Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ DO NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI THỰC HIỆN 1. Một số khái niệm cơ bản và đặc điểm điều tra vụ án hình sự do người dưới 18 tuổi thực hiện 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Điều tra vụ án hình sự Khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử là những giai đoạn trong quá trình tiến hành tố tụng của một VAHS được thực hiện bởi các cơ quan/người có thẩm quyền theo quy định của BLTTHS.
Mỗi một giai đoạn đều có những giá trị pháp lý và ý nghĩa khác nhau trong việc giải quyết VAHS, giúp các cơ quan/người có thẩm quyền nhanh chóng phát hiện, ngăn chặn và xử lý tội phạm và người phạm tội. Theo khoa học pháp lý định nghĩa: điều tra VAHS là giai đoạn của TTHS. Trong đó, cơ quan có thẩm quyền tiến hành hành các hoạt động tìm kiếm, phát hiện, thu giữ, bảo quản nguồn chứng cứ theo quy định của pháp luật TTHS để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội làm cơ sở cho việc truy tố của Viện kiểm sát và xét xử của Tòa án [29]. Từ định nghĩa trên có thể rút ra một số đặc điểm của điều tra VAHS như: đây là một giai đoạn TTHS độc lập của quá trình tố tụng bắt đầu từ khi ra quyết định khởi tố vụ án và kết thúc khi CQĐT ra quyết định đình chỉ điều tra hoặc bản kết luận điều tra đề nghị truy tố; chủ thể chính tiến hành là các CQĐT và các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra; nội dung của điều tra VAHS là áp dụng mọi biện pháp điều tra cần thiết trong TTHS để thu thập chứng cứ làm rõ mọi vấn đề để xử lý đúng đắn và khách quan vụ án.
7 Giai đoạn điều tra VAHS có những nhiệm vụ chính: thu thập chứng cứ để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội làm cơ sở cho việc truy tố, góp phần đảm bảo cho việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; xác định chính xác tính chất, mức độ thiệt hại do tội phạm gây ra tạo cơ sở cho Tòa án xét xử và quyết định mức bồi thường thiệt hại được xác định; áp dụng các biện pháp tố tụng cần thiết để ngăn chặn tội phạm, kịp thời khắc phục hậu quả do tội phạm gây ra và phát hiện kịp thời những nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm để từ đó đưa ra các biện pháp phòng ngừa thích hợp. Điều tra VAHS có vai trò trực tiếp chứng minh hành vi phạm tội và xác định người thực hiện hành vi phạm tội thông qua các chứng cứ đã thu thập được, đồng thời góp phần loại trừ một số tiêu cực khác trong hoạt động tư pháp hình sự, ngăn chặn kịp thời việc thông qua quyết định khởi tố bị can một cách không thận trọng, thiếu chính xác và do vậy, có thể sẽ kéo một loạt hậu quả tiêu cực xảy ra trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự ở các giai đoạn TTHS tiếp theo. Đây là một giai đoạn TTHS cơ bản và quan trọng thể hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân quyền, các quyền lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng, góp phần có hiệu quả vào cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm trong toàn xã hội. Người dưới 18 tuổi Hiện nay, người CTN phạm tội là một hiện tượng, một thực tế tồn tại ở các quốc gia trên thế giới.
Tuy nhiên, trong pháp luật hình sự quốc tế chưa có khái niệm chính thức về “Người chưa thành niên”, thuật ngữ “Người chưa thành niên” là một thuật ngữ có nhiều cách hiểu khác nhau trong các văn bản pháp lý quốc tế, chẳng hạn như: Theo Điều 2 Quy tắc Bắc Kinh [19] quy định: “Người chưa thành niên là trẻ em hoặc thanh thiếu niên mà tùy theo từng hệ thống pháp luật có thể bị xử lý khi phạm tội, theo một phương thức khác với người lớn”. 8 Trong khi đó, Điều 1 Công ước về Quyền trẻ em [13] lại định nghĩa: “Trong phạm vi công ước này, trẻ em có nghĩa là những người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Tại Điều 11(a) trong văn bản “Những quy tắc của LHQ về việc bảo vệ người CTN bị tước quyền tự do 1990 (Quy tắc Havana)” quy định: “Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi. Giới hạn tuổi dưới mức này cần phải được pháp luật xác định và không được tước quyền tự do của người chưa thành niên” [18].
Như vậy, thuật ngữ “người chưa thành niên” theo hướng dẫn này lại tương đồng với thuật ngữ “trẻ em” trong Công ước về quyền trẻ em, theo đó, “người chưa thành niên” là người dưới 18 tuổi. Ngoài ra, Công ước về quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR) cũng xác định“tất cả người dưới 18 tuổi nên được xử lý như người chưa thành niên” [14]. Tóm lại, pháp luật quốc tế chưa có khái niệm thống nhất về người CTN. Thông qua việc nghiên cứu các văn bản quốc tế về người CTN có thể thấy khi xây dựng khung pháp lý cho đối tượng đặc biệt này pháp luật quốc tế dựa vào đặc điểm tâm – sinh lý của họ, đồng thời đưa ra giới hạn độ tuổi đối với người CTN ở mức dưới 18 tuổi nhất định nhằm đảm bảo tối đa quyền lợi của họ trong hệ thống tư pháp hình sự.
