Chương 1. Cơ sở lý luận và pháp lý giải quyết khiếu nại về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận; Chương 2. Thực trạng giải quyết khiếu nại về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh; Chương 3. Phương hướng, giải pháp hoàn thiện đảm bảo hoạt động giải quyết khiếu nại về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ THU HỒI ĐẤT, BỒI THƢỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƢ CỦA CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN 1. Khái quát về giải quyết khiếu nại về thu hồi đất, bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận 1. Các Khái niệm cơ bản liên quan 1. Khái niệm Khiếu nại Khiếu nại, xuất phát từ tiếng Latinh “Complant”, mang ý nghĩa là sự không hài lòng, sự phản đối hay phàn nàn của một cá nhân về những vấn đề ảnh hưởng đến quyền lợi của họ [43, tr 205].
Như vậy, từ gốc La tinh, khái niệm khiếu nại có phạm vi rất rộng, có thể hiểu là phản ứng giữa các cá nhân với nhau hoặc giữa công dân và các cơ quan nhà nước. Theo Đại Từ điển tiếng Việt, khiếu nại được hiểu là hành động thể hiện sự không đồng tình và yêu cầu xem xét lại các quyết định hoặc kết luận của cơ quan có thẩm quyền [56, tr 904]. Khái niệm này làm rõ rằng đối tượng của khiếu nại chính là các kết luận và quyết định đã được xác nhận bởi những cơ quan có trách nhiệm. Tuy nhiên, nó vẫn chưa đề cập đến một khía cạnh quan trọng khác đó là hành vi của những cơ quan này.
Nếu nhìn từ một góc độ hẹp hơn, GS.TS Phạm Hồng Thái cho rằng khiếu nại là “phản ứng tự nhiên của con người trước một hành động nào đó mà họ cho là không phù hợp với các quy tắc xã hội hoặc xâm phạm đến quyền lợi và tự do của bản thân” [19, tr 8]. Theo quan điểm này thì khiếu nại là hành vi không phù hợp, xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại, đây cũng là quan điểm gần gũi với hoạt động khiếu nại trên thực tế. Theo quy định của Luật Khiếu nại năm 2011 thì: “Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi 9 có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình” [30, tr 1]. Qua đó, có thể nhận thấy rằng khiếu nại là sự phản ánh từ cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức bị ảnh hưởng bởi các quyết định hoặc hành vi hành chính đối với các cơ quan nhà nước và những cá nhân có trách nhiệm trong hệ thống hành chính.
Dựa trên những phân tích này, tác giả đưa ra khái niệm rằng: Khiếu nại là quyền của mỗi cá nhân, tổ chức hoặc cơ quan, được thực hiện theo quy trình để yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại các quyết định hành chính, hành vi hành chính từ phía nhà nước hoặc những người có quyền trong cơ quan nhà nước, cũng như các quyết định kỷ luật đối với cán bộ, công chức khi có lý do cho rằng những quyết định hoặc hành vi đó vi phạm pháp luật và xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của họ. Khái niệm giải quyết khiếu nại Nếu khiếu nại được xem là quyền của công dân, thì việc GQKN lại là trách nhiệm của các chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Điều này được ghi nhận tại Điều 30 của Hiến pháp năm 2013, nêu rõ rằng “các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận và giải quyết khiếu nại. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về cả vật chất lẫn tinh thần.
Ngoài ra, Luật Khiếu nại năm 2011 cũng quy định rằng “các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các khiếu nại, xử lý nghiêm minh những người vi phạm; áp dụng các biện pháp cần thiết để ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra; đảm bảo cho quyết định giải quyết khiếu nại được thực hiện nghiêm túc và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình” [30, tr 3]. Theo Từ điển Luật học của Bộ Tư pháp, GQKN được định nghĩa là “xem xét, xác minh, kết luận và quyết định theo trình tự, thủ tục do luật định đối với các khiếu nại liên quan đến quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước, 10 nhằm đề nghị xem xét lại quyết định hoặc hành vi hành chính đó khi có căn cứ cho rằng chúng là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại” [6, tr 9]. Theo khái niệm này, tác giả cho rằng chưa giải quyết được vấn đề của khiếu nại, mới chỉ dừng lại ở việc “xem xét”, còn kết quả khiếu nại và trách nhiệm giải quyết chưa được đề cập tới. Theo quy định của LKN năm 2011, “GQKN là việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định GQKN”; và “người GQKN là các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thực hiện việc này” [30, tr 2].
