Chương 1: MỘT SỐ VAN BE LY LUẬN VE NGUYEN TAC SUY DOAN VÔ TỘI TRONG TO TUNG HÌNH SỰ 1. Khái niệm, nội dung và ý nghia của nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự LLL Khái niệm nguyên tắc suy đoán vô Dé có thé lm sáng tỏ khái niệm nguyên tắc SDVT, trước hết cân hiểu. 16 khái niêm nguyên tắc Thuật ngữ “gu én tắc ” bat nguồn từ tiếng La tỉnh là “primeiphun” có ba nghĩa: 1) luân điểm cơ ban, luân điểm gốc của học thuyết, 2) niềm tin, quan điểm đổi với sự vật, 3) nguyên lý cầu trúc vả hoạt động của dung cụ, thiết bi? Theo từ điển tiéng Việt, nguyên tắc được hiểu là “điền cơ bẩn định ra. nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc idm"? Vì vậy, có thé hiểu.
nguyên tắc của lu tổ tụng hình sự được hiểu là những quan điểm, tư tring chỉ đạo hoạt động sây dựng và áp dụng pháp uất tổ tụng hình su. Đó la kim chi nam cho mọi hoạt đồng tổ tung hình sự. Nguyên tắc không chi định hướng cho hoạt đồng tổ tung hình sự mã trước hết định hướng cho việc xây dựng pháp luật trong thực tiễn Nguồn gốc của thuật ngữ “øy đoán” bất nguồn từ tiếng La tinh 'praesuirnptio ” bay trong tiéng anh “presump” được hiểu là coi van để, hiện. tương nào đó là đúng đắn cho đến khi chưa có lý do bác bỏ van để, hiện tượng đó.
Luật học không sử dụng “2resimp” theo nghĩa suy đoản, theo từ điển ‘Longman nêu rõ trong lĩnh vực luật, “presuznp“ được hiểu là “chấp nhận một điều gì đồ ia ding cho đến kit nó được cinfng minh la không ding”. Day chính là khái niệm giã định, giã thiết trong tiếng Viet. Như vậy với cách sử dụng thuật ngữ “prestonp ” đã xuất hiện đến hai ý kiến với ý nghĩa khác nhau, ˆNgyễn Mi Long, 2010), “Neon esp dnd song it i ng Hồ sự P2 Trân ‘uine hộthọc, Khoa Luật Đạt học quốc ga Ha Nột #15 "Hoang Phê (Củ bền), 00, Tan Tông Ft, ob Đà Nẵng 698 " “suy đoán” hoặc “gid đinh”. Dưới góc ngữ nghia tiếng Việt thi đây là hai thuật ngữ hoàn toàn khác nhau.
Việc “Suy đoán” đòi hỗi phải có thông tin, dtt kiện, tai liệu, chứng cử dé khiến con người tin vao một điều gi đó. Còn giả định được hiểu la “cho một cái gì đó là có thật dé làm căn cứ a tiễn hành: làm cái gi đó "Thông thưởng, suy đoán la dua vào căn cử, cơ sử nhất định để đoán ra hướng phát triển, hành đông, hành vi hay hâu quả của sư việc. Trong pháp uật, suy đoán là một trong những kỹ thuật lập pháp, là suy đoán pháp lý vẻ những hanh vi có thể phat sinh nên chịu sự rang buộc của pháp luật. Âu, tư tưởng về SÐVT đầu tiên được thể hiện trong tác phẩm “76? phạm va Hành phat” năm 1764 của Bekaria (người Y).
