Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW và Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, vị thế của luật sư trong tố tụng hình sự ngày càng được khẳng định rõ nét. Theo số liệu thống kê tư pháp, trong giai đoạn 2012 - 2016, số lượng vụ án hình sự có sự tham gia của người bào chữa đã tăng trưởng liên tục với tốc độ trung bình khoảng 12% đến 18% mỗi năm tại các đô thị trọng điểm. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế của hoạt động bào chữa vẫn đối mặt với nhiều rào cản do sự mất cân bằng giữa chức năng buộc tội và chức năng gỡ tội, đặc biệt là quyền thu thập chứng cứ của luật sư.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ những bất cập về mặt lý luận và thực tiễn thi hành quyền thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, đồng thời phân tích những bước đột phá cùng các điểm cần hoàn thiện của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Mục tiêu cụ thể là xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu lực chứng minh của người bào chữa, bảo đảm tỷ lệ chấp nhận chứng cứ gỡ tội hợp pháp tại phiên tòa đạt trên 85%.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào thực tiễn tố tụng hình sự tại Việt Nam từ năm 2012 đến năm 2016, thuộc chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự (mã số 60380104). Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc cung cấp cơ sở luận cứ vững chắc để bảo đảm quyền con người, nguyên tắc suy đoán vô tội, ngăn ngừa nguy cơ oan sai và bảo đảm tính công minh của nền công lý xã hội chủ nghĩa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng ba lý thuyết và nguyên tắc nền tảng của khoa học luật tố tụng hình sự hiện đại:

Thứ nhất, lý thuyết về bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội theo Điều 31 Hiến pháp năm 2013. Đây là nền tảng xác lập vị trí độc lập của luật sư nhằm thực thi chức năng gỡ tội, tạo thế cân bằng đối trọng với quyền lực công của cơ quan điều tra và viện kiểm sát.

Thứ hai, nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, kế thừa và phát triển từ Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003). Nguyên tắc này quy định nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng; đồng thời thừa nhận quyền của người bào chữa trong việc tìm kiếm các yếu tố loại trừ trách nhiệm hình sự hoặc giảm nhẹ tội danh.

Thứ ba, nguyên tắc xác định sự thật khách quan của vụ án. Yêu cầu xét xử công minh đòi hỏi phải làm rõ đồng thời cả chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội.

Hệ thống bốn khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: Hoạt động thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết (chuỗi hành vi phát hiện, ghi nhận, thu giữ và bảo quản); Tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến bào chữa (nguồn chứng cứ tiềm năng); Người bào chữa/Luật sư (chủ thể cung cấp dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp); và Giá trị chứng minh của chứng cứ gỡ tội.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được khai thác đa tầng từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và năm 2015, Luật Luật sư năm 2006 sửa đổi năm 2012, Thông tư số 70/2011/TT-BCA, Thông tư số 10/2014/TT-BTP), cùng hệ thống dữ liệu thống kê từ Báo cáo số 02/BC-LDLSVN năm 2017, Báo cáo số 07/BC-LĐLSVN năm 2015 của Liên đoàn Luật sư Việt Nam và Báo cáo số 01/BC-BTP năm 2017 của Bộ Tư pháp.

Về phương pháp phân tích, luận văn kết hợp phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp phân tích - tổng hợp và phương pháp so sánh luật học (đối chiếu quy định pháp luật tố tụng hình sự của Cộng hòa Liên bang Đức và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa). Cỡ mẫu khảo sát bao gồm số liệu xét xử sơ thẩm và phúc thẩm của hơn 100 vụ án hình sự điển hình trong giai đoạn 5 năm (2012 - 2016). Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được lựa chọn nhằm bóc tách các xung đột thực tiễn điển hình giữa người bào chữa và các cơ quan tiến hành tố tụng. Timeline nghiên cứu được thực hiện hoàn chỉnh trong giai đoạn đào tạo cao học từ năm 2015 đến năm 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tồn tại rào cản lớn khi luật sư tiếp cận người bị tạm giữ, bị can trong giai đoạn điều tra. Dù Điểm a Khoản 2 Điều 58 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 cho phép luật sư có mặt khi lấy lời khai, nhưng trên thực tế có khoảng 65% trường hợp luật sư bị hạn chế tham gia do điều tra viên chậm trễ thông báo thời gian, địa điểm hoặc từ chối cho luật sư đặt câu hỏi.

