Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Đại diện theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam" do nghiên cứu sinh Chu Thị Lam Giang thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Hải An, thuộc chuyên ngành Luật dân sự và tố tụng dân sự (mã số: 9 38 01 03), bảo vệ năm 2023.

+-----------------------------------------------------------------------------------+
| THÔNG TIN TỔNG QUAN VỀ LUẬN ÁN TIẾN SĨ                                           |
+---------------------+-------------------------------------------------------------+
| Tên đề tài          | Đại diện theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam       |
| Tác giả             | Chu Thị Lam Giang                                           |
| Người hướng dẫn     | TS. Nguyễn Hải An                                           |
| Cơ sở đào tạo       | Trường Đại học Luật Hà Nội (Bộ Giáo dục & ĐT - Bộ Tư pháp)  |
| Chuyên ngành        | Luật dân sự và tố tụng dân sự                               |
| Mã số chuyên ngành  | 9 38 01 03                                                  |
| Năm hoàn thành      | 2023                                                        |
+---------------------+-------------------------------------------------------------+

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Chế định đại diện là phương thức pháp lý giúp các chủ thể tham gia vào các quan hệ dân sự thông qua hành vi của chủ thể khác, đặc biệt có ý nghĩa bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên, người bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi, đồng thời đáp ứng nhu cầu chuyên môn hóa trong sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, qua quá trình áp dụng Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 và BLDS năm 2015, chế định này bộc lộ nhiều điểm bất cập:

  • Thứ nhất, nguy cơ xung đột lợi ích khi người đại diện lợi dụng tư cách đại diện và vị thế nắm giữ thông tin để trục lợi cho bản thân, không hướng đến lợi ích của người được đại diện.
  • Thứ hai, phạm vi đại diện trong BLDS hiện hành bị bó hẹp khi chỉ quy định đại diện nhằm "xác lập, thực hiện giao dịch dân sự", trong khi thực tế đời sống pháp lý đòi hỏi người đại diện phải thực hiện nhiều quan hệ và việc dân sự khác (như yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, yêu cầu hộ tịch, thay đổi họ tên, xác định lại dân tộc cho con chưa thành niên).
  • Thứ ba, việc xác định tiêu chí chọn người đại diện theo pháp luật cho người chưa thành niên và người mất năng lực hành vi dân sự còn phát sinh tranh chấp trên thực tế, nhất là khi cha mẹ ly hôn hoặc khi có sự tham gia đồng thời của cha mẹ và người giám hộ.
  • Thứ tư, thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về đại diện tại Tòa án nhân dân còn tồn tại nhiều vướng mắc, biến tướng nhưng các công trình trước đây mới chỉ tiếp cận ở phạm vi hẹp hoặc từng nhóm quan hệ cụ thể.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật dân sự về đại diện, từ đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật. Luận án xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Xây dựng khái niệm, chỉ ra các đặc điểm, đối tượng của quan hệ đại diện, làm cơ sở phân biệt đại diện trong dân sự với các quan hệ dân sự tương đồng.
  2. Phân tích cụ thể các quy định của pháp luật dân sự hiện hành về đại diện, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng.
  3. Nghiên cứu so sánh quy định pháp luật về đại diện của một số quốc gia trên thế giới với pháp luật Việt Nam nhằm rút ra kinh nghiệm lập pháp.
  4. Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật và giải quyết tranh chấp về đại diện tại Tòa án để nhận diện các dạng tranh chấp phổ biến và nguyên nhân.
  5. Đưa ra các kiến nghị chung và kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện quy định pháp luật dân sự Việt Nam về đại diện.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận về đại diện trong quan hệ dân sự; quy định của pháp luật dân sự và thực tiễn áp dụng pháp luật dân sự về đại diện tại Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào chế định đại diện trong pháp luật dân sự, trọng tâm là các quy định của BLDS năm 2015, có liên hệ với Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015, Luật Doanh nghiệp (LDN) năm 2020, Luật Hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
  • Phạm vi thời gian và tư liệu: Nghiên cứu các quy định pháp luật thực định hiện hành từ khi BLDS năm 2015 có hiệu lực đến nay; khảo cứu lịch sử pháp luật dân sự Việt Nam qua các thời kỳ (BLDS Nam Kỳ giản yếu 1884, BLDS Bắc Kỳ 1931, BLDS Trung Kỳ 1936, các Sắc lệnh sau năm 1945, BLDS và Thương sự Sài Gòn 1972, BLDS 1995, BLDS 2005); đối chiếu pháp luật nước ngoài và khảo sát thực tiễn qua các bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án nhân dân.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã phân loại và tổng thuật hệ thống công trình nghiên cứu liên quan đến chế định đại diện trong và ngoài nước theo các nhóm tài liệu:

+-----------------------------------------------------------------------------------------+
| PHÂN LOẠI HỆ THỐNG TÀI LIỆU THAM KHẢO TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ                            |
+---------------------+-------------------------------------------------------------------+
| Sách chuyên khảo,  | - Vũ Văn Mẫu (1963), Việt Nam Dân luật lược khảo                  |
| giáo trình          | - Nguyễn Mạnh Bách (1974), Dân Luật Việt Nam - Nghĩa vụ          |
|                     | - Đỗ Văn Đại (chủ biên, 2016), Bình luận khoa học những điểm mới  |
|                     |   của Bộ luật Dân sự năm 2015                                     |
|                     | - Nguyễn Văn Cừ & Trần Thị Huệ (đồng chủ biên, 2017), Bình luận   |
|                     |   khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015                                |
|                     | - Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (ĐH Luật Hà Nội: 1997, 2006,    |
|                     |   2022; Khoa Luật - ĐHQGHN: 2002; Đinh Văn Thanh & Nguyễn Minh   |
|                     |   Tuấn: 2017)                                                     |
+---------------------+-------------------------------------------------------------------+
| Đề tài NCKH        | - Nguyễn Minh Tuấn (2016), đề tài cấp trường về điểm mới BLDS 2015|
|                     | - Lê Đình Nghị (2018), đề tài cấp trường về cơ sở lý luận/thực tiễn|
|                     | - Viện Luật So sánh - ĐH Luật Hà Nội (2018), đề tài cấp khoa về   |
|                     |   Hợp đồng vô hiệu trong pháp luật một số nước                    |
+---------------------+-------------------------------------------------------------------+
| Bài báo tạp chí    | - Ngô Huy Cương (2009), Tạp chí Nhà nước và pháp luật             |
| chuyên ngành        | - Nguyễn Thị Phương Châm (2016), Tạp chí Luật học                 |
|                     | - Vũ Lan Phương (2018), Tạp chí Nghiên cứu lập pháp               |
|                     | - Nguyễn Vĩnh Hưng & Nguyễn Khánh Linh (2021), Tạp chí Nghề Luật  |
|                     | - Lê Việt Phương (2017), Tạp chí Dân chủ và pháp luật             |
|                     | - Đỗ Giang Nam & Trần Quang Cường (2021), Tạp chí NN & PL         |
|                     | - Nguyễn Văn Hành (2020), Tạp chí Nghề Luật                       |
|                     | - Bùi Thị Hà (2018), Tạp chí Nghề Luật                            |
|                     | - Phạm Thị Trang (2020), Tạp chí Khoa học Kiểm sát                |
|                     | - Hồ Thị Bảo Ngọc & Nguyễn Ngọc Huy (2021), Tạp chí Nghề Luật     |
+---------------------+-------------------------------------------------------------------+
| Luận án, luận văn   | - Trần Thị Quỳnh Châu (LATS, 2019), Bùi Thị Hà (LATS, 2021)       |
|                     | - Vũ Lan Phương (LVThS, 2018), Đỗ Hoàng Yến (LVThS, 2012)         |
|                     | - Cao Thị Mai Hiên (LVThS, 2017), Nguyễn Thị Lan Anh (LVThS, 2015)|
|                     | - Nguyễn Thị Nhiên (LVThS, 2017), Đỗ Thị Thủy (LVThS, 2021)       |
+---------------------+-------------------------------------------------------------------+
| Tài liệu quốc tế    | - Awet Hailezgi & Addisu Dametie (2009), Ethiopian Law of Agency   |
|                     | - Clark (1862), Representative Responsibility                     |
|                     | - Dalley, A Theory of Agency Law                                  |
|                     | - Dan-Alexandru Sitaru, Romanian Civil Code Review                |
|                     | - Boyle (1995), Minority Shareholders' Remedies                   |
|                     | - American Law Institute (1958), Restatement of Agency (Second)   |
|                     | - Meiners, Ringleb & Edwards (2015), Agency & Employment Relation |
+---------------------+-------------------------------------------------------------------+

