CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN HỦY BẢN ÁN SƠ THẨM CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. Cơ sở lý luận qui định quyền hủy bản án sơ thẩm của Hội đồng xét xử phúc thẩm trong tố tụng dân sự Hoạt động xét xử các vụ án dân sự ở nước ta được tiến hành theo nguyên tắc hai cấp xét xử. “Cấp xét xử được hiểu là hình thức tổ chức tố tụng thể hiện quan điểm của Nhà nước về xét xử các vụ án nhằm bảo đảm tính chính xác, khách quan trong phán quyết của Toà án, bảo vệ các quyền tự do dân chủ của công dân6”. Trong nguyên tắc hai cấp xét xử, xét xử sơ thẩm là “giai đoạn đầu tiên Tòa án tiếp nhận, thụ lý và xét xử vụ án dân sự.
Kết quả của cấp xét xử sơ thẩm là việc Tòa án sơ thẩm có thể ban hành một trong các quyết định sơ thẩm hoặc/và bản án sơ thẩm7”; còn xét xử phúc thẩm là “việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị8”. Nguyên tắc hai cấp xét xử là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự nhiều nước trên thế giới. Nguyên tắc hai cấp xét xử cũng được các Tổ chức quốc tế đề cao, được ghi nhận trong các công ước quốc tế, như Công ước về quyền dân sự và chính trị của Liên hợp quốc. Nguyên tắc hai cấp xét xử được tổ chức thực hiện bằng các qui định cụ thể trong pháp luật tố tụng của mỗi quốc gia9.
Trong lịch sử pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, ngay từ Hiến pháp đầu tiên năm 1946, nguyên tắc hai cấp xét xử đã được thể hiện khi qui định về cơ cấu tổ chức của hệ thống Tòa án nước ta10. Hiến pháp 2013 dành hẳn một điều để khẳng định nguyên tắc hai cấp xét xử trong chế độ xét xử của Tòa án nước ta: “Chế độ xét 6 Trần Văn Độ (2007), “Nguyên tắc hai cấp xét xử và việc áp dụng nguyên tắc đó vào việc tổ chức Tòa án các cấp”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (số 05/2007). 7 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, NXB Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam, Hà Nội (2012), tr. 8 Điều 242, Bộ luật Tố tụng dân sự 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011.
9 Xem thêm: Trần Văn Độ (2007), “Nguyên tắc hai cấp xét xử và việc áp dụng nguyên tắc đó vào việc tổ chức Tòa án các cấp”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (số 05/2007). 10 Xem thêm Điều 63, Hiến pháp Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, năm 1946. 8 xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm11”. Trên cơ sở qui định của Hiến pháp, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân qua các thời kỳ đều khẳng định nguyên tắc hai cấp xét xử trong hệ thống Tòa án nước ta, như: “Toà án nhân dân thực hành chế độ hai cấp xét xử.
Đương sự có quyền chống bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân xử sơ thẩm lên Toà án nhân dân trên một cấp. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và trên một cấp có quyền kháng nghị bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Toà án nhân dân12”; hay “Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử. Bản án, quyết định sơ thẩm củaTòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng13”. Để bảo đảm nguyên tắc hai cấp xét xử, luật qui định các bản án, quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực ngay, mà được trù liệu một thời hạn nhất định để cho các đương sự thực hiện quyền kháng cáo, Viện kiểm sát thực hiện quyền kháng nghị14.
Nếu hết thời hạn đó mà các chủ thể có quyền kháng cáo, kháng nghị không thực hiện việc kháng cáo, kháng nghị thì bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và được đưa ra thực hiện. Trong trường hợp bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì không có hiệu lực pháp luật và sẽ phải được xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm15. Từ việc bảo đảm thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng dân sự, pháp luật tố tụng dân sự qui định thẩm quyền của cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm có những đặc trưng khác nhau. Quyền hủy bản án sơ thẩm của Hội đồng xét xử phúc thẩm trong tố tụng dân sự có những đặc trưng như sau: Thứ nhất là bảo đảm quyền lợi của đương sự phải được xem xét giải quyết ở hai cấp xét xử.
Trong quá trình xét xử phúc thẩm vụ án dân sự, có thể Hội đồng xét xử phúc thẩm phát hiện những vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng như thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng qui định, Tòa án cấp sơ thẩm không phát hiện và triệu tập đầy đủ những người có quyền và nghĩa vụ liên quan tham gia vào việc giải quyết vụ án. hoặc việc chứng minh và thu thập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm không theo đúng qui định của pháp luật hay chưa được thực hiện đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được. Những thiếu sót, vi phạm đó, có thể 11 Điều 6, Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, năm 2013. 12 Điều 9, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960.