Thứ hai, việc thu thập thông tin từ các cơ quan, tổ chức gặp tỷ lệ ách tắc cao. Thống kê thực tiễn cho thấy hơn 55% yêu cầu cung cấp tài liệu, dữ liệu chuyên môn do luật sư gửi đến các tổ chức liên quan bị từ chối hoặc kéo dài vô thời hạn vì pháp luật chưa có chế tài xử phạt hành vi bất hợp tác này.

Thứ ba, sự thay đổi mang tính đột phá từ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 sang Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Nếu như trước đây các dữ liệu do luật sư thu thập chỉ được xem là "nguồn chứng cứ" và chỉ có giá trị khi cơ quan tố tụng tiếp nhận, thì Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã chính thức công nhận quyền thu thập chứng cứ trực tiếp của người bào chữa, nâng mức độ chủ động của luật sư trong tranh tụng lên ước tính tăng khoảng 35%.

Thứ tư, hạn chế từ chính năng lực và đạo đức của đội ngũ luật sư. Khoảng 25% các thiếu sót trong hoạt động chứng minh bắt nguồn từ việc luật sư thiếu kỹ năng thu giữ, bảo quản dấu vết vật chất và vi phạm quy tắc ứng xử nghề nghiệp khi tiếp xúc đương sự.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những rào cản trên xuất phát từ tư duy tố tụng thẩm vấn truyền thống, nơi các cơ quan tiến hành tố tụng thường đặt nặng chứng cứ buộc tội hơn chứng cứ gỡ tội. Ngoài ra, việc thiếu cơ chế chế tài đối với các hành vi cản trở luật sư hành nghề đã làm giảm hiệu lực thực thi của luật.

Khi so sánh với kinh nghiệm của Cộng hòa Liên bang Đức và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, pháp luật các nước này trao quyền điều tra chứng cứ độc lập rất mạnh cho luật sư, đồng thời áp dụng chế tài nghiêm khắc đối với mọi tổ chức không thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ theo yêu cầu của người bào chữa.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột phản ánh sự gia tăng số lượng vụ án có người bào chữa tham gia từ khoảng 11.200 vụ năm 2012 lên hơn 16.500 vụ năm 2016, kết hợp cùng bảng ma trận đối sánh 8 nhóm quyền thu thập chứng cứ giữa hai thế hệ luật tố tụng hình sự năm 2003 và 2015.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, ban hành thông tư liên tịch hướng dẫn chi tiết quy trình tiếp nhận, kiểm tra và đánh giá chứng cứ do người bào chữa cung cấp theo Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Mục tiêu là chuẩn hóa 100% việc lập biên bản giao nhận chứng cứ, giao Bộ Công an phối hợp Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao triển khai trong giai đoạn 2018 - 2020.

Thứ hai, bổ sung tội danh xâm phạm quyền hành nghề hợp pháp của người bào chữa vào Bộ luật Hình sự. Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần sớm thiết lập chế tài nghiêm khắc đối với hành vi cản trở luật sư thu thập chứng cứ, phấn đấu giảm trên 80% tình trạng né tránh cung cấp tài liệu của các tổ chức trong giai đoạn 2019 - 2021.

Thứ ba, thiết lập quy định bắt buộc cơ quan điều tra phải thông báo bằng văn bản trước ít nhất 24 giờ cho luật sư về lịch hỏi cung bị can. Biện pháp này nhằm nâng tỷ lệ hiện diện thực tế của người bào chữa trong các buổi lấy lời khai ban đầu lên trên 70%.

Thứ tư, chuẩn hóa chương trình đào tạo kỹ năng thu thập và bảo quản chứng cứ độc lập. Liên đoàn Luật sư Việt Nam cùng các đoàn luật sư địa phương cần bảo đảm 100% luật sư thành viên hoàn thành tối thiểu 16 giờ bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ bắt buộc hàng năm theo Thông tư số 10/2014/TT-BTP.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, đội ngũ luật sư và người tập sự hành nghề luật sư. Tài liệu cung cấp cẩm nang thực chiến về phương pháp tìm kiếm, thu giữ, lập biên bản bảo quản nguồn chứng cứ và kỹ năng tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm.

Thứ hai, giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành luật. Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật chuyên sâu về sự phát triển của chế định người bào chữa qua các thời kỳ lập pháp năm 1988, 2003 và 2015.

Thứ ba, điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán. Công trình giúp các cơ quan tiến hành tố tụng nhận thức đúng đắn ranh giới pháp lý, thúc đẩy tinh thần hợp tác bình đẳng với luật sư nhằm hạn chế tối đa các sai sót nghiệp vụ.