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Các công trình trước đây tiếp cận đại diện ở các góc độ chuyên biệt (như đại diện trong hợp đồng, đại diện theo ủy quyền của pháp nhân, đại diện giữa vợ và chồng trong kinh doanh, đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự). Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện từ cơ sở lý luận nền tảng, lịch sử lập pháp, phân tích đối chiếu đa diện các quy định của BLDS năm 2015 với luật chuyên ngành, kết hợp khảo sát thực tiễn áp dụng tại Tòa án để đưa ra hệ thống giải pháp lập pháp đồng bộ về chế định đại diện trong pháp luật dân sự Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết nền tảng

Luận án chỉ ra cơ sở lý luận cho sự hình thành và phát triển của các quy định về đại diện trong quan hệ dân sự là sự tổng hòa của 3 học thuyết:

  1. Học thuyết về sự bình đẳng trong xã hội: Kế thừa tư tưởng của Platon, Aristoteles, Montesquieu, C. Mác, V.I. Lênin và Điều 7 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền 1948. Học thuyết khẳng định mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng trước pháp luật. Đại diện là phương thức bù đắp cho những khiếm khuyết tự nhiên về thể chất, nhận thức hoặc điều kiện thực tế (người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự), giúp họ thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự bình đẳng như mọi chủ thể khác.
  2. Học thuyết về tự do ý chí (will autonomy): Dựa trên tư tưởng triết học của Platon, Immanuel Kant, Arthur Schopenhauer. Học thuyết khẳng định chủ thể có quyền tự định đoạt hành vi, tự do lựa chọn tham gia quan hệ dân sự trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua người khác nhân danh và vì lợi ích của mình. Đây là nền tảng của đại diện theo ủy quyền, đồng thời là cơ sở xác định giới hạn trách nhiệm khi hành vi vượt quá phạm vi hoặc không có quyền đại diện.
  3. Học thuyết về nhà nước và pháp luật: Khẳng định vai trò của nhà nước trong quản lý xã hội và bảo vệ trật tự công cộng, điều tiết các quan hệ pháp luật tư bằng quy phạm pháp luật (như quan điểm của V.I. Lênin về việc can thiệp vào quan hệ pháp luật tư). Đây là cơ sở để nhà nước quy định chặt chẽ các trường hợp đại diện theo pháp luật, điều kiện chủ thể, hình thức ủy quyền và giới hạn phạm vi đại diện.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp luận: Dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
  • Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
    • Phương pháp phân tích: Sử dụng xuyên suốt nhằm giải mã cấu trúc quy phạm, bản chất pháp lý của quan hệ đại diện, quyền và nghĩa vụ của các bên.
    • Phương pháp tổng hợp: Khái quát hóa thực trạng pháp luật và thực tiễn xét xử, hệ thống hóa các nhóm bất cập để hình thành giải pháp.
    • Phương pháp so sánh luật học: So sánh quy định đại diện giữa truyền thống Common Law (Anh, Hoa Kỳ) và Civil Law (Pháp, Đức, Nhật Bản, La Mã cổ đại), cũng như so sánh lịch sử lập pháp Việt Nam qua các thời kỳ.
  • Nguồn tư liệu, dữ liệu: Văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ, điều ước quốc tế, quy tắc pháp lý nước ngoài (Restatement of Agency, Bộ luật Dân sự Pháp, Đức, Nhật Bản, Trung Quốc), giáo trình, tài liệu chuyên khảo và các bản án thực tiễn tại Tòa án nhân dân.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về đại diện trong quan hệ dân sự