Các quốc gia thành viên có thể dựa vào khung pháp lý này nội luật hóa thành các quy định pháp luật quốc gia để xác định độ tuổi phù hợp cho khái niệm người CTN tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - chính trị, văn hóa - xã hội của quốc gia mình. Ở nước ta, khái niệm người CTN được quy định trong một số văn bản quy phạm pháp luật như: Điều 18 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên. Người chưa đủ mười tám 9 tuổi là người chưa thành niên.” Bộ luật dân sự 2015 tiếp tục kế thừa quy định này khẳng định người CTN là người chưa đủ mười tám tuổi [22]. Bên cạnh đó, tại Điều 161 Bộ luật lao động 2012 cũng quy định “Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi”.
BLTTHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLTTHS 2015), nhà làm luật không sử dụng thuật ngữ “người chưa thành niên” mà trực tiếp thay thế bằng thuật ngữ “người dưới 18 tuổi”. Như vậy, trong pháp luật TTHS Việt Nam xác định người CTN là người dưới 18 tuổi. Việc thay đổi này về bản chất không có gì thay đổi song với việc khẳng định người CTN là người dưới 18 tuổi giúp việc áp dụng pháp luật đối với đối tượng này được xác định cụ thể, rõ ràng, áp dụng pháp luật thống nhất. Phạm vi áp dụng thủ tục TTHS đối với người dưới 18 tuổi bao gồm người bị buộc tội, người bị hại và người làm chứng là người dưới 18 tuổi [27].
Như vậy, thuật ngữ người CTN được sử dụng “kép” vừa là chủ thể của tội phạm (người bị buộc tội), vừa là đối tượng tác động của tội phạm (người bị hại, người làm chứng). Dưới góc độ là chủ thể của tội phạm, độ tuổi của người 18 tuổi bị buộc tội có phạm vi hẹp hơn so với các ngành luật khác. Bởi vì pháp luật hình sự quy định tuổi tối thiểu chịu trách nhiệm hình sự là 14 tuổi [24], do đó, với tư cách là chủ thể của tội phạm thì người dưới 18 tuổi có độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi. Qua nghiên cứu các quy định của văn bản pháp lý khác nhau từ quốc tế cho đến pháp luật Việt Nam, tuy đưa ra nhiều khái niệm khác nhau, không quy định thống nhất nhưng tóm lại trong TTHS, thuật ngữ “người chưa thành niên” nên được hiểu là người dưới 18 tuổi.
Điều tra thân thiện Quá trình giải quyết VAHS, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng nói chung và người phạm tội là người dưới 18 tuổi nói riêng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của các cơ quan/người 10 có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Trong đó, giai đoạn điều tra VAHS cũng là một giai đoạn tố tụng hình sự mà quyền con người nói chung và những quyền đặc biệt của người dưới 18 tuổi nói riêng dễ bị xâm phạm nhất. Xuất phát từ yêu cầu đó, quá trình điều tra điều tra VAHS do người dưới 18 tuổi thực hiện được đặc biệt chú trọng, đòi hỏi các nhà làm luật cần xây dựng trình tự và cách thức thực hiện các hành vi và hoạt động tố tụng hình sự đặc biệt đối với VAHS do người dưới 18 tuổi thực hiện. Trên thực tế, trong các văn bản pháp lý của LHQ và pháp luật TTHS Việt Nam không có khái niệm cụ thể thế nào là “điều tra thân thiện” hay “điều tra nhạy cảm”.
Tuy nhiên, khái niệm này ngày càng phổ biến và được nhắc đến nhiều trong đời sống pháp lý quốc tế. Theo đó, ĐTTT được hình thành dựa trên các chuẩn mực quốc tế được quy định trong các văn bản pháp lý như: Công ước của LHQ về quyền trẻ em (1989), Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của LHQ về Tư pháp người chưa thành niên (1985), Bộ quy tắc ứng xử cho các nhân viên thực thi pháp luật (1979), Hướng dẫn phòng, chống tội phạm ở người CTN (1990), Quy tắc về bảo vệ người CTN bị tước đoạt quyền tự do (1990), Hướng dẫn của LHQ về các vấn đề tư pháp liên quan tới nạn nhân và nhân chứng trẻ em (2005),. Qua các văn kiện và thông lệ quốc tế, các quan điểm khoa học nêu ra hai hướng tiếp cận về khái niệm ĐTTT như sau: “Thứ nhất, ĐTTT được tiếp cận như một thiết chế tố tụng tiền xét xử với yếu tố bộ máy, nhân lực, cơ sở vật chất và phương thức làm việc với người CTN trong quá trình điều tra, thu thập chứng cứ; Thứ hai, ĐTTT là phương thức tiến hành tố tụng bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người CTN tham gia tố tụng với sự ghi nhận quyền của họ đồng thời với việc ghi nhận trách nhiệm, nghĩa vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng” [11]. Theo cả hai cách tiếp cận thì mô hình ĐTTT chỉ được đặt ra khi có sự tham gia tố tụng của người CTN.