Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ PHÁP LUẬT VỀ VAI TRÒ NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm người bào chữa 1. Khái niệm người bào chữa Vấn đề định nghĩa người bào chữa: xung quanh khái niệm này có nhiều ý kiến khác nhau, cho rằng “Người bào chữa là người tham gia tố tụng để giúp đỡ tòa án” hay“Người bào chữa là người giúp đỡ tòa án trong việc xác định các tình tiết cần thiết về vụ án để cuối cùng tòa án ra một bản án có căn cứ pháp luật”, thậm chí có quan điểm còn cho rằng. Người bào chữa tham gia tố tụng là nhằm để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội, chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.
Những người không được bào chữa gồm: Người dịch thuật, người định giá tài sản, người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người đã bị kết án chưa được xóa án tích, người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc ( khoản 4 Điều 72 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015). Khái niệm người bào chữa là luật sư Hoạt động tham gia tố tụng/tranh tụng của Luật sư luôn gắn liền với hoạt động xét xử, thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước; ảnh hưởng trực tiếp đến tự do, tài sản, các quyền nhân thân, thậm chí cả tính mạng của khách hàng. Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong hoạt động xét xử của Toà án là độc 9 lập, công khai, các bên (bên buộc tội và bên gỡ tội) trong vụ án hình sự. Đối với VAHS, Luật sư tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho người bị buộc tội, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại, đương sự.
Luật sư tham gia tố tụng VAHS xác định tư cách tố tụng một cách độc lập, có các quyền và nghĩa vụ tương ứng theo quy định tại các luật, bộ luật tố tụng liên quan. Khái niệm người bào chữa là luật sư như sau:“ Tham gia tố tụng là hoạt động của luật sư trong việc cung cấp dịch vu pháp lý với tư cách người bào chữa, người đại diện hoặc người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho khách hàng“. Hoạt động tố tụng của Luật sư là hoạt động có tính đối kháng cao, đặc biệt là này luôn diễn ra trong không gian và thời gian theo quy định tại các luật, bộ luật tố tụng liên quan. Sự khác nhau giữa người bào chữa là luật sư với người bào chữa khác Tính chất của nghề Luật sư: Hiến pháp năm 2013 có những tác động lớn và quan trọng đến vai trò, vị trí của luật sư trong xã hội, trong hệ thống chính trị và trong hoạt động nghề nghiệp.
Điều 3 của Luật luật sư (sửa đổi năm 2012) quy định như sau : “Hoạt động nghề nghiệp của luật sư góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ của công dân. Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”. Luật sư là một nghề tự do được xã hội tôn trọng,hoạt động độc lập, chịu trách nhiệm cá nhân. Uy tín và thương hiệu của mỗi luật sư là cơ sở quan trọng nhất để luật sư phát triển nghề nghiệp và đóng góp cho xã hội.
Nó gắn liều uy tín 10 và danh dự nghề nghiệp. Luật sư là một nghề dịch vụ có tính đặc thù vì có liên quan đến quyền và lợi ích của khách hàng và pháp luật của Nhà nước - các cơ quan THTT, các cơ quan nhà nước khác. Vì vậy luật sư một mặt phải bảo vệ quyền lợi tốt nhất cho khách hàng, mặt khác phải ứng xử và phối hợp với các cơ quan nhà nước để cùng nhau góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ pháp chế. Nghề luật sư va chạm với nhiều mặt trái xã hội, những vấn đề kinh tế và thể chế xã hội.
Luật luật sư: “ Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn,điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức “. Tiêu chuẩn người hành nghề luật sư: Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc. Nghề luật sư trước hết là một nghề luật, nền tảng hoạt động phải dựa trên pháp luật và các quy chế trách nhiệm nghề nghiệp. Pháp luật về luật sư được coi là hệ thống các quy phạm pháp luật xác định vị trí, vai trò của luật sư trong xã hội, quy định các quyền và nghĩa vụ của luật sư trong hành nghề, phạm vi quản lý nhà nước đối với hoạt động luật sư, tính tự quản trong tổ chức nghề nghiệp.