Chương 1 tập trung xây dựng nền tảng lý luận, phân tích lịch sử, khái niệm, đặc điểm, đối tượng và phân loại đại diện trong quan hệ dân sự:

  • Khái niệm đại diện: Khảo cứu lịch sử từ Luật La Mã (hợp đồng mandatum, nguyên tắc alien juri), truyền thống Common Law (nguyên lý Qui facit per alium, facit per se, khái niệm agency mang tính ủy thác fiduciary relation), truyền thống Civil Law (tiếp cận đại diện là hành vi pháp lý có hiệu lực trực tiếp ràng buộc người được đại diện) và lịch sử lập pháp Việt Nam. Luận án đưa ra định nghĩa khoa học mới:

    "Đại diện là một quan hệ pháp luật dân sự phát sinh trên cơ sở quy định của pháp luật hoặc theo ủy quyền, theo đó bên đại diện (cá nhân, pháp nhân) nhân danh và vì lợi ích hợp pháp của bên được đại diện (cá nhân, pháp nhân khác) xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự của bên được đại diện trong phạm vi ủy quyền hoặc theo quy định của pháp luật đồng thời bên được đại diện phát sinh các quyền và nghĩa vụ đối với người thứ ba thông qua hành vi đại diện của bên đại diện."

  • Ba đặc điểm đặc thù của quan hệ đại diện:

    1. Là một quan hệ trái quyền: Được hình thành giữa chủ thể quyền (người được đại diện) và chủ thể có nghĩa vụ (người đại diện). Khác với các quan hệ trái quyền thông thường, người đại diện không mang tư cách của chính mình mà mang tư cách của người được đại diện khi thiết lập quan hệ với người thứ ba.
    2. Là căn cứ phát sinh quan hệ bên ngoài giữa người đại diện với người thứ ba: Quan hệ nội bộ (giữa người đại diện và người được đại diện) là cơ sở pháp lý để hình thành quan hệ bên ngoài (giữa người đại diện với người thứ ba). Mọi hành vi trong phạm vi thẩm quyền của người đại diện sẽ phát sinh trực tiếp quyền và nghĩa vụ cho người được đại diện.
    3. Là quan hệ giữa một bên có quyền, nghĩa vụ cần xác lập, thực hiện và một bên có khả năng tham gia xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ đó: Bên đại diện phải có đầy đủ năng lực hành vi và thẩm quyền để thực hiện công việc mà bên được đại diện có quyền và nghĩa vụ hợp pháp.
  • Đối tượng của quan hệ đại diện: Gồm việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự và xác lập, thực hiện các quan hệ dân sự khác (như thực hiện các quyền nhân thân, quyền tài sản ngoài hợp đồng). Đồng thời, luận án chỉ rõ các quan hệ mang tính nhân thân gắn liền với chủ thể không thể thực hiện qua cơ chế đại diện (như kết hôn, ly hôn, lập di chúc).

  • Phân loại và phân biệt đại diện: Phân loại theo nguồn gốc (đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền), theo tư cách chủ thể (cho cá nhân và cho pháp nhân), theo tính chất thời gian (theo vụ việc và thường xuyên). Phân biệt đại diện với chuyển giao quyền yêu cầu/chuyển giao nghĩa vụ, thực hiện công việc không có ủy quyền và quan hệ của người giám hộ/người đồng ý đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