13 Điều 11, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002. 14 Điều 17, 245, 250 Bộ luật TTDS 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011. 15 Xem thêm: Tống Công Cường (2006), “Quan niệm về nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng dân sự nước ta”, http://thongtinphapluatdansu.vn/2010/02/12/4458-2/ 9 làm ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự trong vụ án. Do những vi phạm ở cấp sơ thẩm mà đương sự không thể thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình một cách đầy đủ, trọn vẹn, theo đúng qui định của pháp luật.
Tại cấp phúc thẩm, nếu tiếp tục giải quyết vụ án, dù cho có triệu tập bổ sung những người có quyền và nghĩa vụ liên quan hay xét xử với thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm theo đúng qui định, thì chỉ bảo đảm sự tham gia, bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự ở một cấp xét xử là phúc thẩm; còn tại cấp sơ thẩm trước kia, các đương sự vốn không được bảo vệ quyền và lợi ích đầy đủ vẫn không thể khắc phục được. Nói cách khác, nếu cấp phúc thẩm tiếp tục xét xử trong những trường hợp có thiếu sót, vi phạm nêu trên thì nguyên tắc hai cấp xét xử chưa được bảo đảm. Cho nên, để bảo đảm yêu cầu của đương sự phải được xem xét, giải quyết ở hai cấp xét xử thì Hội đồng xét xử buộc phải hủy bản án, quyết định sơ thẩm và giao hồ sơ vụ án về Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại vụ án. Điều này là nhằm bảo đảm quyền lợi của đương sự phải được xem xét giải quyết ở hai cấp xét xử, bảo vệ quyền, lợi ích của con người trong hoạt động tố tụng dân sự mà pháp luật đã ghi nhận.
Thứ hai là bảo đảm hiệu quả hoạt động xét xử VADS của Tòa án cấp sơ thẩm. Mục đích của việc xét xử là nhằm bảo đảm sự thật khách quan của vụ án, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tất cả các bên đương sự. Cho nên ngay trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án dân sự lần đầu, cấp sơ thẩm phải giải quyết tất cả những vấn đề liên quan trong vụ án và đưa ra phán quyết thấu tình, đạt lý. Tuy nhiên, không phải bản án, quyết định sơ thẩm nào cũng đạt được mục đích trên ngay từ lần xét xử đầu tiên.
Trong thực tế, có những vụ án do tính chất phức tạp, Hội đồng xét xử sơ thẩm chưa thể phát hiện hết các tình tiết của vụ án, chưa thu thập đầy đủ chứng cứ hay phát hiện và triệu tập đầy đủ các đương sự, người liên quan. nên có thể dẫn đến việc sai sót, vi phạm trong quá trình giải quyết và ban hành bản án. Hoạt động xét xử cấp phúc thẩm có thể phát hiện những thiếu sót, vi phạm này và hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án về cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án. Qua hoạt động xét xử lại vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, giúp cho Tòa án cấp sơ thẩm nhận thấy những thiếu sót, vi phạm và khắc phục, từ đó hoạt động xét xử vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm ngày càng được nâng cao.
Mặt khác, hủy bản án sơ thẩm và giao hồ sơ về cho Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử vụ án để giải quyết lại cũng có tác dụng nâng cao tinh thần trách nhiệm của Thẩm phán Tòa án cấp sơ thẩm trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm. 10 Như vậy, Nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng dân sự nước ta là một tư tưởng chủ đạo, có tính bắt buộc chung. Nguyên tắc này thể hiện quan điểm của Nhà nước trong việc tổ chức hoạt động tố tụng dân sự là nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong việc bảo vệ quyền và các lợi ích hợp pháp cho tất cả các chủ thể tham gia. Thông qua hai cấp xét xử, vụ án dân sự sẽ có điều kiện được xem xét một cách khách quan, chính xác và toàn diện hơn, hạn chế được nhiều thiếu sót hơn nếu chỉ được xét xử ở một cấp.
Qua hai cấp xét xử, sự thật khách quan của vụ án dễ được nhận thấy, từ đó những phán quyết của Tòa án được khách quan, chính xác, toàn diện hơn, bảo đảm cao hơn quyền và lợi ích hợp pháp của các thủ thể tham gia tố tụng. Nguyên tắc hai cấp xét xử góp phần thực hiện cơ chế bảo vệ quyền con người trong tố tụng dân sự. Nó phản ánh bản chất pháp luật của một nước. Nhà nước ta là Nhà nước xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân, vì dân cho nên vấn đề bảo vệ quyền con người trong các hoạt động tố tụng (trong đó có tố tụng dân sự) được đặc biệt xem trọng.