tung hình su I.1- Khái niêm chung về øiới han xét xử Về mặt lý luận quyền lực nhà nước của bất kỳ Nhà nước nào cũng đều bao gồm ba loại quyền năng: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Quyền lực nhà nước được thực hiện thông qua bộ máy nhà nước bao gồm các loại cơ quan nhà nước khác nhau. Mỗi cơ quan nhà nước tham gia vào việc thực hiện quyền lực nhà nước ở những phạm vi và mức độ rất khác nhau. Tuỳ thuộc vào cách thúc tổ chức nhà nước và các điều kiện.
hoàn cảnh cụ thé của mỗi quốc gia trong tùng giai đoạn lich sử, việc tổ chức taực hiện quyền lực nhà nước ở mỗi quốc gia rất khác nhau nhưng đều được tiến hành theo một trong hai nguyên tắc cơ bản: tập quyền hoặc phân quyền. ở các nước theo nguyên tac tập quyền, quyền lực nhà nước không bi phân chia thành các quyền năng độc lập ma được tập trung thống nhất trong tay của một cơ quan nhà nước, thậm chí trong tay của một người (vua, quốc vương,vv. ở các nước theo nguyên tắc phân quyền (hay còn gci là tam quyền phân lập), quyền lực nhà nước được phân chia thành ba quyên năng độc lập: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Mỗi quyền năng nay được giao cho một loại cơ quan aha nước thực hiện: quyền lập pháp thuộc về Nghị viện ( Quấc hội), quyền hành pháp thuộc về Chính phủ (Tổng thống) và quyền tư pháp thuộc về Toà án.
Sự phân quyền này nhằm mục đích để các cơ quan nhà nước kiểm tra, giám sát và chế ước lẫn nhau, chống lại sự lạm dụng quyền lực. Khi xây dựng học thuyết về Nhà nước kiểu mới, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê nin đã kế thừa và phát triển sác hạt nhân hợp lý của cá: học thuyết chính trị trước đó về tổ chức quyền lực Nhà nước và trên cơ sở tông kết kinh nghiêm, thực tiễn xây dựng nhà nước vô sản, để đưa ra những luận điểm khoa học về tổ chức quyền lực nhà nước của Nhà nước kiểu mới - Nhà nước XHCN. Các luận điểm này đã đặt nền móng hình thành một nguyên tắc mới về tổ chúc quyền lực nhà nước - nguyên tắc tập quyền XHCN. Theo nguyên tắc này, quyền lực nhà nước là thống nhất, không thê phan chia và thuộc về nhân dan.
Nha nước cộng hoà XHCN Việt Nam cũng được tổ chức theo nguyên tắc tập quyér. Nguyên tắc nay được ghi nhật tại điều 2 Hiến pháp 1992 của nước ta; “Nhà nước cộng hoà XHCN Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nhân dân trao quyền lực này cho cơ quan đại điện của mình là Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất do nhân dân trực tiếp bầu ra.
Tuy nhiên Quốc hội không thể một mình thực hiện được toàn bộ quyền luc Nhà nước và tất cả các chức năng của nhà nước mà uỷ quyền cho các cơ quan nhà nước khác (Chính phủ, Tou án, Viện kiểm sát.) thực hiện một phần quyền lực nhà nước: quyền hành pháp, quyền tư pháp. Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất trực tiếp thực hiện quyền lập pháp và quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước. Quyền hành pháp là hoạt động quản lý, điều hành xã hội được giao cho chính phủ và các cơ quan trực thuộc nhằm đưa các nghị quyết, quyết định của Quốc hội, pháp luật, đường lối và chính sách của Nhà nước vào cuộc sống. Quyền tư pháp (hay còn gọi là chúc năng tư pháp, theo nghĩa rộng bao gồm ca hoạt động xét xử của Toà án và hoạt động của các cơ quan Nhà nước khác có liên quan trực tiếp đến hoạt động xét xử như điều tra, kiểm sát, thi hành án, bố trợ tư pháp.
Trong đó Toà án 10 là biểu hiện tập trung của quyền tư pháp - nơi mà kết quả của hoạt động điều tra, công tố, bào chữa. được kiểm tra, xem xét một cách công khai thông qua thủ tục tố tung do luật định để đưa ra những phán quyết cuối cùng mang tính chất quyền lực nhà nước, nơi phản ánh một cách day đủ và sâu sắc nhất nền công lý của xã hội ta. Bởi vậy quyền tư pháp còn được hiểu theo nghiã hẹp chỉ bao gồm quyền xét xử của Toà án. Môi loại cơ quan nhà nước có chức năng, nhiệm vụ khác nhau và hoạt động trong một Tinh vuc nhất định do pháp luật qui định.
