Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI 1. Một số khái niệm liên quan đến bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội 1. Khái niệm quyền con người và bảo đảm quyền con người Quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Quyền con người cũng được xác định như là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ mang tính phổ biến, tính không thể tước bỏ, tính không thể phân chia và tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau.
Nhờ có những chuẩn mực này, nhân loại mới được bảo vệ nhân phẩm và mới có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tư cách là một con người. Theo Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về QCN thì QCN là những bảo đảm pháp lý mang tính toàn cầu xác định trách nhiệm của mỗi quốc gia bảo vệ các cá nhân chống lại sự thờ ơ của mỗi quốc gia gây tổn hại nhân phẩm và các quyền tự do cơ bản của con người. Trong tài liệu mang tính giáo dục phổ cập của Liên hợp quốc về QCN thì QCN là những nhu cầu tự nhiên cơ bản gắn liền với mỗi cá nhân được các quốc gia cũng như cộng đồng quốc tế tôn trọng bảo đảm và bảo vệ. Chúng ta có thể tìm thấy trong các văn kiện quốc tế về quyền con người trong tố tụng hình sự như: Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm 1948 (UHDR); Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR); Những nguyên tắc cơ bản trong việc đối xử với tù nhân; Công ước chống tra tấn, đối xử vô nhân đạo và hạ nhục con người năm 1985… Quyền 6 con người trong tố tụng hình sự chính là sự cụ thể quyền được sống, quyền được tự do trong lĩnh vực tố tụng hình sự.
Đây được coi là tiêu chuẩn về nhân quyền trong tố tụng hình sự. Theo đó, quyền con người trong tố tụng hình sự bao gồm những quyền sau “Điều 10, 11 UHDR và Điều 14, 15 ICCPR”: Quyền được xét xử công bẳng bởi một thủ tục tố tụng hình sự; Quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm và quyền tự do cá nhân khác. Mọi trường hợp áp dụng các biện pháp cưỡng chế trách nhiệm hình sự phải trên cơ sở luật định; Quyền được suy đoán vô tội; Quyền được bào chữa và biện hộ, quyền không bị xét xử quá mức chậm trễ; Người chưa thành niên phải được áp dụng thủ tục tố tụng hình sự đặc biệt; Quyền kháng cáo bản án để xét xử phúc thẩm, quyền được nhanh chóng minh oan, quyền không bị kết tội hai lần về cùng một hành vi…; Những quyền trên là những quyền của người bị buộc tội là đối tượng quan trọng nhất cần bảo vệ trong tố tụng hình sự. Trải qua rất nhiều giai đoạn quá trình lịch sử lâu dài, Việt Nam bắt đầu coi QCN cũng là vấn đề khoa học từ những năm 90 mà cho đến nay, Hiến pháp 2013 coi trọng QCN hơn thể hiện ở chỗ đẩy quy định từ Chương V thành Chương 2 quy định quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
Cho đến nay, Việt Nam đã tham gia phần lớn và cam kết thực hiện ở cả hai phương diện lập pháp và cam kết thực hiện thực tiễn các văn kiện về quyền con người, điều đó được thể hiện trong Bộ Luật Tố tụng hình sự của nước ta ở mức độ khác nhau. Bộ luật tố tụng hình sự 2015 có các nguyên tắc như: Thừa nhận Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền xét xử các vụ án hình sự; Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân; Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể; Bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; danh dự, uy tín, tài sản của 7 pháp nhân, suy đoán vô tội; Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự…[5]. Từ việc nghiên cứu quyền con người trong tố tụng hình sự có thể đưa ra định nghĩa về quyền con người trong tố tụng hình sự như sau: Quyền con người trong tố tụng hình sự là những bảo đảm pháp lý xác định trách nhiệm của quốc gia bảo vệ các cá nhân, pháp nhân chống lại sự gây tổn hại nhân phẩm và các quyền tự do cơ bản của cá nhân, pháp nhân đó khi họ tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình sự mà nhà nước có nghĩa vụ phải ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật và bảo đảm thực hiện trên thực tế. Khái niệm người bị buộc tội Theo quy định của BLTTHS 2015, người bị buộc tội bao gồm người bị bắt, người bị buộc tội là những người tham gia tố tụng có vị trí trung tâm trong quá trình giải quyết vụ án.