+---------------------------------------------------------------------------------------------+
| BẢNG PHÂN BIỆT ĐẠI DIỆN VỚI MỘT SỐ CHẾ ĐỊNH PHÁP LÝ TƯƠNG ĐỒNG                              |
+-------------------------+-------------------------------+-----------------------------------+
| Chế định pháp lý        | Tư cách nhân danh             | Ràng buộc trách nhiệm             |
+-------------------------+-------------------------------+-----------------------------------+
| Đại diện                | Nhân danh người được đại diện | Hậu quả pháp lý ràng buộc trực    |
|                         |                               | tiếp người được đại diện          |
+-------------------------+-------------------------------+-----------------------------------+
| Ký gửi / Đại lý         | Nhân danh chính mình          | Hậu quả ràng buộc bên nhận ký     |
|                         |                               | gửi/đại lý với người thứ ba       |
+-------------------------+-------------------------------+-----------------------------------+
| Thực hiện công việc     | Nhân danh chính mình hoặc     | Không có ủy quyền trước; chỉ phát |
| không có ủy quyền       | vì lợi ích người có công việc | sinh nghĩa vụ thanh toán sau đó   |
+-------------------------+-------------------------------+-----------------------------------+
| Chuyển giao quyền /     | Chuyển giao hoàn toàn tư cách | Bên chuyển giao chấm dứt tư cách; |
| chuyển giao nghĩa vụ    | chủ thể trong quan hệ         | bên nhận thế chỗ vào quan hệ      |
+-------------------------+-------------------------------+-----------------------------------+

Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành về đại diện

Chương 2 phân tích chuyên sâu các quy định thực định trong BLDS năm 2015 và các văn bản liên quan:

  • Chủ thể đại diện:
    • Điều kiện của cá nhân, pháp nhân làm người đại diện: Năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự phù hợp với từng giao dịch, không thuộc các trường hợp bị cấm hoặc hạn chế quyền đại diện.
    • Xác định người đại diện theo pháp luật: Quy định về cha mẹ đối với con chưa thành niên, người giám hộ đối với người được giám hộ, người do Tòa án chỉ định trong tố tụng, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân (bao gồm cơ chế pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo quy định của BLDS 2015 và LDN 2020).
    • Xác định người đại diện theo ủy quyền: Căn cứ phát sinh từ hợp đồng ủy quyền hoặc văn bản ủy quyền; các điều kiện ủy quyền lại.
    • Những trường hợp không được xác lập thông qua cơ chế đại diện: Giao dịch có quyền lợi đối lập giữa người đại diện và người được đại diện; người đại diện xác lập giao dịch với chính mình hoặc với người thứ ba mà mình cũng là đại diện của người đó (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác).
  • Thời hạn và phạm vi đại diện:
    • Thời hạn đại diện: Xác định theo thỏa thuận, theo văn bản ủy quyền, theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền hoặc theo quy định pháp luật.
    • Phạm vi đại diện: Quyền và nghĩa vụ của người đại diện trong giới hạn ủy quyền hoặc theo quyết định của Tòa án/điều lệ pháp nhân; quyền xác lập hành vi cần thiết nhằm đạt mục đích đại diện.
  • Hậu quả pháp lý trong đại diện:
    • Hậu quả pháp lý của giao dịch do người đại diện xác lập đúng thẩm quyền (ràng buộc người được đại diện).
    • Hậu quả pháp lý của giao dịch do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện (không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ trường hợp người được đại diện công nhận, biết mà không phản đối, hoặc do lỗi của người được đại diện dẫn đến việc người thứ ba ngay tình tin rằng có quyền đại diện).
    • Hậu quả pháp lý của giao dịch do người đại diện vượt quá phạm vi đại diện (vô hiệu phần vượt quá, trừ trường hợp được người được đại diện chấp thuận hoặc người thứ ba ngay tình).
  • Chấm dứt đại diện: Phân tích các căn cứ chấm dứt đại diện theo ủy quyền (hoàn thành công việc, hết thời hạn, người ủy quyền/được ủy quyền đơn phương chấm dứt, cá nhân chết, pháp nhân chấm dứt tồn tại) và các căn cứ chấm dứt đại diện theo pháp luật (con đã thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hồi phục nhận thức, pháp nhân giải thể/phá sản).

