CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN CHUNG VE DIEU KIỆN NGƯỜI THỪA. KE LÀ CÁ NHÂN VÀ QUY ĐỊNH PHAP LUAT VE DIEU KIEN CUA NGƯỜI THỪA KẾ LA CÁ NHÂN 111. Một số vấn đề lý luận chung về điều kiện người thừa kế là cá nhân. Khái niệm về thừa kế 'Việt Nam ngày cảng phát triển về kinh tế - zã hội, khối lượng tai sản.
thuộc sở hữu tư nhân có giá trị ngày cảng cao vả quyền sỡ hữu cá nhân được luật pháp công nhận và bao vệ. Tai Điều 32 Hiển pháp năm 2013 quy định “Mọi người có quyền sở hữu về tìm nhập hợp pháp, của cải dé đành. nhà 6, tr liệu sinh hoạt. tư liệu sản xuất, phẩn vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tỗ chức kinh tế khác; Quyền sở hữu tr nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ “` 'Bên cạnh đó, con người không thể tôn tại va phát triển nếu tách rời những.
co sở vật chất nhất định. Khi sống, con người khai thác công dụng của tai sản để thöa mễn cho nhu cẩu cia mình, khi chết, tài sin còn lại của họ được dịch chuyển cho người còn sống. Quá trình dịch chuyển được gọi là thừa kế. Nhìn nhận một cách tổng quan thi “thửa kế ià việc dich cimyễn tài sản ii ages BE Chu Cũ ingiôi catsfng"^: Vệ tiết nee ngấ tha tuúa NÊN, thửa hưởng một cách ké tục Theo phương điện nay, Từ điển tiếng Việt đã định nghĩa: “Thừa kế ià hưởng của người chết để lại cho“) Về mặt nội dung thì thừa kể là quá trinh dịch chuyển di sản từ người chết cho người còn sing Co thể nhận thay rằng, từ thời xa xưa, khi ma chưa có nhà nước và hệ thống pháp luật thi con người để thửa ké cho con chéu theo tập tục xã hộ phong tục tập quan được gọi là thửa kế.
Cho đến khi xuất hiện nhà nước thi thông qua pháp luật nha nước đã tác động đến quá trình dịch chuyển tải sản “New: Thông ne 1 TATC ngày 2410711981 ia Ta ohn dân Tắ cao "Yam: T độn dag Pitt Tin ngônngữ lọc Nói thửa kế và quyển hưởng di sản của các chủ thể được nhả nước ghi nhận vả ‘bao dam thực hiện bằng pháp luật. Vi lẽ đó, quá trình dịch chuyển di sản từ người chết sang người được hưởng di sản được gọi là quyển thừa kế. Nói cách khác, khái niêm quyển thửa Kế lả phạm trủ pháp lí ma nôi dung của nó là xác định pham vi quyên, nghĩa vu của các chủ thể trong lĩnh vực thừa kế ‘Nhu vậy, thừa kế hay quyền thừa kế déu có nội dung la địch chuyển tải san tir người chết cho người còn sống. Trên cơ sở tìm hiểu các nội dung pháp luật vẻ thừa kế ở Việt Nam, có thể phân loại quy định thừa ké thành4 nhóm chính.
Nhóm đâu tiên bao gồm các quy định vẻ vẫn để chung của thừa kế ma khi chia di sin theo di chúc và theo pháp luật, phải căn cứ vao đó như nguyên tắc chia thừa kế, di sản thừa ké, thời điểm, dia điểm mỡ thừa kế, thời hiệu khối kiện thừa kế. Nhóm thứ hai các quy đính thừa ké theo di chúc. Để công nhân di chúc có hiệu lực thì đi chúc phải được lập theo một trình tư do pháp luật quy định "Nếu di chúc vi phạm trình tu, thủ tục đó thì vô hiệu. Ngoài ra, trong nhóm nay con có các quy định về hiệu lực của di chúc, các hình thức di chúc.
Nhóm thứ ba các quy định vẻ thừa kế theo pháp luật, nhóm nay bao gầm các quy phạm pháp luật quy đính vé các trường hợp thừa kế theo pháp luật, diện và hàng thừa kế, thừa kế thé vị Nhóm thứ tư các quy định các thi tục đảm bao thực hiện quyên thừa kế của công dan bao gm các quy pham về thủ tục hành chính, thủ tục tổ tung Ngoài ra còn có quy phạm quy định về thanh toán, phân chia di sản. Nour vay, pháp luật về thừa ké là tổng hợp các quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyển ban hành hoặc thừa nhận nhằm diéu chỉnh việc chuyển địch tai sin của người chết cho cá nhân, tổ chức theo di chúc hoặc theo pháp luất, cũng như quy định pham vi quyển, nghĩa vụ, phương thức bao vệ các quyển va ngiấa vụ của người thừa kế và được thực hiện theo những trình tự thi tục nhất định. Điều kiện của người thừa cá nhân ‘Mot trong những nội dung quan trọng của chế định thừa kế la quy định. vẻ người thừa kế.
Quy định nay là tiên để để từ đó có thể xác định được những người được quyển hưởng di sản của người chết. Chế định thừa kế nói chung va quy định về người thừa kế nói riêng là những quy định có lich sit lâu đời của nhân loại. Từ thời La Mã cỗ đại đã có những quy định vé người thừa kế. Cu thể, những người còn sống và thời điểm mỡ thửa kế, thửa kế" là thai nhỉ thì phải được sinh ra trong vòng 300 ngày (10 tháng) sau khi người để lại tai sản chết.