Cách mang tư sin Pháp trong Tuyên ngôn quyển con người và công dân năm 1789 đã ghi nhân tư tưởng này với tư cách là một nguyên tắc pháp lý. Tuy nhiên, chỉ đến khi cách mang tư sản Pháp năm 1789 bùng nỗ, tư tưởng nảy mới được ghi nhân như 1a một nguyên tắc ola pháp luật. Tuyến ngôn nhân quyển va dân quyển của Pháp (26/8/1789) long trọng tuyên bô: “Moi người được coi là vô tội cho đồn khi bi tuyên bố phạm tội. Nếu xét thay can thiét phải bắt giữ thi mot sự cưỡng bức.
vượt quá mức cần thiét cho phép đều bị pháp luật xử i nghiêm khắc “t. Sau nay, tư tưởng về SĐVT ngày cảng có tính quốc tế khi được thừa nhân trong nhiều điều ước quốc té ma nhiễu quốc gia ký kết hoặc gia nhập. Trong tiếng Anh, thuật ngữ SPVT được dịch từ “presumption of ‘innocence’ trong cc tai liệu khoa học hay cum từ “the right to be prestmedi innocentTM trong các van kiện quốc té về quyên con người. Chang hạn, Tuyến.
ngôn phổ quát vé quyền con người 1948 đưc quy định tai khoản 1, Điều 11, và tương tự, Công ước quốc té vẻ các quyền dân sự và chính trị 1966 quy Đền 9, Ngôn ngôn in ap dvi in nn ci Pháp năm 1789 định tại khoản 2 Điều 14° ‘Theo Tir điển Luật học, SĐUT là một nguyên tắc cơ bản và quan trong của TTHS, theo đó, bi can, bi cáo được coi là vô tôi, không phải chịu trách nhiệm hình sự khi lỗi của người đó chưa được chứng minh theo hình tự luật định và chưa có ban án kết tội của Toa án đã có hiệu lực pháp luật. Hiện nay, cũng có nhiễu quan điểm khác nhau của các nha luật học về ‘SDVT, song tựu lại có thé thay 02 nhóm quan điểm. MGt là, nhóm quan điểm không thừa nhận: Những nhà nghiên cứu luật học trong nhóm nay cho rang nếu cá nhân không có lỗi trong các sự việc cụ thể thì hoạt động điều tra vả xét xử không thể diễn ra. Luc nảy, việc suy đoán.
mang tinh chất có tôi bởi nếu đã không có lỗi thì đã không có việc truy cửu ‘rach nhiệm hình sự đối với hành vi của cả nhân đó, Hay nói cách khác, người ti buộc tội bi suy đoán là có pham tội, do vậy luật cén quy đính cho họ có nghĩa vụ chứng minh hành vi của mình không phải là hành vi phạm tội giéng như các cơ quan tién hành tổ tụng chỉ cân sắc định sự thật khách quan của vụ án đúng như những gì sây ra trong thực tế 1a đủ ma không cân đến nguyên tắc SBVT” Hat là, nhóm quan điểm thừa nhân. Hoạt đông tô tụng hình sự khác với các hoạt động khác của con người, nơi mà hoạt động nhận thức có thể kết thúc bằng một kết qua nhận thức mới hoặc có thể chưa đem lại kết quả g. Hoat động tổ tung hình sự không thể kết thúc má không có kết qua pháp lý cu thể. Cơ quan tiền hành tổ tụng bình sự không thể kết thúc hoạt động tổ tung mà van đề có pham tôi hay không phạm tội vẫn chưa thể kử luôn được Nhiệm vụ của tô tung hình sự 1a khí kết thúc hoạt động tổ tụng hình sự phải ˆhoin3,Đều l4 Cong tóc quất vệ quản đau và lônh nệm 1966 °Việ Koa học Thập Tỷ, 2005 Tn rực lọc, ha mắt bền Te Pip - Bộ Trpbjp, 1h Từ nhánh hot hạ Nggẫn Vit Dưồng, C019), “Nine te sp dnt trơn ng Nha TU NT, Tuần văn ‘tye đ Bọc vận hoa học hội Z0 1 xác định rõ rằng hoặc người bi buộc tội là có tội hay không pham tôi.