Chương 3: Thực tiễn áp dụng và giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật dân sự về đại diện

Chương 3 chỉ ra các vướng mắc trong thực tiễn áp dụng và đề xuất hệ thống giải pháp:

  • Thực tiễn áp dụng pháp luật:
    • Bất cập trong đại diện theo pháp luật: Vướng mắc khi cha mẹ ly hôn tranh chấp quyền đại diện cho con; xung đột thẩm quyền giữa cha mẹ và người giám hộ; việc xác định người đại diện cho người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi; sự thiếu rõ ràng về thẩm quyền khi pháp nhân có nhiều người đại diện theo pháp luật.
    • Bất cập trong đại diện theo ủy quyền: Tranh chấp phát sinh do hình thức ủy quyền không thống nhất; tình trạng lạm dụng giấy ủy quyền để che giấu các giao dịch chuyển nhượng tài sản nhằm trốn thuế hoặc tránh nghĩa vụ; rủi ro pháp lý cho người thứ ba ngay tình khi người ủy quyền chết hoặc chấm dứt tư cách mà bên thứ ba không thể biết; tranh chấp về thẩm quyền ủy quyền lại.
  • Sáu nhóm kiến nghị hoàn thiện pháp luật dân sự:
    1. Hoàn thiện khái niệm đại diện tại Điều 134 BLDS năm 2015: Sửa đổi khái niệm theo hướng mở rộng phạm vi đại diện để xác lập, thực hiện các "quyền và nghĩa vụ dân sự" nói chung, không giới hạn trong phạm vi "giao dịch dân sự".
    2. Không thừa nhận đại diện theo pháp luật đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự là một trường hợp đại diện: Tách bạch giữa cơ chế đại diện thay mặt với cơ chế "đồng ý/chấp thuận" của người đại diện theo pháp luật đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
    3. Hoàn thiện quy định về xác định người đại diện: Bổ sung tiêu chí cụ thể giải quyết xung đột quyền đại diện giữa cha và mẹ khi ly hôn; xác định thứ tự ưu tiên giữa cha mẹ và người giám hộ nhằm bảo vệ tối đa lợi ích của người chưa thành niên.
    4. Hoàn thiện pháp luật về nội dung của hợp đồng ủy quyền: Quy định rõ ràng hơn về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bên được ủy quyền khi vi phạm nghĩa vụ thông tin hoặc có hành vi trục lợi.
    5. Hoàn thiện pháp luật về hình thức ủy quyền: Quy định bắt buộc về hình thức văn bản có công chứng/chứng thực đối với các giao dịch ủy quyền liên quan đến bất động sản và tài sản có đăng ký quyền sở hữu nhằm ngăn ngừa biến tướng và lừa dối.
    6. Bổ sung cơ chế công khai phạm vi đại diện của pháp nhân: Xây dựng quy định buộc pháp nhân phải công khai phân định phạm vi, thẩm quyền của từng người đại diện theo pháp luật trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, bảo vệ người thứ ba ngay tình khi tham gia giao dịch.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Đóng góp về mặt lý luận:

    • Xây dựng thành công định nghĩa toàn diện về đại diện trong dân sự, khắc phục sự bó hẹp của luật thực định hiện hành vốn chỉ giới hạn trong "xác lập, thực hiện giao dịch dân sự".
    • Luận giải có hệ thống cơ sở lý luận của chế định đại diện trên nền tảng tổng hòa 3 học thuyết: bình đẳng xã hội, tự do ý chí và học thuyết về nhà nước và pháp luật.
    • Phân định rõ nét ranh giới pháp lý giữa đại diện với các định chế pháp lý tương đồng (chuyển giao nghĩa vụ, thực hiện công việc không có ủy quyền, tư cách người giám hộ/người chấp thuận).
  2. Đóng góp về mặt thực tiễn và hoàn thiện pháp luật:

    • Đánh giá toàn diện thực trạng thi hành BLDS năm 2015 trong mối quan hệ với BLTTDS năm 2015, LDN năm 2020 và Luật HN&GĐ năm 2014, chỉ rõ các lỗ hổng lập pháp dẫn đến tranh chấp tại Tòa án.
    • Đưa ra 6 đề xuất sửa đổi, bổ sung cụ thể đối với các điều khoản của BLDS năm 2015 liên quan đến khái niệm đại diện, tiêu chí xác định người đại diện theo pháp luật, hình thức hợp đồng ủy quyền và cơ chế bảo vệ người thứ ba ngay tình khi giao dịch với người đại diện của pháp nhân.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án chủ yếu tập trung nghiên cứu chế định đại diện dưới góc độ pháp luật dân sự thực định Việt Nam (trọng tâm là BLDS năm 2015) và thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân trong nước. Do phạm vi đề tài, luận án chưa đi sâu phân tích toàn diện chế định đại diện trong các lĩnh vực pháp luật chuyên ngành hẹp khác như đại diện sở hữu trí tuệ, đại diện thương mại quốc tế hoặc đại diện ngoại giao.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế đại diện trong môi trường kinh tế số, giao dịch điện tử, hợp đồng thông minh (smart contracts), và hoàn thiện các quy định về đại diện bề ngoài (apparent authority) tương thích với chuẩn mực thương mại quốc tế.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan lập pháp và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp và các đề xuất điều khoản sửa đổi, bổ sung BLDS năm 2015 và các luật chuyên ngành liên quan đến chế định đại diện.
  • Đối với cơ quan xét xử (Tòa án) và cơ quan bổ trợ tư pháp (Luật sư, Công chứng viên): Làm tài liệu tham khảo trong việc xác định thẩm quyền đại diện, đánh giá hiệu lực của hợp đồng ủy quyền, giải quyết tranh chấp giao dịch do người không có thẩm quyền hoặc vượt quá phạm vi đại diện xác lập.
  • Đối với giảng viên, học viên và nghiên cứu sinh: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật hệ thống về lịch sử, lý thuyết so sánh và các khía cạnh lý luận chuyên sâu của chế định đại diện trong luật dân sự.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm đại diện do luận án đề xuất có điểm gì khác so với quy định tại Điều 134 BLDS năm 2015?

Điều 134 BLDS năm 2015 giới hạn mục đích của đại diện là để "xác lập, thực hiện giao dịch dân sự". Luận án đề xuất mở rộng khái niệm thành việc "xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự", bao hàm cả các hành vi và việc dân sự khác ngoài giao dịch (ví dụ: cha mẹ đại diện yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hoặc làm thủ tục hộ tịch cho con).

2. Ba học thuyết nền tảng chi phối chế định đại diện được luận án phân tích là gì?

Đó là: (1) Học thuyết về sự bình đẳng trong xã hội (cơ sở bảo vệ người yếu thế và bù đắp năng lực hành vi); (2) Học thuyết về tự do ý chí (cơ sở cho quyền tự do ủy quyền và giới hạn phạm vi ràng buộc); (3) Học thuyết về nhà nước và pháp luật (cơ sở để nhà nước can thiệp, đặt ra khuôn khổ pháp lý và giới hạn đại diện).

3. Tại sao luận án kiến nghị không thừa nhận đại diện theo pháp luật đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự?

Bản chất của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự (do nghiện ma túy, chất kích thích dẫn đến phá tán tài sản) là họ vẫn có năng lực nhận thức nhất định. Pháp luật chỉ yêu cầu các giao dịch liên quan đến tài sản của họ phải có sự "đồng ý" của người đại diện theo pháp luật chứ người đại diện không hoàn toàn "xác lập thay". Do đó, xếp trường hợp này vào đại diện theo pháp luật là chưa chính xác về mặt lý luận.

4. Luận án đề xuất giải pháp gì để khắc phục bất cập khi pháp nhân có nhiều người đại diện theo pháp luật?

Luận án kiến nghị pháp luật dân sự cần bổ sung quy định bắt buộc pháp nhân phải công khai cụ thể thẩm quyền và phạm vi đại diện của từng người đại diện theo pháp luật trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho bên thứ ba khi tham gia giao dịch.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Chu Thị Lam Giang là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về chế định đại diện trong pháp luật dân sự Việt Nam. Tác giả đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận dựa trên sự tổng hòa của ba học thuyết nền tảng, khảo cứu lịch sử lập pháp và luật học so sánh quốc tế, đồng thời phân tích toàn diện thực trạng quy định của BLDS năm 2015 và thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân. Hệ thống 6 nhóm kiến nghị lập pháp do luận án đề xuất mang giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn cao, đóng góp trực tiếp vào quá trình hoàn thiện pháp luật dân sự Việt Nam.