Chương 1. NHẬN THỨC CHUNG VỀ CHỦ THỂ GỠ TỘI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Khái niệm chủ thể gỡ tội trong tố tụng hình sự 1. Khái niệm gỡ tội trong tố tụng hình sự: Gỡ tội là một trong những chức năng cơ bản và quan trọng cùng tồn tại với chức năng buộc tội và chức năng xét xử; là điều kiện cần và đủ để giải quyết vụ án hình sự.
Hoạt động gỡ tội lấy sự tồn tại của hoạt động buộc tội là điều kiện cho sự hoạt động và phát triển. Do đó hoạt động buộc tội của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền được coi như một trục chính thu hút các hoạt động tố tụng khác trong đó có hoạt động gỡ tội. Tuy nhiên hoạt động gỡ tội lại là điều kiện quan trọng giúp cho Tòa án kiểm tra một cách đầy đủ nhất các chứng cứ, các tình tiết vụ án góp phần đản bảo cho Tòa xét xử đúng người, đúng tội và đúng Pháp luật. Hơn thế nữa hoạt động gỡ tội luôn gắn với quyền con người, quyền công dân được Hiến pháp ở nhiều quốc gia trên thế giới tôn trọng và bảo vệ.
Hiến pháp Việt Nam 2013 đã có nhiều qui định nhấn mạnh đến quyền công dân trong đó có quyền được xét xử một cách công bằng, đúng pháp luật, quyền được gỡ tội hay còn gọi là quyền bào chữa của Bị can, Bị cáo. Khoản 4 điều 31 Hiến pháp 2013 quy định: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”. Điều 11 của Bộ luật tố tụng hình sự khẳng định bằng qui định Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo: “Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của Bộ luật này”.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ những qui định của bản Hiến Pháp và những qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự, có thể thấy gỡ tội chính là một quyền chủ thể khi tham gia tố tụng hình sự và được Nhà nước đảm bảo thực hiện. Tuy nhiên, hiện nay chưa có khái niệm cụ thể về gỡ tội, nên dựa trên sự đối lập với khái niệm chức năng buộc tội. Nếu hiểu chức năng buộc tội còn gọi là chức năng truy cứu trách nhiệm hình sự, là một dạng hoạt động tố tụng hình sự nhằm phát hiện kẻ phạm tội, chứng minh lỗi của người đó, bảo đảm phán xử và hình phạt đối với người đó, thì chức năng gỡ tội cũng là một dạng hoạt động tố tụng hình sự; được tiến hành bởi những chủ thể được pháp luật cho phép; cũng có quyền sử dụng tất cả những biện pháp mà pháp luật không cấm. Tất cả mọi hoạt động gỡ tội đều nhằm mục đích chống lại, bác bỏ, phủ nhận lời buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội trong vụ án [28] Có thể hiểu, gỡ tội là một dạng hoạt động tố tụng hình sự vì: trong hoạt động tố tụng hình sự luôn tồn tại 3 dạng hoạt động: Hoạt động buộc tội, hoạt động gỡ tội và hoạt động xét xử.
Trong đó hoạt động buộc tội là một trục chính thu hút hoạt động gỡ tội và hoạt động xét xử, được bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố bị can khi có căn cứ cho rằng một người đã thực hiện hành vi phạm tội và tìm các chứng cứ từ nhiều nguồn khác nhau chứng minh người đó thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm…Tuy nhiên để vụ án được giải quyết một cách khách quan trên cơ sở pháp luật đòi hỏi phải có hoạt động gỡ tội. Do đó gỡ tội cũng là một dạng hoạt động tố tụng hình sự, là điều kiện để Tòa án kiểm tra đầy đủ nhất các chứng cứ, các tình tiết của vụ án góp phần đảm bảo cho phán quyết của tòa đúng người, đúng tội, đúng hình phạt. Cũng như hoạt động buộc tội, hoạt động gỡ tội được tiến hành bởi chủ thể được pháp luật cho phép. Bộ luật tố tụng hình sự qui định những người có quyền tự mình bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa là: Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bào chữa là những người được pháp luật cho phép thực 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hiện hoạt động gỡ tội.