Họ là người bị cơ quan tiến hành tố tụng coi là người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được BLHS quy định là tội phạm. Theo Khoản 1 Điều 31 Hiến pháp 2013 quy định: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” [33]. a) Người bị bắt, người bị tạm giữ là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ. Họ là những người bị nghi thực hiện tội phạm và đối với họ đã có quyết định tạm giữ của người có thẩm quyền.
Người bị bắt, người bị tạm giữ có những đặc điểm sau: - Về nội dung: khi có căn cứ cho rằng một người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; người mà bị người khác có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm và thấy cần ngăn chặn ngay việc 8 người đó bỏ trốn; người mà thấy có dấu hiệu của tội phạm nên cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ; người mà bị phát hiện đang thực hiện tội phạm; người có lệnh truy nã hoặc người tự thú sau khi thực hiện tội phạm. Đối với trường hợp bắt khẩn cấp, bị bắt do phạm tội quả tang, người tự thú, đầu thú, người bị tạm giữ bị nghi thực hiện tội phạm, nhưng chưa bị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, để kịp thời ngăn chặn tội phạm, không để người đó tiếp tục phạm tội hay phạm tội mới, để người đó không có điều kiện cản trở việc điều tra, xác minh, thu thập chứng cứ… BLTTHS quy định cần phải cách ly họ trong thời hạn nhất định. - Về hình thức: đối với người đó đã có quyết định tạm giữ của người có thẩm quyền theo quy định của BLTTHS.
Theo quy định tại điều 110 và 117 BLTTHS 2015 thì Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra hoặc những người có thẩm quyền khác có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ. - Về thủ tục và thời hạn tạm giữ: Theo quy định của BLTTHS thì Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra hoặc người có thẩm quyền khác ra quyết định tạm giữ trong thời hạn ba ngày. Quyết định tạm giữ được gửi cho Viện kiểm sát, có thể được gia hạn hai lần, mỗi lần không quá ba ngày; Trong mọi trường hợp gia hạn tạm giữ, quyết định gia hạn tạm giữ phải được Viện kiểm sát cùng cấp để phê chuẩn. b) Bị can, bị cáo theo Điều 60 và Điều 61 BLTTHS 2015 định nghĩa bị can được thay đổi như sau: “Bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự”.
Quyền và nghĩa vụ của bị can là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. “Bị cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử”. Quyền và nghĩa vụ của bị cáo là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của pháp luật TTHS [5]. 9 Sau khi Cơ quan điều tra kết thúc điều tra, thấy rằng có đủ chứng cứ để khẳng định rằng bị can đã phạm tội do BLHS quy định thì đề nghị Viện kiểm sát truy tố ra trước Tòa án.
Trong quá trình chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa thấy rằng có đủ điều kiện để đưa vụ án ra xét xử mà không phải trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung, không có căn cứ để đình chỉ hay tạm đình chỉ vụ án thì ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Kể từ thời điểm này, bị can trở thành bị cáo trong vụ án hình sự. Cũng như bị can, bị cáo là người bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị buộc tội. Tuy nhiên, một điểm khác biệt quan trọng giữa bị cáo và bị can là bị cáo tham gia tố tụng trong một cơ chế tố tụng hoàn chỉnh, đầy đủ những người tham gia tố tụng, các cơ quan, người tiến hành tố tụng với chức năng buộc tội, gỡ tội, xét xử; thực hiện các quyền tố tụng của mình trong phiên tòa công khai, dân chủ và bình đẳng.
Rõ ràng, so với bị can tham gia tố tụng (nhất là hỏi cung) trong môi trường chỉ có người buộc tội, (trường hợp cá biệt mới có người bào chữa, người chứng kiến), bị cáo tham gia tố tụng trong phiên tòa công khai, không chỉ có mặt những người tham gia tố tụng, mà còn có sự chứng kiến của công chúng. Trong quá trình xét xử, người tiến hành tố tụng khó có khả năng sử dụng các biện pháp trái pháp luật, vi phạm quyền con người của bị cáo (như đe doạ bức cung, dùng nhục hình, mua chuộc nhận tội…); trong khi đó, đối với bị can thì tình trạng này dễ xảy ra hơn.