Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, cải cách tư pháp được xác định là nhiệm vụ trọng tâm nhằm bảo đảm công lý, bảo vệ quyền con người và quyền công dân. Thực tiễn hoạt động tư pháp thời gian qua dù đạt nhiều chuyển biến nhưng vẫn còn bộc lộ những tồn tại như nguy cơ oan sai, bỏ lọt tội phạm hoặc xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Nhận thức rõ thực trạng này, các văn kiện của Đảng đã đề ra định hướng đổi mới căn bản mô hình xét xử:

  • Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 nhấn mạnh việc nâng cao chất lượng công tố và phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
  • Nghị quyết số 48-NQ/TW và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị xác định lấy tranh tụng tại phiên tòa làm khâu đột phá để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp.
  • Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tiếp tục khẳng định xây dựng chế định tố tụng tư pháp lấy xét xử làm trung tâm, tranh tụng là đột phá.

Về mặt lập hiến và lập pháp, nguyên tắc "tranh tụng trong xét xử được bảo đảm" đã được ghi nhận tại khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 và được cụ thể hóa thành một nguyên tắc cơ bản tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021). Tuy nhiên, trên thực tế áp dụng, nhận thức và việc thực thi nguyên tắc này của các chủ thể tố tụng vẫn tồn tại sự lúng túng, chưa thống nhất giữa lý luận và thực tiễn xét xử. Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Bảo Giang (năm 2024) tập trung giải quyết vấn đề này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể:

  1. Làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về nguyên tắc tranh tụng trong xét xử hình sự, phân tích ý nghĩa và so sánh với mô hình tố tụng trên thế giới.
  2. Phân tích nội dung và cơ chế bảo đảm thực hiện nguyên tắc tranh tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam năm 2015.
  3. Đánh giá toàn diện thực tiễn áp dụng nguyên tắc tranh tụng tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn 2019 - 2023, chỉ ra những kết quả, hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân.
  4. Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và giải pháp thực thi nhằm nâng cao hiệu quả tranh tụng tại phiên tòa hình sự.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm và thực tiễn thực hiện nguyên tắc này.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về lý luận và pháp lý: Khảo sát các quy định trong Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) và các văn bản liên quan.
    • Về thực tiễn: Phạm vi không gian tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk (hệ thống Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Đắk Lắk); phạm vi thời gian từ năm 2019 đến năm 2023, dựa trên các báo cáo tổng kết công tác chuyên môn của đơn vị.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống lập luận dựa trên các khái niệm pháp lý cốt lõi về tranh tụng và tố tụng hình sự:

  • Khái niệm tranh tụng: Tác giả tiếp cận thuật ngữ theo Từ điển tiếng Việt, Từ điển Luật học (Viện Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp, 2006) và từ nguyên tiếng Anh (Adversarial system - mang bản chất đối đầu, đối kháng). Tác giả tổng hợp các quan điểm khoa học của TS. Hoàng Thị Quỳnh Chi (2019), tác giả Phạm Tiến Đại (2016), và tác giả Nguyễn Đức Mai (1988) để định nghĩa: Tranh tụng là việc đưa ra những quan điểm, lập luận riêng của hai bên (bên buộc tội và bên gỡ tội) thực hiện ở phiên tòa xét xử nhằm bảo vệ quan điểm của mình và phản bác lại lập luận của đối phương dưới sự điều khiển của Tòa án.
  • Khung pháp lý và chính sách: Các chủ trương cải cách tư pháp tại Nghị quyết số 08-NQ/TW, Nghị quyết số 48-NQ/TW, Nghị quyết số 49-NQ/TW, Nghị quyết số 27-NQ/TW; Điều 103 Hiến pháp năm 2013; Điều 26 và các điều luật liên quan của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021); so sánh đối chiếu với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.
  • Mô hình so sánh quốc tế: Phân tích nguyên tắc tranh tụng qua hai hệ thống pháp luật lớn trên thế giới: Hệ thống Thông luật (Common Law - đại diện là Vương quốc Anh và Hoa Kỳ với Tu chính án thứ 6) thiên về mô hình tranh tụng; Hệ thống Dân luật (Civil Law - đại diện là Cộng hòa Pháp theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1959 và Cộng hòa Liên bang Đức) thiên về mô hình thẩm vấn, chỉ ra xu hướng tiếp thu các yếu tố tranh tụng của các nền tư pháp lục địa.