Trong lĩnh vực tố tụng, luật sư tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự.[23] Năm 2018 số luật sư thành viên của cả nước là: 13.081 luật sư, số luật sư hoạt động chuyên về tham gia tố tụng chiếm đa số so với các luật sư hoạt động chuyên về tư vấn pháp luật cũng như cung cấp các dịch vụ pháp lý khác. Việc luật sư tham gia tố tụng không những bảo đảm tốt hơn quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền được bảo vệ lợi ích hợp pháp của các đương sự, mà còn giúp các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện, sửa chữa những thiếu sót, sai lầm, hạn chế oan 11 sai, làm rõ sự thật khách quan của vụ án. Về người bào chữa là Bào chữa viên nhân dân: Đây là một diện chủ thể mang tính đặc thù vai trò người bao chữa là Bào chữa viên nhân dân ở Việt Nam, được hình thành trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống Pháp (theo Sắc lệnh 69-SL ngày 18 tháng 6 năm 1949). Theo Nghị định số 1 ngày 12 tháng 1 năm 1950 của Bộ Tư pháp thì điều kiện trở thành bào chữa viên chỉ bao gồm: người có quốc tịch Việt Nam, ít nhất 21 tuổi, hạnh kiểm tốt và chưa can án, được Chánh án lựa chọn (hàng năm).
BLTTHS năm 2015 quy định: Bào chữa viên nhân dân là công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, trung thành với Tổ quốc, có phẩm chất đạo đức tốt, có kiến thức pháp lý, đủ sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc tổ chức thành viên của Mặt trận cử tham gia bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình. Bào chữa viên nhân dân tham gia tố tụng để bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong 2 trường hợp sau: Thứ nhất: nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đề nghị Mặt trận tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình (điểm c khoản 2 điều 76 BLTTHS 2015). Thứ hai: Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của mặt trận tự cử Bào chữa viên nhân dân tham gia TTHS. Theo quy định tại khoản 4 điều 75 BLTTHS năm 2015, Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền và trách nhiệm tự cử Bào chữa viên nhân dân tham gia 12 TTHS để bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là thành viên của tổ chức mình.
Về người bào chữa là Trợ giúp viên pháp lý: Trợ giúp pháp lý theo BLTTHS năm 2015: Trợ giúp viên pháp lý là một dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý theo quy định. Do tính chất của vụ việc trợ giúp pháp lý liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý và không thuộc lĩnh vực kinh doanh, thương mại, nên TGPL là trách nhiệm của Nhà nước. Nhà nước giữ vai trò nòng cốt trong việc thực hiện, tổ chức thực hiện TGPL, khuyến khích tạo điều kiện để MTTQVN và các tổ chức thành viên, các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác tham gia thực hiện ( Điều 8 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017). Về người bào chữa là “ người đại diện hợp pháp “ Là người đại diện hợp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là bố mẹ đẻ, bố mẹ nuôi, người đỡ đầu, anh, chị em ruột và những người theo quy định của pháp luật đối với bị can bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần.
Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can. nếu tham gia bào chữa thì họ cũng có những quyền như người bị tạm giữ, bị can. Đối với Pháp nhân Thương mại: BLTTHS năm 2015 quy định người bị tạm giữ, bị can là người hoặc Pháp nhân“Bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự. Quyền và nghĩa vụ của bị can là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật này”; 13 Pháp nhân thương mại :Với tư cách là chủ thể của pháp luật tố tụng hình sự, pháp nhân thông qua người đại diện theo pháp luật có quyền và nghĩa vụ tham gia đầy đủ vào các giai đoạn tố tụng hình sự được quy định tại Điều 434 Bộ luật tố tụng hình sự.
Quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật. Vai trò của người bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự 1. Vai trò người bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự Vai trò người bào chữa là tổng hòa các hành vi tố tụng hướng tới bãi bỏ sự buộc tội và xác định bị can không có lỗi hoặc nhằm làm giảm nhẹ trách nhiệm của bị can”,“Bào chữa trong tố tụng hình sự không chỉ là tổng hoà các hành vi tố tụng hướng tới việc bác bỏ sự buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm mà còn là tổng hoà các mối quan hệ tố tụng nhằm tới mục đích làm cho tình trạng của người bị buộc tội tốt hơn và bảo đảm các quyền và lợi ích của người đó trong vụ án.