Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 1. Quyền con người và bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự 1. Quyền con người và quyền con người trong tố tụng hình sự QCN là một khái niệm mang tính chất toàn cầu và được sử dụng ngày càng phổ biến trong các quan hệ quốc tế. QCN được tiếp cận dưới các góc độ khác nhau, nên QCN là một phạm trù đa diện và quan điểm về QCN phụ thuộc vào từng góc độ tiếp cận đó.
QCN gắn liền với việc bảo đảm QCN, bởi bảo đảm QCN trong những tiêu chí để đánh giá bản chất của một Nhà nước pháp quyền và mức độ dân chủ của một quốc gia. Phải đến thế kỷ thứ XVII, XVIII QCN mới được phát triển thành học thuyết với những quan điểm khác nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng, QCN mang tính tự nhiên. Bởi QCN là những gì bẩm sinh, vốn có mà mọi cá nhân sinh ra đều được hưởng.
Các quyền con người không phụ thuộc vào phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa hay ý thức của bất cứ cá nhân, giai cấp, tầng lớp, tổ chức, cộng đồng hay Nhà nước nào. Vì vậy, không một chủ thể nào, kể cả Nhà nước có thể ban phát hay tước bỏ các quyền con người bẩm sinh, vốn có của các cá nhân [14, tr. Quan điểm thứ hai cho rằng, QCN được đặt trong tổng hòa các mỗi quan hệ xã hội. Quan điểm này nhấn mạnh đến yếu tố lịch sử - xã hội của QCN.
Bởi QCN là một giá trị nhân loại, đồng thời là một khái niệm có tính lịch sử, hình thành trong cuộc đấu tranh giai cấp và được bổ sung những nội dung mới qua các thời đại khác nhau. QCN không phải là khái niệm trừu 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tượng, cũng không chỉ là quyền cá nhân con người mang tính tự nhiên bẩm sinh mà luôn gắn liền với đấu tranh giai cấp, gắn liền với sự phát triển của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Quan điểm này cho rằng QCN chỉ có trong xã hội có đấu tranh chống áp bức bóc lột, chống bất công trong xã hội; gắn với trình độ phát triển và tiến bộ xã hội; chịu sự hạn định của chế độ kinh tế, đặc biệt của chế độ chính trị - Nhà nước [29, tr. Sự khác nhau đó đã dẫn đến có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm QCN và sự đa dạng về cách hiểu, cách tiếp cận QCN là nguyên nhân của những tranh luận.
Ở cấp độ quốc tế, Văn phòng cao ủy Liên Hợp Quốc cho rằng: “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người” [61, tr. Như vậy, quan điểm này đã nhấn mạnh chỉ có pháp luật và pháp luật phải ghi nhận, bảo đảm QCN như những bảo đảm toàn cầu. Ở cấp độ quốc gia, TS. Trần Quang Tiệp cho rằng: “Quyền con người là những đặc lợi vốn có tự nhiên mà chỉ con người mới được hưởng trong những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định” [48, tr.
PGS Lê Cảm có quan điểm: Quyền con người - một phạm trù lịch sử cụ thể, là giá trị xã hội cao quý nhất được thừa nhận chung của nền văn minh nhân loại và là đặc trưng tự nhiên vốn có cần được tôn trọng và không thể bị tước đoạt của bất kỳ cá nhân con người nào sinh ra trên trái đất, đồng thời phải được bảo vệ bằng pháp luật bởi các quốc gia - thành viên Liên Hợp Quốc, cũng như bởi cộng đồng quốc tế [2, tr. Như vậy, hai quan điểm này ngoài việc nhấn mạnh đến yếu tố lịch sử, tự nhiên và xã hội của QCN, còn nhấn mạnh đến pháp luật - một công cụ để 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bảo đảm QCN. Mỗi quan điểm đều có cách tiếp cận dưới các khía cạnh khác nhau và đều có tính hợp lý của nó. Như vậy, có thể nêu ra một số đặc trưng cơ bản của QCN như sau: Thứ nhất, QCN là những giá trị bất biến, vĩnh cửu và không thể phân chia hoặc xâm phạm (tước đoạt).
Các giá trị đó gắn bó chặt chẽ đối với mỗi con người cả ở cấp độ cá nhân lẫn cấp độ xã hội. Thứ hai, QCN là những giá trị mang tính đa quốc gia (quốc tế), được sự quan tâm của toàn nhân loại, tất cả các quốc gia và mỗi cá nhân trong xã hội. Luôn luôn phổ biến, hiện hữu và được thừa nhận chung, phải được thực hiện và bảo đảm ở mọi nơi. Phải được cụ thể hóa bằng các thế chế thành các quyền năng cụ thể và phải có cơ chế kiểm tra việc thực thi nó trong thực tế ở mọi cấp độ (quốc tế và quốc gia).
