Chương 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CUA PHÁP LUẬT VE HOAT ĐỘNG THU THẬP TÀI LIEU, DO VAT, TINH TIẾT LIEN QUAN DEN VIEC BAO CHUA CUA LUAT SU TRONG TO TUNG HÌNH SU 1. Những van đề lý luận về hoạt động thu thập tai liệu, đồ vat, tình tiết liên quan đến việc bào chữa của luật sư trong tố tụng hình sự 1. Khái niệm hoạt động thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa của luật sư trong tô tụng hình sự Trong tố tụng hình sự, chức năng gỡ tội luôn tồn tại độc lập và đối trọng với chức năng buộc tội như một tất yếu khách quan.Với bản chất dân chủ, pháp luật tố tụng hình sự của Nhà nước ta ghi nhận quyền được bào chữa (gỡ tội) của người bị buộc tội như một nguyên tắc cơ bản. Người bị buộc tội thực hiện quyền được bào chữa thông qua người bào chữa.
Muốn thực hiện được chức năng gỡ tội, người bao chữa phải đưa ra được những tai liệu, đồ vật hoặc tình tiết khác có liên quan đến việc bào chữa mà khi đánh giá, cơ quan tiến hành tố tung chấp nhận đó là chứng cứ chứng minh người bị tạm giữ, bi can, bi cáo vô tội hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự ở mức độ nhẹ hon. Cơ sở phát sinh hoạt động thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa của luật sư trong tố tụng hình sự là từ hoạt động bào chữa 2 ^ ` NA x ` nw 2 X 1+ ^ a: Ô của luật sư va xa hơn là từ quyên bào chữa của người bị buộc tdi. Dé xây dựng khái niệm hoạt động thu thập tài liệu, đô vật, tình tiệt liên quan đên việc bào chữa của luật sư trong tô tụng hình sự, cân nhận thức đây đủ nội hàm các khái niệm có liên quan cũng như các đặc điêm, mục đích của hoạt động này. Điêu đó cũng đông nghĩa với việc làm rõ khái niệm hoạt động, ° Theo quy định của BLTTHS năm 2003 thì người bị buộc tội bao gồm: Người bị tạm giữ và bị can, bị cáo.
Theo quy định của BLTTHS năm 2015 thì người bị buộc tội bao gồm: Người bị bắt, người bị giữ khan cap, người bi tạm gift và bi can, bi cáo. 10 khái niệm thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa, khái niệm luật sư và các yêu tô đã nêu. Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm hoạt động.Theo cuốn “Tir điển Tiếng Việt” của nhà xuất bản Da Nang năm 2002, hoạt động là tiến hành những việc làm có quan hệ với nhau chặt chẽ nhằm một mục đích nhất định trong đời sống xã hội ’. Ở góc độ tâm lý học, cấu trúc hoạt động bao gồm các thành tố diễn ra ở phía con người: Hoạt động — hành động — thao tác.
Hoạt động thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa là một quá trình gồm các hành vi: phát hiện, ghi nhận, thu giữ và bảo quản các thông tin, tư liệu có liên quan đến việc bào chữa. Phát hiện là tìm ra những dấu vết, những thông tin, đồ vật, tài liệu có liên quan đến việc bào chữa hay nói cách khác là tìm ra những nguồn lưu giữ thông tin về vụ án đã xảy ra. Ghi nhận là việc mô tả, ghi chép những thông tin, tài liệu, đồ vật từ các đối tượng phản ánh về vụ án. Nếu đối tượng phản ánh về vụ án là các vật thì mô tả các đặc điểm, dấu hiệu, dấu vết có liên quan đến diễn biến của vụ án hình sự.
Nếu đối tượng phản ảnh là người thì hoạt động ghi nhận được tiễn hành băng cách yêu cầu họ trình bày những tình tiết mà họ biết về vụ án.Thu giữ được áp dụng khi đối tượng là đồ vật. Bao quan được áp dụng ngay từ khi thu thập dé bảo vệ giá tri chứng minh của các đô vật, tài liệu. Tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa là các thông tin, tư liệu có liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, loại bỏ một phần hoặc toàn bộ sự buộc tội, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho họ được luật sư thu thập từ người bị buộc tội, người thân thích của họ hoặc cơ quan, tô chức, cá nhân có liên quan. Về khái niệm luật sư, có thé nói đây không phải là một khái niệm quá mới, tuy nhiên hiện nay đang tôn tại một sô quan điêm khác nhau: ” Hoàng Phê (chủ biên, 2002), Tir điển Tiếng Việt, Nxb Da Nẵng.