Phương pháp nghiên cứu được triển khai đồng bộ:

  • Phương pháp luận: Dựa trên phép biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối tư pháp của Đảng Cộng sản Việt Nam.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Sử dụng để hệ thống hóa các tài liệu chuyên ngành, giáo trình, công trình nghiên cứu, bài báo khoa học nhằm xây dựng nền tảng lý luận về tranh tụng.
  • Phương pháp diễn dịch và quy nạp: Phục vụ việc luận giải các quy định pháp luật thực định và khái quát hóa các nhận định khoa học.
  • Phương pháp thống kê, so sánh: Khảo sát và xử lý các chuỗi số liệu từ Báo cáo tổng kết công tác ngành Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk trong thời gian 5 năm (2019 - 2023) để kiểm chứng, đánh giá giữa quy định lý thuyết và thực tiễn xét xử.

Nguồn dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp và thứ cấp bao gồm báo cáo tổng kết năm từ 2019 đến 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, các văn bản quy phạm pháp luật hình sự hiện hành, cùng hệ thống các luận văn, luận án và bài viết nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Hà Ngân, Nguyễn Thị Mai, Vũ Gia Lâm, Lò Thị Thúy, Trần Tuấn Vũ.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm trong tố tụng hình sự

Chương 1 thiết lập cơ sở lý thuyết tổng quan về tranh tụng trong tố tụng hình sự với ba nội dung chính:

  • Khái niệm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm: Khảo cứu nguồn gốc từ ngữ học và học thuyết pháp lý, tác giả khẳng định tranh tụng không chỉ là một hoạt động đơn lẻ ở giai đoạn xét xử mà là nguyên tắc xuyên suốt. Tranh tụng gắn liền với hai chức năng cơ bản: buộc tội và bào chữa. Để tranh tụng diễn ra đúng nghĩa, cần có sự hiện diện của Tòa án với tư cách trọng tài khách quan, độc lập, không thực hiện chức năng buộc tội.
  • Ý nghĩa của nguyên tắc trong từng giai đoạn tố tụng hình sự:
    • Giai đoạn khởi tố: Bảo đảm cho người bị buộc tội được biết lý do, quyền tiếp cận thông tin cáo buộc và có sự hỗ trợ pháp lý từ đầu; tạo cơ sở minh bạch để cơ quan có thẩm quyền xác minh dấu hiệu tội phạm.
    • Giai đoạn điều tra: Đảm bảo bên bị buộc tội được tiếp cận, kiểm tra, cung cấp chứng cứ gỡ tội; ngăn ngừa sự thiên lệch một chiều của cơ quan điều tra trong việc chỉ thu thập chứng cứ buộc tội.
    • Giai đoạn truy tố: Kiểm sát viên phải nghiên cứu hồ sơ toàn diện để truy tố đúng người, đúng tội; tạo điều kiện phát hiện, khắc phục các vi phạm thủ tục hoặc thiếu sót chứng cứ từ phía điều tra.
    • Giai đoạn xét xử: Là khâu trung tâm, nơi hoạt động tranh tụng thể hiện tập trung và triệt để nhất giữa bên buộc tội và bên gỡ tội dưới sự điều hành bình đẳng, công khai của Hội đồng xét xử.
  • Nguyên tắc tranh tụng trong các mô hình tố tụng trên thế giới: Phân tích đối chiếu giữa mô hình tranh tụng (Anh, Hoa Kỳ) và mô hình thẩm vấn (Pháp, Đức). Tác giả nhận định Việt Nam duy trì mô hình tố tụng pha trộn mang đậm yếu tố thẩm vấn truyền thống, việc luật hóa nguyên tắc tranh tụng là bước tiếp thu tiến bộ nhằm bảo đảm tối đa quyền con người, khắc phục tính đơn phương, chủ quan của cơ quan tiến hành tố tụng.

Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm

Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy chuẩn thực định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