Người thừa ké có quyên nhận di sản thừa kế, có ngiữa vụ thực hiện ngiĩa vụ cia người chết trong phạm vi di sin được hưởng, có quyển từ chối không nhân di sản". Như vay, quy định vẻ người thừa kế đã được quan tém va ghi nhận từ rất lâu đời. Các quy định của luật La 'Mã chính la tiến dé để các quốc gia trên thé giới ghi nhận lại trong pháp luật của quốc gia minh các van để vé dân sự nói chung va thừa ké nói riêng, Pháp luật thừa kế Việt Nam cũng có những quy định vé người thừa kế xuất phát từ. sự tiếp thu, kế thừa các quy đính của pháp luật La Mã cũng như cia các quốc gia khác.
Người thừa kế được quy định tại Điều 635 Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS) “Ta cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mỡ thika ké hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mỡ thừa ké nhưng đã thành thai trước khi người dé lại dt sản chết. Trong trường hợp người thừa kế theo đi chúc là cơ quan, tổ chức thi phat là cơ quan, tổ chức tôn tại vào thời điễm mé thừa kê”, Đối chiều theo quy định vé người thừa kế được ghi nhân tại Điều 613 trong BLDS năm 2015 ghi nhận người thừa kế thì nhìn chung về mặt nội dung, quy định tại Diéu 613 của BLDS năm 2015 không khác nhiễu so với Điều 635 của BLDS năm 2005. Cụthể, quyển thừa kế của cả nhân được thừa nhận trong trưởng hợp: {pin Bin Ho, “Quinta ed ong hut La Mtcd da”, Tại chí ionlee Pháp s24 2001 "Bd 635 BLDS năm 2005 — Cá nhân đó phải lả người còn sống vảo thời điểm mở thừa kế, hoặc — Người sinh ra va con sống sau thời điểm mỡ thừa kế nhưng đã thánh. thai trước khi người đểlại di sản chết.
Có thể thấy người thừa kế là người được nhân di sẵn của người đã chết theo di chúc hoặc theo pháp luất hoặc vừa hưởng di sản theo di chúc, vừa hưởng di sản chia theo pháp luật. Người thửa kế theo di chúc có thể là cá nhân hoặc tổ chức nhưng người thừa kế theo qui định của pháp luật chỉ có thể 1a cá nhân. Trường hợp nay người chết không để lại di chúc, cho nên pháp uất qui định những người được hưởng di sản phải là những người có quan hé hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng, Giữa người chết và người còn sing ho có những quyền và nghĩa vụ pháp lý đối với nhau. Mat khác, người thừa kế hưởng di sản họ còn phải gánh vac một nghĩa vụ dao đức, phải thử cúng cha mẹ, ông, bả, tổ tiên.
‘Theo qui định của pháp luật Dân sự Việt Nam hiện hành thì người thừa kế bao gầm người thừa kế theo di chúc và người thửa kế theo pháp luật. Nếu quả trình dịch chuyển nảy thực hiên dựa trên ý chi của người chết thể hiên trong nổi dung của di chúc mà họ để lại, được gọi là: Thừa ké theo di chúc và người được hưởng di dân thừa kế bằng hình thức dich chuyển này sẽ được gọi là người thừa kế theo di chúc. Ngược lại, su dich chuyển trên được thực hiển. “theo hãng thừa kể, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật qui định” (Điều 649 BLDS năm 2015) sé được gọi là thừa kể theo pháp luật và người được hưởng di sản thừa kế trong trường hợp nay là người thừa kế theo pháp luật 1.
Thừu ké theo di chúc "Thừa kế theo di chúc là một trong hai hình thức thừa kế được pháp luật quy định Nội dung nay được hiểu theo cách chung nhất la việc chuyển dich tải sản từ người sở hữu sang người khác sau khi người đó chết thông qua di chúc - hình thức thể hiện rõ ý chi của người để lạ tai sản, là sự chủ đông của họ trong van dé thừa kế. Người khác được hướng thừa kế ỡ đây có thể là cá 10 nhân, nhóm cá nhân hoặc tổ chức nảo do. Tita kế theo at chúc là việc cimyén Tài sẵn cha người đã chất cho ngững người thừa kế theo ý chí tự nguyên của người để lai đi sẵn thé hién trong di chúc. TThửa kế theo di chúc bắt dau bằng sự kiện chủ sở hữu tải sản, thông qua tư do ý chí trên cơ sở pháp luật, quyết định việc lap di chúc, định đoạt một phan hoặc toàn bộ tải sẵn thuộc sở hữu của mình cho một cá nhân, nhóm cá nhân hoặc tổ chức nao đó đưc thửa hưởng, Hình thức của di chúc được lựa chọn trước hết theo ý chí của người có ý định lập, Tuy nhiên, pháp luật bên cạnh sự quy định, hướng dẫn cũng có những sự định hướng nhất định vé hình thức, cách thức lập để dim bão tinh có hiệu lực, áp dung sau này của di chúc, Trong di chúc, ngoài việc khẳng định để lại tai sản cho ai, người lập di chúc còn có thể ghi nhân thêm những nội dung khác như điêu kiện hưởng, thời điểm hưởng, quyển lợi cũng như trách nhiệm của những người liên quan.
Tuy cũng là một dang của giao dich dân sự, song do đặc thủ từ đời sống văn ‘hoa, nên di chúc ít nhiêu mang những cách thể hiện khá đặc trưng, không lẫn. với bat kỳ một giao dịch nào khác. Co khé khẳng định rằng di chúc vừa chứa đựng những nét đẹp văn hóa ‘bén cạnh những giá tri pháp lý.