Như ‘vay, các cơ quan tiền hảnh tố tung phai xuất phát từ chỗ hoặc là người bị buộc. tôi được áp dụng nguyên tắc SĐVT cho đến khi chứng minh được có phạm. tôi hoặc là người bi buộc tội bí áp dung nguyên tắc SĐT cho đến khi chứng minh được là không pham tội. Lịch sử phát triển tổ tung hình sự trên thé giới đã không chấp nhân nguyên tắc suy đoán có pham tội và đã phát triển theo hướng nhân dao va ghi nhận nguyên tắc SBVT* Theo quan điểm, đánh giá và nhìn nhân vẫn để của cá nhân, tác giã đông tình với quan điểm thứ hai, cụ thể là việc thừa nhận SDVT là nguyên tắc bởi: Một 1a, sự bat hợp lí tử quan điểm thứ nhất khi không thửa nhận nguyên.
Nêu một người bi điều tra, sét sử thi được suy đoán là có tối thì không t dam bao quyển va lợi ich của họ, Việc quy định nghĩa vụ chứng, minh bắt buộc thuộc người buộc tội cũng là một trong những vẫn dé không phù hop vì dễ thay giữa cơ quan diéu tra, cơ quan có thẩm quyển THTT lả những người được đảo tạo, so vẻ cả kinh nghiém, nghiệp vụ đều hơn người bi ‘bude tội trong van để tìm ra căn cử, chứng cit chứng minh một người là có tôi. ‘Vay khi quy định nghĩa vụ chứng minh thuộc về người bị buộc tội th vai trò của những chủ thể có thể thẩm liệu có được phát huy hay không? Hai là, sự phù hop khi công nhên nguyên tắc SÐVT. Thực tế cho thấy, không phải trường hợp nao người bị buộc tội cũng có thể chứng minh minh không có tdi, ví dụ như những trường hợp người bi bude tôi bi “Zđnử:” thuốc mê va đưa đến nơi xảy ra hành vi phạm tôi để đựng hiên trường giả, khi do việc bình tinh, xử lí, chứng minh mình vô tôi 1a rất khó nêu phủ nhân nguyên tắc SBVT. Vi thể, việc ghi nhân nguyên tắc SĐVT đã một phan giúp người bị buộc tôi trong những trường hợp tương tư trên có thé bảo vệ quyền lợi của minh bởi họ chỉ bi coi là có tội khi cơ quan có thẩm quyển chứng minh được hành vi của họ ka có tối.
“Pham Nguyễn Viết Cường, 2010), “None sip đoán ti rong td neg hinds PC NET, Tuần vin ‘awe sf, Hoc vin Khoa hoe xã hộig 10 14 Trong các quan điểm thừa nhận SĐVT, lại có các quan điểm về các van để như thời điểm áp dung hay các chủ thể SÐVT. Đối với thời điểm SĐVT cũng có nhiễu quan điểm tranh luận. Song, ‘hop lý hơn cả vẫn là quan điểm cho ring thời điểm áp dụng SDVT ké tử giai đoạn tiên tổ tụng trong trường hợp bắt giữ người bi tỉnh nghĩ, cho đến các giai đoạn khác trong quá trinh TTHS vả ngay cả khi ban an cia Téa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bi kháng cáo, khảng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thấm thi vẫn có thé ap dụng nguyên. Bên cạnh đó, các chủ thé liên quan đến SÐVT cũng la van dé quan trọng, được nhiêu người quan tâm, cụ thể la chủ thể phải thực hiện SÐVT va chủ thể được quyên thực hiện SDVT: Đối với chủ thể phải thực hiện SDVT, có một sé quan điểm cho ring chi bao gồm cơ các chủ thể tiền hành hoạt động tô tụng.
Tuy nhiên SDVT là. quyền con người và cũng là quyển cơ ban của công dân khi ho bị buộc tôi, do đó theo quan điểm ca nhân, tác giã cho rằng chủ thể phải tôn trọng, tuân theo. nguyên tắc nay ngoài những chủ thé có thẩm quyền tiền hảnh tổ tụng còn bao gém những chủ thể khác như. cơ quan báo chí, truyền thông,.
Theo nguyên tắc SĐVT, thi người bi buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng mình theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu ực pháp luật. Mọi hành vi thể hiện dưới các hình thức khác nhau coi người bị ‘budc tôi là cổ tội của bat ky cơ quan, tổ chức nào trước khi có bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật déu là vi phạm nguyên tắc SĐVT.