Chương 1: Một số vấn đề lý luận và quy định của pháp luật về vai trò của người bào chữa trong giai đoạn xét xử phúc thâm vụ án hình sự ở Việt Nam. Chương 2: Thực trạng vai trò của người bào chữa trong giai đoạn xét xử phúc thâm vụ án hình sự ở Việt Nam. Chương 3: Yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả vai trò của người bào chữa trong giai đoạn xét xử phúc thâm vụ án hình sự ở Việt Nam. MỘT SO VAN DE LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CUA PHAP LUẬT VE VAI TRÒ CUA NGƯỜI BAO CHỮA TRONG GIAI DOAN XÉT XỬ PHÚC THẤM VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM 1.
Khái niệm, đặc điểm vai trò của người bào chữa trong giai đoạn xét xử phúc thấm vụ án hình sự 1. Khái niệm xét xử phúc thẩm vụ án hình sự Xét xử phúc thầm là giai đoạn của tô tụng hình sự, trong đó toà án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thâm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị nhằm khắc phục sai lầm của toà án cấp sơ thấm, bảo dam áp dụng thông nhất pháp luật, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp Cua cơ quan, tô chức, cá nhân. Pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam đã quy định những biện pháp bảo đảm cho toà án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Toà án khi xét xử sơ thâm vụ án hình sự phải ra bản án hoặc quyết định hợp pháp và có căn cứ.
Mặc dù vậy, không loại trừ trường hợp ban án, quyết định sơ thâm không đáp ứng được yêu cầu của pháp luật. Dé thận trọng trong việc xét xử cũng như bảo đảm quyền phan đối bản án, quyết định sơ thâm chưa có hiệu lực pháp luật của viện kiểm sát, bị cáo, bị hại và đương sự, luật tố tụng hình sự Việt Nam quy định nguyên tắc chế độ xét xử sơ thâm, phúc thâm được bảo đảm. Theo nguyên tắc này, bản án, quyết định sơ thẩm chưa cổ hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án hoặc ra quyết định mà có thé bị kháng cáo, kháng nghị dé xét xử lại hoặc xét lại ở cấp xét xử thứ hai. Toà án cấp phúc thâm xét xử lại vụ án đưới hình thức phiên toà và xét lại quyết định sơ thâm dưới hình thức phiên hop.
Toa án cấp phúc thẩm xem xét tính hợp pháp, tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thâm, xét xử lại vụ án về mặt nội dung. Những chủ thê liên quan đến kháng cáo, kháng nghị có quyền tham gia phiên toà hoặc phiên họp phúc thâm dé bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Toà án cấp phúc thâm ra bản án hoặc quyết định cần thiết khác để giải quyết vụ án. Bản án, quyết định phúc thâm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án hoặc ngày ra quyết định.
Cụ thể là theo Điều 330 BLTTHS năm 2015 và Điều 230 BLTTHS năm 2003 thì: “Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ an hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị”. Điều 204 BLTTHS năm 1998 quy định: “Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên xét lại những bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị”. Như vậy có thé thấy răng, so với BLTTHS năm 1988 thì BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2015 đã phan án đầy đủ hơn tính chất của xét xử phúc thâm. Tính chất của XXPT là xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định sơ thâm chưa có HLPL bị kháng cáo, kháng nghị.
Như vậy, khi kết thúc giai đoạn xét xử sơ thâm, những người tham gia tại phiên tòa xét xử sơ thâm cũng như VKS có thê không đồng tình với quyết định của Tòa án cấp sơ thâm. Họ cho rằng, Tòa án đã kết oan người vô tội; bỏ lọt tội phạm, vi phạm nghiêm trong thủ tục tố tụng, kết án sai tội danh.hoặc họ có thé nhận thấy khung hình phạt chưa thục sự phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.Vì vậy mà pháp luật TTHS quy định những người có quyền kháng cáo (bi cáo,người bi hại, người bảo chữa, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đại diện hợp pháp của những người nay) và VKS có quyền kháng nghị. Qua đó, họ có thể đưa ra quan điểm của bản thân về những điểm họ cho là không hợp lý trong vụ án để Tòa án cấp phúc thâm xem xét và đưa ra phán quyết cuối cùng. Tòa án cấp phúc thâm sẽ cân nhắc dé đưa ra một phán quyết công bằng, giải quyết những điểm bat hợp lý trước đó thông qua việc xem xét lại nội dung kháng cáo, kháng nghị tại phiên tòa; cũng như việc thâm tra lại các chứng cứ cũ và chứng cứ mới.