11 Thứ nhất, luật sư là người có trình độ chuyên môn và kiến thức pháp lý sâu rộng, được đào tạo kỹ năng hành nghề luật sư, có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, gia nhập tô chức của luật sư, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tô chức, góp phan bảo vệ công ly, phát triển kinh tế xã ¬ ya MLAS DA 5 ^ se «4 8 hội và xây dựng xã hội công bang dân chu văn minh. Tứ hai, luật su là người có đủ điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật tham gia tố tụng theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tô chức đó theo quy định của pháp luật. ° Thứ ba, theo quy định tại Điều 2 Luật Luật su năm 2006 thì, Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng) '°. Quy định này đã xác định một khái niệm đầy đủ và chính xác về luật sư, bao hàm những yếu tố cần và đủ của một luật sư thuộc một tổ chức xã hội nghề nghiệp được pháp luật quy định.
Trong t6 tụng hình sự, luật sư có thể là một trong những người tham gia tố tụng. Tuy nhiên, do thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng nên mục đích tham gia tố tụng của luật sư là mục đích tham gia tố tụng của khách hàng. Tùy vào vị trí tham gia tố tụng của mỗi khách hàng sẽ là cơ sở để xác định tư cách tham gia tố tụng của luật sư đó. Trong tố tụng hình sự, luật sư có thể là người bào chữa, là người tham gia tổ tụng độc lập.
Vi trí độc lập của luật su trong tố tụng hình sự được xác định bang các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự, trong đó quy định cụ thé quyền và nghĩa vụ của họ. Một số tác giả đã dựa vào quy định của pháp luật tố tụng hình sự thực định cho người bào chữa quyền tự mình kháng cáo bản x Hoang Thi Phương Thu (2007), Vi tri, vai tro cua luật sư trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr 10. ° Trường Đại học Luật Ha Nội (2015), Giáo trình Luật tổ tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Công an Nhân dân, Hà Nội, tr 139.
'° Điều 2 Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bé sung năm 2012). 12 án theo hướng có lợi cho bị cáo trong trường hợp bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thé chất; quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu; có quyền trình bày quan điểm của mình mà không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của bị can, bị cáo. từ đó coi luật sư là người tham gia t6 tụng độc lap H Cũng có quan điểm cho răng, luật sư trong tố tụng hình sự chỉ thuần túy là người đại diện của bị can, bị cáo, thông qua việc sử dụng phương tiện, biện pháp luật định đề thê hiện vị trí tố tụng độc lập của mình. Luật sư có quyền không tuân theo những đòi hỏi bất hợp pháp, vô căn cứ của bị can, bị cáo.
Việc thừa nhận vị trí độc lập của luật sư trong tố tụng hình sự phải được xác định bằng các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự, đặc biệt trong hệ thống quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho luật sư |”. Ngoài ra cũng có quan điểm cho rằng, không thé coi luật sư là người tham gia tố tụng độc lập. Bởi vì, mối quan hệ giữa luật sư và người bị tạm giữ, bi can, bị cáo chỉ được thiết lập khi người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mời (hoặc người đại diện hợp pháp, người thân của họ mời) làm người bào chữa cho ho và được cơ quan tiến hành tố tụng chấp nhận hoặc cơ quan tiến hành tố tụng cử luật sư bào chữa cho những người này và được họ đồng ý. Do đó, có thé khang định ý chí của người bi tạm giữ, bị can, bị cáo luôn là yếu tố quyết định có hay không có sự tham gia tố tụng của luật sư.
Xuất phát từ ý chí chủ quan của minh, họ có thé từ chối luật sư ở bat kỳ giai đoạn nào của quá trình tố tụng nếu họ nhận thấy sự tham gia của luật sư là không còn cần thiết, không thể giúp đỡ gì hoặc làm xấu hơn tình trạng của họ. ` “ Nguyễn Văn Tuân (2001), Vai trò của Luật su trong tô tụng hình sự, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội. ! Ngô Thị Ngọc Vân (2016), Hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Luận án Tiên sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr 39.
! Pham Hồng Hải (1999), “VỊ trí của luật sư bào chữa trong phiên tòa xét xử”, Tạp chí luật học, (09) 13 Moi quan điêm nêu trên, ở một khía cạnh nào đó déu có sức thuyêt phục riêng. Bởi lẽ, các tác giả khi nêu quan điêm của mình đêu có cách nhìn nhận vấn đề trên cơ sở pháp lý và thực tiễn nhất định. Hoạt động thu tháp tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa của luật su trong tô tụng hình sự có các đặc diém sau: V chủ thể thực hiện: Luật sư là một trong các chủ thé tham gia tố tung với tư cách là người bào chữa. Hiện nay, đa số các vụ án hình sự, người bào chữa tham gia chủ yếu là luật sư — Những người được đào tạo chuyên nghiệp dé thực hiện hoạt động bào chữa cho người bị buộc tội.
Khi người bị buộc tội nhờ đến luật sư, tức là ở họ đang xuất hiện nhu cầu gỡ tội mà tự họ không thể thực hiện được.