Song bên cạnh tính phổ biến chung, thì QCN còn có tính đặc trưng riêng biệt, do con người chỉ được thụ hưởng quyền trong những điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội, trong từng giai đoạn khác nhau của xã hội loài người và trong từng quốc gia. Thứ ba, QCN vừa mang tính chất tự nhiên vừa mang tính chất xã hội. Do đó, QCN phải được thể chế hóa thành các quy định pháp luật, ghi nhận nó thành các quyền, bảo đảm thực thi và bảo đảm quyền đó nếu bị vi phạm. Bởi con người sinh ra tự thân sẽ có những QCN nhưng chỉ trong xã hội có pháp luật, thì con người mới được hưởng quyền và được bảo đảm quyền.
Có thể thấy, chỉ thông qua pháp luật và cùng với thiết chế giám sát, kiểm tra việc thực hiện nó thì những giá trị QCN mang tính chất tự nhiên và xã hội mới bền vững và hiệu quả được. Với các đặc trưng về QCN trên, có thể khẳng định QCN luôn là mục đích chung phải hướng đến và đạt được của nhân loại, đồng thời khẳng định rõ tính lịch sử, tính chính trị - xã hội với hai cơ sở tự nhiên và xã hội của QCN. Như vậy, tác giả cho rằng: Quyền con người là sự kết hợp giữa quyền 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tự nhiên và quyền xã hội, được ghi nhận và bảo đảm bằng pháp luật ở cấp độ quốc tế và quốc gia, đồng thời được bảo đảm thực thi và giám sát trong thực tế bởi các cơ chế khác nhau. QCN trong TTHS được các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm do ở lĩnh vực này liên quan đến những quyền cơ bản thiết thân, những tự do cá nhân tối thiểu cần phải có trong đời sống hằng ngày của con người.
Ở bình diện khái quát nhất, QCN trong TTHS được thể hiện ở hai khía cạnh: Thứ nhất, trừng trị người phạm tội gây ra những thiệt hại cho các quyền và lợi ích hợp pháp của con người, của các cơ quan tiến hành tố tụng, góp phần bảo vệ quyền con người; Thứ hai, khi THTT giải quyết vụ án, các cơ quan THTT có trách nhiệm tôn trọng và bảo đảm QCN của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Các cơ quan THTT, người THTT không được lợi dụng quyền tiến hành giải quyết vụ án xâm phạm đến quyền của những người nêu trên. Tuy nhiên, phạm vi QCN trong TTHS liên quan đến thực hành quyền công tố hẹp hơn không bao gồm cả hai khuynh hướng trên mà chỉ là sự ghi nhận và bảo đảm quyền của những người yếu thế trong xã hội, bao gồm người bị bắt, bị tạm giữ, bị tình nghi phạm tội hoặc người bị kết án tránh sự lạm dụng người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. QCN trong tố tụng hình sự có những đặc điểm sau: Thứ nhất, đối tượng của quyền con người trong TTHS là quyền của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội, bao gồm: (a) Người bị tình nghi phạm tội đang trong quá trình giải quyết vụ án, đang bị các cơ quan THTT áp dụng biện pháp cưỡng chế của TTHS nhằm xác định sự thật khách quan vụ án.
Những người này có thể là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và theo quy định của pháp luật họ chưa bị coi là người phạm tội mà mới chỉ là người bị tình nghi phạm tội; (b) Người phạm tội bị kết án và phải chấp hành hình phạt do Tòa án tuyên. Khác với người tình nghi phạm tội, đây là 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người đã được các cơ quan THTT chứng minh và phán quyết là có tội, bị tuyên áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của họ phù hợp với quy định của pháp luật và được phán quyết bởi thủ tục TTHS công bằng, khách quan; (c) Nhóm người tham gia tố tụng do có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án: Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người bào chữa…. Những người này ngoài việc tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho mình, họ còn góp phần làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án và góp phần bảo đảm cho sự công bằng trong quá trình giải quyết vụ án. Thứ hai, QCN trong TTHS được quy định trong pháp luật quốc gia dựa trên các tiêu chí quốc tế về quyền con người trong các văn bản pháp luật quốc tế.
QCN nói chung và trong TTHS nói riêng được ghi nhận trong các văn bản pháp luật là tiền đề để quyền con người được bảo đảm thực thi trong đời sống. Thông qua các quy định của luật TTHS, Nhà nước trao cho con người những phương tiện cần thiết để bảo vệ các quyền của mình và thiết lập các cơ chế để giải quyết cũng như bảo đảm các quyền của các chủ thể tham gia tố tụng. QCN được quy định trong pháp luật TTHS bởi các lý do sau: (1) Pháp luật TTHS là công cụ hữu hiệu của Nhà nước trong việc thực hiện, bảo vệ QCN, quyền công dân trong các hoạt động TTHS; (2) Pháp luật TTHS chi phối hoạt động của các cơ quan THTT, người THTT trong việc bảo đảm các QCN, quyền công dân trong các hoạt động TTHS. Do đó, QCN trong THHS là tập hợp các quyền thuộc nhóm quyền dân sự, chính trị nhằm mục đích khẳng định danh dự nhân phẩm của con người trong mọi hoàn cảnh, bảo vệ các cá nhân khỏi sự tùy tiện và sự lạm quyền của các cơ quan và nhân viên Nhà nước trong các hoạt động tố tụng hình sự.