Mục đích của GQKN là bảo vệ quyền lợi của công dân; cho phép cơ quan nhà nước tự kiểm tra tính đúng đắn, hợp pháp và hợp lý của các quyết định hoặc hành vi hành chính mà người dân đã khiếu nại. Tác giả hoàn toàn tán thành với khái niệm này vì nó bao gồm cả quy trình khiếu nại và đưa ra kết luận cuối cùng để đáp ứng nguyện vọng của người dân, phù hợp với quy định của Hiến pháp và pháp luật. Khái niệm giải quyết khiếu nại về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Khái niệm về việc Nhà nước THĐ được quy định tại Khoản 11 Điều 3 của Luật Đất đai năm 2013. Theo đó, THĐ là hành động mà cơ quan nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất từ những người đã được giao quyền hoặc từ những cá nhân vi phạm các quy định pháp luật liên quan đến đất đai.
Đến Luật Đất đai năm 2024, khái niệm này được làm rõ hơn trong Khoản 35 Điều 3, trong đó nêu rằng Nhà nước THĐ là hành động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quyết định thu hồi quyền sử dụng đất từ người đang sử dụng hoặc quản lý đất đó. Hiện nay, Luật Đất đai năm 2013 và năm 2024 sử dụng cụm từ “bồi thường về đất”, theo khoản 12 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 và khoản 5 Điều 3 Luật Đất đai năm 2024 thì:“Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất của diện tích đất thu hồi…” [32, tr 3] [35, tr 2]. Theo quy định tại Khoản 14 Điều 3 của Luật Đất đai năm 2013, việc hỗ trợ cho những người bị THĐ nhằm giúp họ ổn định cuộc sống, sản xuất và phát triển. 11 Khái niệm này đã được điều chỉnh trong khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai năm 2024 như sau: “Hỗ trợ khi Nhà nước THĐ là chính sách của Nhà nước nhằm trợ giúp cho người có đất bị thu hồi, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển, ngoài các khoản đã bồi thường theo quy định của Luật này” [35, tr 3].
Luật Đất đai năm 2013 chưa giải thích rõ khái niệm tái định cư (TĐC). Theo Điều 3 Luật Đất đai năm 2024, TĐC được hiểu là hành động của Nhà nước bồi thường cho người có đất bị thu hồi bằng một mảnh đất ở hoặc nhà ở tại khu tái định cư hoặc nơi khác phù hợp. Nếu người dân không đủ điều kiện để nhận bồi thường về đất ở nhưng không còn chỗ ở nào khác, họ sẽ được hỗ trợ bằng cách giao đất ở hoặc nhà ở TĐC. Như vậy, TĐC bao gồm việc bố trí cho người sử dụng đất một nơi ở mới thông qua hai hình thức chính: bồi thường bằng nhà ở mới hoặc cấp đất ở.
Khiếu nại về THĐ, bồi thường, hỗ trợ và TĐC là quá trình mà những người có đất bị thu hồi theo quy định của pháp luật khiếu nại và pháp luật về đất đai gửi yêu cầu đến các cơ quan có thẩm quyền xem xét lại các quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính liên quan đến THĐ, bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi họ cho rằng những quyết định hoặc hành vi đó vi phạm pháp luật, xâm hại đến quyền lợi hợp pháp của mình. Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, UBND quận có thẩm quyền ban hành các quyết định hành chính như: Quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; Quyết định THĐ, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai, và các quyết định khác liên quan. Thẩm quyền của Chủ tịch UBND quận bao gồm việc ban hành các quyết định hành chính như: Quyết định kiểm đếm bắt buộc, Quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc, Quyết định cưỡng chế thực hiện Quyết định THĐ, Quyết định trưng dụng đất, và Quyết định gia hạn trưng dụng đất. 12 Như vậy, có thể nhận thấy rằng Luật Đất đai năm 2013 đã phân định rõ thẩm quyền của UBND quận và Chủ tịch UBND quận trong việc ra các quyết định về THĐ, bồi thường, hỗ trợ, TĐC.
Còn đối với hành vi hành chính trong lĩnh vực THĐ, bồi thường, hỗ trợ và TĐC, có thể hiểu là hành vi của các chủ thể có thẩm quyền thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật trong lĩnh vực này.