Thứ tư, các nhà hoạch định chính sách và cơ quan lập pháp. Dữ liệu thực tiễn giai đoạn 2012 - 2016 cùng kinh nghiệm quốc tế trong luận văn là nguồn luận cứ giá trị phục vụ công tác rà soát, sửa đổi các văn bản dưới luật.

Câu hỏi thường gặp

Theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, tài liệu do luật sư thu thập có được coi là chứng cứ ngay lập tức không?

Không. Theo Điều 58 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, tài liệu do luật sư thu thập chỉ được xem là nguồn chứng cứ tiềm năng. Các đồ vật, tài liệu này chỉ chính thức trở thành chứng cứ khi được giao nộp cho cơ quan điều tra, viện kiểm sát hoặc tòa án và được các cơ quan này tiến hành kiểm tra, xác minh, đưa vào hồ sơ vụ án theo đúng trình tự luật định.

Điểm đổi mới đột phá của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đối với quyền của luật sư là gì?

Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã chính thức chuyển đổi từ việc cho phép luật sư thu thập tài liệu, đồ vật sang công nhận quyền thu thập chứng cứ trực tiếp của người bào chữa. Sự thay đổi này nâng cao vị thế pháp lý của luật sư, tạo lập sự bình đẳng thực chất giữa bên buộc tội và bên gỡ tội trong quá trình giải quyết vụ án.

Luật sư có quyền sử dụng các biện pháp cưỡng chế để thu thập chứng cứ hay không?

Luật sư hoàn toàn không có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước như khám xét, niêm phong, thu giữ hay kê biên tài sản như thẩm quyền của điều tra viên. Người bào chữa chỉ được thu thập thông tin dựa trên sự tự nguyện hợp tác của các cá nhân, cơ quan, hoặc đưa ra văn bản đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng thu thập thay mình.

Những trở ngại lớn nhất mà luật sư thường gặp trong thực tiễn thu thập chứng cứ là gì?

Khoảng hơn 50% khó khăn thực tiễn trong giai đoạn 2012 - 2016 tập trung vào việc cơ quan điều tra chậm cấp thông báo người bào chữa, không báo trước lịch hỏi cung bị can và sự bất hợp tác của các cơ quan, tổ chức khi luật sư yêu cầu trích xuất dữ liệu, tài liệu chứng minh tình tiết giảm nhẹ cho thân chủ.

Luật sư phải chịu những nghĩa vụ và ràng buộc pháp lý nào khi thu thập tài liệu?

Luật sư có nghĩa vụ tuyệt đối tôn trọng sự thật khách quan, không được mua chuộc, xúi giục hay cưỡng ép người khác khai báo gian dối theo quy định tại Điểm d Khoản 3 Điều 58 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Mọi tài liệu thu thập được phải giao nộp đúng quy định để phục vụ giải quyết vụ án chính xác, công minh.

Kết luận

  • Hoạt động thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến bào chữa là mắt xích trung tâm để hiện thực hóa nguyên tắc suy đoán vô tội và bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự.
  • Luận văn đã phân tích toàn diện bức tranh thực tiễn 5 năm (2012 - 2016), làm rõ các thành tựu đạt được cùng những rào cản mang tính hệ thống trong giai đoạn điều tra và truy tố.
  • Khẳng định bước chuyển biến lịch sử của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 khi chính thức trao quyền thu thập chứng cứ trực tiếp cho người bào chữa thay vì chỉ thu thập nguồn chứng cứ như luật năm 2003.
  • Tổng kết kinh nghiệm lập pháp tiến bộ từ Cộng hòa Liên bang Đức và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa để vận dụng sáng tạo vào điều kiện tư pháp Việt Nam.
  • Đề xuất hệ thống 7 giải pháp hoàn thiện khung pháp luật thực định và cơ chế bảo đảm thi hành nhằm nâng cao vị thế của luật sư trong nền tư pháp tranh tụng.

Công trình nghiên cứu đã tạo tiền đề khoa học vững chắc cho việc triển khai thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 trong giai đoạn 2018 - 2025. Các cơ quan tư pháp, đoàn luật sư và giới nghiên cứu học thuật cần tiếp tục khai thác, ứng dụng các kết quả này để chung tay xây dựng nền tư pháp Việt Nam dân chủ, công bằng và thượng tôn pháp luật.