Hơn thế nữa, XXPT còn giúp cho Tòa án cấp trên kiểm tra những sai phạm mà Tòa án cấp dưới vi phạm bởi trên thực tế đã có rất nhiều vụ án mà Tòa án cấp sơ thấm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, đã bỏ lọt tội phạm hoặc kết án sai tội danh. Thông qua XXPT, Tòa án cấp phúc tham đã kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ các bản án, quyết định sơ thâm chưa có HLPL; đồng thời khắc phục và sửa chữa những sai phạm đó, giúp cho vụ án được giải quyết một cách khách quan, đúng người, đúng tội,đúng pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thâm, bổ sung, thay đổi hoặc rút kháng cáo; có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa cho mình trước Tòa án cấp phúc thâm, được nói lời sau cùng; Tòa án và các cơ quan có trách nhiệm đảm bảo cho bị cáo thực hiện các quyền nay và phải cử người bào chữa cho bị cáo. Các quyền này không chỉ thể hiện bản chất nhân đạo và dân chủ của pháp luật TTHS, mà còn là công cụ, phương tiện để bị cáo có thể bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của mình.
Ngoài ra, XXPT cho phép phát hiện và ngăn chặn kip thời việc thi hành các bản án sơ thâm không hợp pháp hoặc có sai phạm nghiêm trọng trong áp dụng pháp luật. Nhờ vậy các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đặc biệt là bị cáo được bảo vệ kịp thời và có hiệu quả. Như vậy có thé nói XXPT là phương tiện hữu hiệu để bảo vệ kịp thời và có hiệu quả lợi ích của Nhà nước, của xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đặc biệt là của bị cáo. Tom lại, XXPT là việc Toa an cap trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị.
Khái niệm người bào chữa Khái niệm “người bào chữa" lần đầu tiên được ghỉ nhận trong Sắc lệnh quy định tổ chức các đoàn luật sư ngày 10. Tuy nhiên Sắc lệnh này chỉ quy định cho luật sư quyền bào chữa và các điều kiện trở thành luật sư mà chưa quy định cho những người khác cũng có quyên bào chữa. Kế thừa và phát triển các văn ban pháp luật trước, Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 được bé sung, sửa đôi năm 2000 va được sửa déi, bố sung một cách cơ bản thành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, quy định rõ địa vị pháp lí của người bào chữa. Theo đó, người bào chữa có thể là luật sư; người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, của bị can, bị cáo; bào chữa viên nhân dân; trợ giúp viên pháp lý.
Người bào chữa do bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo lựa chọn. Trong trường hợp pháp luật quy định bắt buộc phải có người bào chữa, nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời ng bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoạc Toà án phải yêu cầu đoàn luật sư cử người bào chữa cho họ. Khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa, người bào chữa được thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng VKS, Chánh án Toà án hoặc Hội đồng xét xử thông báo. Một người bào chữa có thể bào chữa cho nhiều bị can, bị cáo trong cùng một vụ án nếu quyền và lợi ích của họ không đối lập nhau.
Một bị can, bị cáo có thé nhà một, hai hay nhiều luật sư bảo chữa cho mình, người đã tiễn hành tố tụng một vụ án hoặc là người thân thích của những người này hoặc đã tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong vụ án thì không được bào chữa trong vụ án đó nữa. Người bao chữa tham gia tổ tụng từ khi khởi tố bị can, trong trường hợp bắt người khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ. Trong trường hợp cần phải giữ bi mật điêu tra đôi với tội xâm phạm an ninh quôc gia thì Viện 11 trưởng Viện kiểm sát quyết định dé người bào chữa tham gia tổ tụng từ khi kết thúc điều tra. Người bào chữa có quyền có mặt khi hỏi cung bị can và nếu được Điều tra viên đồng ý thì được hỏi cung bị can và có mặt trong các hoạt động điều tra khác.
Người bảo chữa có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành t6 tụng, người giám định, người phiên dich; đưa ra chứng cứ và những yêu cầu; gặp bị can, bị cáo đang bị tam giam; được đọc hồ sơ vụ án và ghi chép những điều cần thiết sau khi kết thúc điều tra; có quyền tham gia xét hỏi và tranh luận tại phiên toà; khiếu nại các cơ quan tiến hành tố tụng, kháng cáo bản án, quyết định của Toà án nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về thé chất hoặc tâm than. Người bào chữa có nghĩa vụ sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định dé làm sáng tỏ những tình tiết xác định bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bị can, bị cáo; giúp bị can, bị cáo về mặt pháp lÍ nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.