Thời điểm được pháp luật cho phép được tính từ khi Cơ quan tiến hành tố tụng có quyết định tạm giữ đối với Người bị tạm giữ, quyết định khởi tố Bị can đối với Bị can, quyết định truy tố và quyết định đưa vụ án ra xét xử đối với Bị cáo và cấp giấy chứng nhận Người bào chữa đối với Người bào chữa trong vụ án. Để thực hiện nhiệm vụ gỡ tội, chủ thể gỡ tội cũng có quyền sử dụng tất cả các biện pháp mà pháp luật không cấm. Các chủ thể được pháp luật công nhận có quyền gỡ tội được quyền sử dụng tất cả các biện pháp mà pháp luật không cấm như: hoạt động tìm chứng cứ, lấy lời khai của nhân chứng, xem xét biên bản liên quan đến vụ án, có quyền biết mình bị khởi tố, truy tố, xét xử về tội gì bằng cách được xem quyết định khởi tố, quyết định truy tố, quyết định đưa vụ án ra xét xử…Tuy nhiên pháp luật cũng có những giới hạn mà người có quyền gỡ tội không được làm trong hoạt động tố tụng hình sự, mọi biện pháp mà pháp luật cho phép thực hiện đáp ứng tương đối đầy đủ các điều kiện của hoạt động gỡ tội Tất cả mọi hoạt động đều nhằm mục đích chống lại, bác bỏ, phủ nhận lời buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội trong vụ án. Trong hoạt động tố tụng hình sự những chủ thể được pháp luật cho phép có quyền sử dụng tất cả các biện pháp mà pháp luật không cấm phục vụ mục đích chống lại, bác bỏ, phủ nhận lời buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của mình trong vụ án.
Đây cũng là chức năng bảo vệ cá nhân trước những cáo buộc từ hoạt động buộc tội nhân danh Nhà nước và mục tiêu cuối cùng là giúp cho Tòa án đưa ra phán quyết hợp tình, hợp lý đúng pháp luật đối với người bị buộc tội. Như một chức năng tố tụng, ở đâu có buộc tội thì ở nơi đó có gỡ tội gỡ tội được pháp luật ghi nhận là một quyền chủ thể khi tham gia tố tụng hình sự, họ có quyền thực hiện những hành vi hợp pháp để chứng minh mình vô tội tương ứng với nghĩa vụ chứng minh tội phạm của cơ quan tiến hành tố 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tụng, người tiến hành tố tụng [6]. Qua đó người có quyền chứng minh vô tội sử dụng những qui định pháp luật cho phép để tiến hành những hoạt động cần thiết như việc dẫn chiếu những qui định pháp luật cụ thể là Bộ luật hình sự, Tố tụng hình sự và những qui định pháp luật khác có liên quan, đồng thời đưa ra những chứng cứ, lý lẽ, lập luận để bác bỏ những căn cứ phía bên buộc tội đưa ra trước tòa án, hoặc những căn cứ làm cơ sở cho việc chuyển tội danh nhẹ hơn tội danh mà phía buộc tội đưa ra, hoặc căn cứ đề nghị tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt theo luật định. Hoạt động này được cho là hoạt động phức tạp giống với hoạt động điều tra của các cơ quan tiến hành tố tụng bắt đầu từ khâu xác định các nguồn chứng cứ từ hiện trường vụ án, hồ sơ tài liệu liên quan đến vụ án, nhân chứng, chứng minh thiệt hại, và các tình tiết, khía cạnh khác … vì mục đích nhằm tái hiện lại sự thật khách quan đã xảy ra trên thực tế và đối chiếu với qui định của pháp luật, lấy đó làm cơ sở cho lập luận không có hành vi phạm tội, hoặc lấy đó làm căn cứ để chuyển tội danh có mức hình phạt áp dụng nhẹ hơn tội danh mà bên buộc tội nêu ra phục vụ cho hoạt động tranh luận trước tòa án, hoặc đưa ra những căn cứ dựa trên đặc điểm về nhân thân, các tình tiết khách quan và chủ quan trên thực tế dẫn đến hành vi phạm tội và dựa theo qui định của pháp luật đề nghị tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt áp dụng cho bị cáo trước tòa.
Với tất cả những điều đã nêu trêm có thể hiểu: Gỡ tội là một dạng hoạt động tố tụng hình sự của chủ thể được pháp luật cho phép, có quyền sử dụng tất cả các biện pháp mà pháp luật không cấm để chống lại, bác bỏ, phủ nhận lời buộc tội của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội trong vụ án” 1. Khái niệm chủ thể gỡ tội trong tố tụng hình sự Như ban đầu đã nói hoạt động buộc tội là hoạt động đi trước, hoạt động gỡ tội gỡ tội là hoạt động đi sau. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Pháp 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lệnh tổ chức điều tra hình sự quy định các cơ quan tiến hành tố tụng. Tại Điều 3 Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự qui định : “Cơ quan điều tra tiến hành điều tra tất cả các tội phạm, áp dụng mọi biện pháp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và người đã thực hiện hành vi phạm tội, lập hồ sơ, đề nghị truy tố; tìm ra nguyên nhân, điều kiện phạm tội và yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa”.
Điều 12 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, nhằm bảo đảm: 1. Mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội; 2. Không để người nào bị khởi tố, bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế các quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm một cách trái pháp luật; 3.