Đây là sự phân công trong hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước nhằm tạo ra một cơ chế bao dam cho bộ máy nhà nước hoạt động có hiệu qua, han chế các biếu hiện quan liêu, lạm quyền, bảo đảm cho nhân dân thực hiện được quyền làm chủ của mình. Để cho các cơ quan nhà nước có thể hoàn thành được chức năng, nhiệm vụ của mình, Nhà nước qui định trong pháp luật phạm vi hoạt động và quyền năng pháp lý cụ thể của mỗi cơ quan nhà nước. Pham vi hoạt động và quyền năng pháp lý mà pháp luật qui định cho một cơ quan nhà nước được gọi là thẩm quyền của cơ quan đó.Anghen khẳng định rằng phân quyền xét cho cùng không phải là cái gì khác mà là sự phân công lao động được áp dụng trong cơ chế nhà nước nhằm một mục đích đơn giản là kiểm tra hoạt động của các cơ quan nhà nước “6 20), ở nước ta, Toà án là một loại cơ quan nhà nước được Quốc hội giao cho trực tiếp thục hiện quyền tư pháp có chức năng xét xử các vụ án để bảo vệ pháp luật và bảo đảm công bằng xã hội. Khác với chức năng của các cơ quan nhà nước khác, xét xử là chức năng đặc thù của Toà án và chỉ có Toà án mới có quyền xét xử các vụ án.
Chức năng xét xử của Toà án được ghi nhận trong tất ca 4 bản Hiến pháp của nước ta (Điều 63 Hiến pháp 1946, Điều 97 Hiến pháp 1960, Điều 128 Hiến pháp 1980 và Điều 127 Hiến pháp 1992) và duoc khẳng định trong các văn bản pháp luât khác. “Toa án nhân 11 dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự và các Toà án khác do lật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam” (Điều 127 Hiến pháp, Điều 1 Luật tổ chức Toà án nhân dan 1992). Sự khác nhau cơ bản giữa việc xét xử của Toà án với việc áp dụng eae biện pháp xử lý của các cơ quan hành chính thé hiện trước hết ở chỏ khi xét xử các vụ án, Toà án không chỉ có quyền áp dụng các chế tài bình thường mà còn có quyền áp dụng các hình phạt đối với người phạm tội kể cả hình phạt nghiêm khắc nhất là tử hình. “Không ai có thể bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản kết tội của Toà an đã có hiệu lực pháp luật” (Điều 72 Hiến pháp, Điều 10 Bộ luật t6 tụng hình sự).
Sự khác nhau cơ bản ' này còn thể hiện ở chỗ việc xét xử của Toà án được tiến hành theo các trình tự, thủ tục hết súc chặt chẽ được qui định trong pháp luật tố tụng và các phán quyết nhân danh nhà nước về các vụ án của Toà án (bản án và quyết định) luôn có hiệu lực cao hơn các quyết định xử jý hành chính. Với những đặc điểm nêu trên, có thể nói xét xử là một dạng đặc biệt của hoạt động nhà nước. Quyền xét xử các vụ án nói chung, và các vụ án hình sự nói riêng, chỉ thuộc về các Toà án và chỉ có thể do Toà án thay mặt Nhà nước thực hiện. Để bảo đảm cho Toà án có thể hoàn thành được chức năng xét xử, Nhà nước đã giành cho Toà án những quyền hạn nhất định.
Quyền hạn của Toà da được hiểu là khả năng mà pháp luật cho phép Toa án được xem xét và quyết định các vấn đề cụ thể về vụ án trong một phạm vi, giới hạn xác định .Giới hạn , phạm vi xét xử được pháp luật quy định khác nhau ở mỗi trình tự khác nhau. ở trình tự xét xử sơ thám giới han của việc xem xét và quyết định va án của tòa ấn được gọi là giới hạn xét xử. ˆ trình tự phúc thâm ,giám đốc thẩm ,tái thấm giớ han của việc xem xét và quyết định vụ án (khi có kháng cáo ,kháng nghị ) được gọi là phạm vi xét xử phúc thẩm 12 hoặc phạm vi giám đốc thẩm. Vậy giới hạn xét xử hay phạm vi xét xu, và chúng là đồng ahat hay khác biệt xét về mặt học thuật là vấn dé mà ucng luận án này chưa có điều kiên làm sáng to.
Mục đích nghiên cứu của đề tài dược trình bay trong luận án này là ở các trình tự xét xử sơ thẩm , phúc thầm và trình tự xét lại bản án có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện có sai lầm bị kháng nghị (giám đốc thẩm ) hoặc phát hiện có tình tiết mới làm thay đổi bản chất vu án ( tái thẩm ) , tòa án được xét xử ,được xem xét những nội dung nào của vụ án và được quyền đưa ra những phán quyết như thế nào. nghiên cứu những qui định đó của pháp luật về vấn dé nay để thấy được những điều hợp lý và chưa hợp lý , đưa ra những kiến nghị cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử của tòa án. Vì vậy việc gọi tên đề tài là " Giới hạn xét xử.” ,cũng chỉ là cách gọi quy ước dùng cho tất: ca các trình tự sơ thẩm , phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Các Toà án đều thực hiện chức năng xét xử nhưng mỗi cấp toà án tham gia vào việc thực hiện chức nang này ở những mức độ và phạm vi Khác nhau.
Boi vậy quyền hạn của mỗi cấp Toà án và giới hạn xét xử của từng cấp được pháp luật qui định cũng rất khác nhau. Theo cấp xét xử của Toà án có thể phân giới hạn xét xử thành giới hạn xét xử sơ thẩm, giới hạn xét xử phúc thầm, giới hạn xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm.2- Khái niêm øiới han xét xử trong tố tung hình sư. ` Giới hạn xét xử là một chế định rất quan trọng bao gồm nhiều nội dung phức tạp và có liên quan đến nhiều chế định khác của tố tụng hình sự.