  • Nội dung nguyên tắc theo Điều 26: Bình đẳng giữa các bên tố tụng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ và đưa ra yêu cầu làm rõ sự thật khách quan; hồ sơ do Viện kiểm sát chuyển sang Tòa án phải hợp pháp và đầy đủ; phiên tòa phải có mặt đầy đủ các bên, trường hợp vắng mặt phải thuộc diện luật định; bản án, quyết định của Tòa án phải dựa trên việc kiểm tra, đánh giá công khai chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
  • Các cơ chế bảo đảm thực hiện nguyên tắc:
    • Bảo đảm quyền tranh tụng giữa các chủ thể: Quy định rõ nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc về bên buộc tội, người bị buộc tội có quyền nhưng không có nghĩa vụ chứng minh mình vô tội; quyền đối đáp, bình đẳng trình bày quan điểm trước Hội đồng xét xử.
    • Bảo đảm quyền của người bào chữa: Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã tháo gỡ các vướng mắc của Bộ luật năm 2003: Người bào chữa được quyền gặp, trực tiếp hỏi người bị tạm giữ, bị can (thay vì bị động phụ thuộc hoàn toàn vào Điều tra viên); cơ quan tố tụng có trách nhiệm thông báo trước thời gian, địa điểm hỏi cung, lấy lời khai; quy định chi tiết các trường hợp chỉ định người bào chữa (khung phạt 20 năm, tù chung thân, tử hình; người có nhược điểm thể chất, tâm thần hoặc dưới 18 tuổi) gắn liền với trách nhiệm chi trả thù lao của Nhà nước.
    • Giữ vững sự độc lập trong xét xử của Tòa án: Tách bạch chức năng xét xử với chức năng buộc tội và chức năng bào chữa; Tòa án giữ vai trò trung lập, chỉ xét xử theo tội danh và giới hạn Viện kiểm sát truy tố, Hội đồng xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, không bị ràng buộc bởi các quan điểm áp đặt từ bên ngoài.

Chương 3: Thực tiễn thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk

Chương 3 phản ánh bức tranh thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk:

  • Khái quát đặc thù đơn vị: Đắk Lắk là địa bàn có lượng thụ lý án hàng năm lớn của khu vực Duyên hải miền Trung - Tây Nguyên với tính chất tội phạm phức tạp. Cơ cấu bộ máy gồm Ủy ban Thẩm phán (7 thành viên), 5 Tòa chuyên trách (Hình sự, Dân sự, Hành chính, Kinh tế, Gia đình và người chưa thành niên), Văn phòng và các phòng nghiệp vụ cùng 15 Tòa án nhân dân cấp huyện.
  • Kết quả công tác giai đoạn 2019 - 2023:
    • Tổng số án hình sự đã giải quyết là 6.163 vụ (sơ thẩm: 5.335 vụ, phúc thẩm: 928 vụ).
    • Tỷ lệ bản án, quyết định bị hủy, sửa do lỗi chủ quan năm 2023 giảm xuống còn 0,8%, đạt chỉ tiêu của Quốc hội và Tòa án nhân dân tối cao giao.
    • Hoạt động công tố có sự đổi mới: Kiểm sát viên chủ động xây dựng đề cương xét hỏi, nắm chắc chứng cứ, phối hợp Tòa án tổ chức các phiên tòa rút kinh nghiệm.

Dữ liệu thống kê về việc bảo đảm sự tham gia của người bào chữa trong xét xử hình sự:

Năm Tổng số vụ án hình sự xét xử (vụ) Bào chữa do chỉ định (vụ) Tỉ lệ chỉ định (%) Bào chữa theo hợp đồng (vụ) Tỉ lệ hợp đồng (%)
2019 1.153 33 2,86 840 72,85
2020 1.147 48 4,19 325 28,33
2021 1.196 34 2,84 1.162 97,15
2022 1.272 28 2,20 933 73,34
2023 1.395 29 2,07 1.300 93,18
Tổng 6.163 172 2,79 4.560 74,0

Dữ liệu thống kê về tình hình hoãn phiên tòa do vắng người bào chữa và việc tự bào chữa:

Năm Tổng số vụ án hình sự đưa ra xét xử (vụ) Số vụ hoãn do vắng người bào chữa (vụ) Tỉ lệ hoãn (%) Số vụ người bị buộc tội tự bào chữa (vụ) Tỉ lệ tự bào chữa (%)
2019 1.153 0 0 580 50,3
2020 1.147 10 0,87 174 15,17
2021 1.196 0 0 30 2,5
2022 1.272 0 0 10 0,78
2023 1.395 10 0,71 6 0,43
Tổng 6.163 20 0,32 800 12,98
  • Hạn chế và vướng mắc thực tiễn:
    • Một số Kiểm sát viên thiếu linh hoạt, còn thụ động xem việc xét hỏi là nhiệm vụ của Tòa án, có tâm lý e ngại đối đáp, tranh luận chuyên sâu với Luật sư.
    • Người bị buộc tội chưa nắm vững quyền tố tụng, tâm lý rụt rè, không dám tranh luận và phụ thuộc hoàn toàn vào người bào chữa.
    • Số lượng và chất lượng người bào chữa chưa đồng đều; luật sư chủ yếu tập trung vào tình tiết giảm nhẹ mà ít đi sâu vào chứng cứ gỡ tội toàn diện; mức chi trả thù lao cho luật sư chỉ định còn thấp dẫn đến trợ giúp mang tính hình thức.
    • Quy định pháp luật còn bất cập: Vị trí, vai trò của các chủ thể tranh tụng chưa được chi tiết hóa; địa vị pháp lý của người bào chữa trong thực tế thu thập chứng cứ còn yếu thế so với cơ quan tiến hành tố tụng.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đưa ra các kết quả nghiên cứu và số liệu cụ thể:

  • Làm rõ tính hiệu quả trong việc thực hiện nguyên tắc tranh tụng tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk qua chuỗi thống kê 5 năm: Tỷ lệ án có luật sư chỉ định duy trì bình quân 2,79% (172 vụ); tỷ lệ án có luật sư hợp đồng đạt trung bình 74,0% (4.560 vụ). Tòa án đã kiên quyết hoãn 20 phiên tòa khi người bào chữa vắng mặt vì lý do bất khả kháng (chiếm 0,32%) nhằm đảm bảo quyền lợi bị cáo. Số vụ án bị cáo tự bào chữa giảm từ 50,3% (năm 2019) xuống còn 0,43% (năm 2023), phản ánh nhận thức mời người bào chữa ngày càng tăng.

Các giải pháp tác giả đề xuất:

  1. Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự: Sửa đổi, bổ sung quy chế phân định rành mạch giữa các chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử; nâng cao quyền năng pháp lý của người bào chữa trong giai đoạn thu thập chứng cứ ban đầu; hoàn thiện quy trình kiểm tra chứng cứ công khai tại phiên tòa.
  2. Nâng cao năng lực đội ngũ tiến hành và tham gia tố tụng: Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng tranh tụng cho Kiểm sát viên; xóa bỏ tư duy thụ động xem xét hỏi là việc của Hội đồng xét xử; nâng cao phẩm chất nghề nghiệp và đạo đức luật sư; điều chỉnh mức thù lao thỏa đáng cho người bào chữa được chỉ định.
  3. Đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật: Tăng cường trợ giúp pháp lý và phổ biến pháp luật nhằm giúp người dân, đặc biệt là đồng bào tại khu vực Tây Nguyên, hiểu rõ quyền tự bào chữa và quyền nhờ người bào chữa bảo vệ lợi ích hợp pháp.

Đóng góp của khóa luận:

  • Về mặt khoa học: Khóa luận hệ thống hóa cơ sở lý luận về nguyên tắc tranh tụng theo định hướng cải cách tư pháp của Đảng và quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đặt trong sự so sánh với các mô hình tố tụng điển hình trên thế giới.
  • Về mặt thực tiễn: Cung cấp nguồn số liệu khảo sát thực chứng, chi tiết trong 5 năm liên tục tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, phản ánh chân thực những rào cản từ nhận thức đến cơ chế thi hành tại địa bàn miền núi Tây Nguyên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của công trình:

  • Phạm vi dữ liệu thực tiễn của khóa luận khu biệt trong địa bàn tỉnh Đắk Lắk và tập trung vào giai đoạn 2019 - 2023, chưa có sự đối chiếu số liệu liên tỉnh với các địa phương khác trong cùng khu vực Tây Nguyên.
  • Khóa luận tiếp cận chủ yếu dưới góc độ xét xử tại Tòa án; các dữ liệu thực chứng về hoạt động tranh luận trong giai đoạn điều tra, truy tố chưa được bóc tách định lượng riêng biệt.

Hướng nghiên cứu mở rộng:

  • Mở rộng phạm vi khảo cứu thực tiễn áp dụng nguyên tắc tranh tụng tại Tòa án nhân dân các cấp trên bình diện toàn quốc hoặc so sánh giữa các vùng kinh tế - xã hội khác nhau.
  • Nghiên cứu cơ chế bảo đảm tranh tụng đối với các loại chứng cứ mới (như chứng cứ kỹ thuật số, dữ liệu điện tử) trong bối cảnh chuyển đổi số hoạt động tố tụng hình sự.
  • Đánh giá chuyên sâu về tác động của các quy định mới trong Luật Tổ chức Tòa án nhân dân sửa đổi đối với việc phân định thẩm quyền và bảo đảm tính độc lập của Thẩm phán trong tranh tụng.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu hữu ích cho các nhóm đối tượng nghiên cứu và thực tiễn:

  • Sinh viên, học viên ngành Luật học: Khóa luận cung cấp cấu trúc chuẩn mực cho một nghiên cứu chuyên ngành Luật Tố tụng hình sự, đặc biệt là phương pháp xâu chuỗi giữa quy định định tính (Điều 26 BLTTHS 2015) và số liệu định lượng tại Tòa án cấp tỉnh.
  • Người làm đề tài về cải cách tư pháp: Cung cấp luận cứ lý luận và tài liệu so sánh mô hình tố tụng (Common Law - Civil Law) ở Chương 1, cùng lịch sử sửa đổi quyền của người bào chữa ở Chương 2.
  • Cán bộ thực tiễn (Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư tại Đắk Lắk và Tây Nguyên): Bảng số liệu thống kê tại Chương 3 là cơ sở thực tế có giá trị để đánh giá thực trạng xét hỏi, tranh luận và phân tích nguyên nhân tâm lý e ngại đối đáp giữa các bên tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ sở hiến định và pháp lý nền tảng của nguyên tắc "tranh tụng trong xét xử được bảo đảm" tại Việt Nam là gì?
Nguyên tắc này được hiến định lần đầu tại khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 và được cụ thể hóa thành một nguyên tắc độc lập tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021). Ngoài ra, nguyên tắc này bắt nguồn từ các chủ trương cải cách tư pháp tại Nghị quyết 08-NQ/TW (2002), Nghị quyết 49-NQ/TW (2005) và Nghị quyết 27-NQ/TW của Đảng.

2. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã khắc phục những điểm nghẽn nào về quyền của người bào chữa so với Bộ luật năm 2003?
Theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, người bào chữa muốn hỏi người bị tạm giữ, bị can phải được sự đồng ý của Điều tra viên và phụ thuộc vào kế hoạch làm việc của cơ quan điều tra. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã sửa đổi: người bào chữa có quyền trực tiếp gặp, hỏi người bị buộc tội; đồng thời cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm bắt buộc phải thông báo trước về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung để người bào chữa chủ động tham gia.

3. Tỷ lệ vụ án hình sự có người bào chữa theo hợp đồng và người bào chữa chỉ định tại TAND tỉnh Đắk Lắk (2019 - 2023) là bao nhiêu?
Trong tổng số 6.163 vụ án hình sự được xét xử giai đoạn 2019 - 2023 tại TAND tỉnh Đắk Lắk, có 172 vụ án có sự tham gia của người bào chữa được chỉ định (chiếm tỷ lệ 2,79%) và 4.560 vụ án có sự tham gia của người bào chữa theo hợp đồng do đương sự mời (chiếm tỷ lệ 74,0%).

4. TAND tỉnh Đắk Lắk xử lý như thế nào đối với các phiên tòa vắng mặt người bào chữa?
Trong 5 năm khảo sát, có 20 vụ án hình sự (10 vụ năm 2020 và 10 vụ năm 2023, chiếm tỷ lệ 0,32%) có người bào chữa vắng mặt vì lý do bất khả kháng. Xét thấy bị cáo không thể tự bảo chữa và để bảo đảm nguyên tắc tranh tụng bình đẳng, TAND tỉnh Đắk Lắk đã quyết định hoãn phiên tòa nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi cho bị cáo thay vì xét xử vắng mặt.

5. Những nguyên nhân chủ quan nào khiến hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa còn hạn chế?
Khóa luận chỉ ra rằng một số Kiểm sát viên vẫn quan niệm tham gia phiên tòa chỉ để đọc cáo trạng và bảo vệ quan điểm luận tội, xem việc xét hỏi là trách nhiệm riêng của Tòa án. Bên cạnh đó, một bộ phận Kiểm sát viên còn tâm lý e ngại tranh luận trực tiếp với luật sư, năng lực dự báo các tình huống tranh biến còn yếu và xuất hiện tâm lý chủ quan trong các vụ án không có luật sư tham gia.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Bảo Giang đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và nền tảng pháp lý của nguyên tắc tranh tụng trong xét xử hình sự theo Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bằng chuỗi số liệu thực tế qua 6.163 vụ án hình sự tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2019 - 2023, công trình phản ánh khách quan những bước tiến về quyền bào chữa cũng như những vướng mắc nội tại của đội ngũ tiến hành và người tham gia tố tụng. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao kỹ năng thực hành quyền công tố, quyền bào chữa được nêu trong khóa luận là nguồn tư liệu có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác nghiên cứu và hoạt động xét xử theo tinh thần cải cách tư pháp.