Chương 1. Những vấn đề lý luận và pháp lý về bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Thực trạng bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh – Từ thực tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh. Quan điểm và giải pháp tăng cường bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
9 Luan van CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƢỜI TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ ÁN HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP TỈNH 1. Quan niệm về quyền con ngƣời và bảo vệ quyền con ngƣời trong hoạt động xét xử án hình sự 1. Quan niệm về quyền con người Quyền con người trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội.
Bản thân con người là sự thống nhất giữa mặt tự nhiên và xã hội, con người luôn luôn là động vật xã hội, do đó việc giải quyết nhu cầu của mỗi cá nhân chỉ có thể là đúng khi đặt nó trong quan hệ xã hội. Quyền con người có giá trị chung, phổ biến, phản ánh về nhu cầu tự nhiên khách quan của con người, đó là một trong những gía trị nhân văn lớn nhất và không có giới hạn trong xã hội hiện đại, là sản phẩm của sự phát triển lịch sử nhân loại. Quyền con người mang tính riêng biệt, đặc thù, những nội dung của nó được xác định theo yêu cầu của cuộc sống hiện đại, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và đặc điểm truyền thống quốc gia và bị hạn chế bởi các chế định pháp lý và đời sống thực tế được phản ảnh. Quyền con người mang giá trị cao quý, kết tinh từ nền văn hóa của tất cả các dân tộc trên thế giới; là mục tiêu chung để bảo vệ và thúc đẩy nhân phẩm và hạnh phúc của mọi người.
Khi nói đến quyền con người là nói về những giá trị gắn với mỗi con người vừa với tư cách là cá nhân, vừa với tư cách là thành viên xã hội. Do đó, quyền con người vừa mang thuộc tính cá nhân, vừa thể hiện lợi ích quốc gia, dân tộc, cộng đồng xã hội. Quyền con người là những giá trị phải được xã hội hóa bằng cách thể chế hóa thành các quyền năng cụ thể, cần thiết cho mọi người, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, ngôn ngữ, tình cảm. 10 Luan van Quyền con người vừa là thuộc tính tự nhiên của con người, vừa là giá trị nảy sinh trong đời sống cộng đồng, gắn liền với một nhà nước cụ thể, với một chế độ chính trị, pháp luật cụ thể.
Sự ghi nhận quyền con người, pháp luật phản ánh các nhu cầu và khả năng khách quan phù hợp với các chế độ chính trị, kinh tế, lịch sử, dân trí cụ thể. Thông qua pháp luật thì các giá trị của con người với tư cách là tự nhiên và xã hội mới thành quyền được xác định và mới bảo đảm trở thành hiện thực trong thực tiễn đời sống xã hội. Con người sinh ra đã có các quyền tự nhiên, bẩm sinh, vốn có của mình rồi chứ không cần phải đợi đến khi có pháp luật và được pháp luật ghi nhận thì chúng mới hình thành. Quyền con người là mọi người sinh đều tự do và bình đẳng về phẩm giá và các quyền; không phân biệt dân tộc, chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ, tín ngưỡng tôn giáo, chính kiến, tài sản, thành phần xã hội; không được phân biệt đối xử đối với con người căn cứ vào địa vị chính trị - pháp lý hoặc địa vị quốc tế của quốc gia hay vùng lãnh thổ mà người đó đang lệ thuộc, dù đó là vùng lãnh thổ độc lập, quản thúc, không có chủ quyền hoặc bị hạn chế về chủ quyền; thứ tư, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và đều được pháp luật bảo vệ như nhau [13].
Như vậy, quyền con người là những quyền vốn có tự nhiên mà chỉ có con người mới được hưởng trong những điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội nhất định và được pháp luật đảm bảo. Quyền con người vừa mang tính tự nhiên vừa mang tính xã hội; mang tính phổ biến nhưng lại mang tính đặc thù. Qua những phân tích trên, có thể hiểu Quyền con người là những đặc quyền vốn có, tự nhiên của con người và chỉ có người mới có được. Nội dung các quyền con người trong tố tụng hình sự Trong tố tụng hình sự thì con người có các quyền cơ bản như sau: 1.
Bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật 11 Luan van Nhà nước quy định hệ thống pháp luật thống nhất và việc áp dụng pháp luật giống nhau đối với mọi người trong khi tiến hành tố tụng. Bất cứ người nào thực hiện hành vi phạm tội đều phải chịu trách nhiệm hình sự theo các Điều khoản tương ứng của Bộ luật Hình sự, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội. Việc giải quyết các vụ án hình sự được tiến hành theo một trật tự, thủ tục thống nhất mang tính bắt buộc chung do pháp luật tố tụng hình sự quy định. Bình đẳng thể hiện trong việc có quyền ngang nhau trong việc đưa ra chứng cứ và yêu cầu, bình đẳng trong quyền nghĩa vụ trọng quá trình giải quyết vụ án.
Quyền an toàn về thân thể, danh dự, nhân phẩm cá nhân trong tố tụng hình sự Quyền về an toàn thân thể, danh dự, nhân phẩm của cá nhân trong quá trình tố tụng hình sự là quyền được bảo vệ để khỏi bị bắt, giam giữ, xâm hại đến thân thể một cách tùy tiện; Bởi vì, mọi người có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản. Quyền này cũng được quy định trong Luật Hiến pháp năm 2013. Do vậy trong quá trình tố tụng, quyền đảm bảo bất khả xâm phạm về thân thể (quy định tại điều 10, Bộ luật Tố tụng hình sự) thuộc nhóm quyền an toàn về thân thể, danh dự, nhân phẩm cá nhân trong tố tụng hình sự. Trong hoạt động xét xử án hình sự thì bị can cũng như các chủ thể tham gia tố tụng có quyền bất khả xâm phạm về thân thể.
Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, việc bắt, tạm giữ, tạm giam người phải theo quy định của bộ luật này. Nghiêm cấm tra tấn, bức cung, dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, tính mạng, sức khỏe của con người. 12 Luan van Ngoài ra, quyền không ai được xâm phạm trái pháp luật chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân phải được thực hiện đúng theo quy định chứ không được tùy tiện được bảo vệ trong quá trình xét xử án hình sự.
Do đó, quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự là quyền được bảo vệ của người yếu thế, của người bị cáo buộc là phạm tội và họ được hưởng những quyền chính đáng, phù hợp với địa vị của họ bởi người bị cáo buộc phạm tội trong quá trình xét xử giải quyết vụ án, cho nên đối với những đối tượng này cần được quan tâm và bảo vệ. Bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự là đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo, giảm thiểu các nguy cơ xâm phạm một cách bất hợp pháp. Trong Công ước thì tại Khoản 1 Điều 10 về Quyền được đối xử nhân đạo của người bị tước tự do được quy định cụ thể là “những người bị tước tự do phải được đối xử nhân đạo với sự tôn trọng nhân phẩm vốn có của con người”. Quyền con người trong hoạt động xét xử án hình sự là những quyền cơ bản, dù họ có bị tước hay hạn chế một số tự do bởi người bị cáo buộc phạm tội trong giai đoạn xét xử thì vẫn có những giá trị, phẩm chất con người.
Quyền Suy đoán vô tội Quyền suy đoán vô tội được quy định tại điều 13, Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong tố tụng hình sự thì người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội. 13 Luan van Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội. Trong hoạt động xét xử án hình sự thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội. Quyền được bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự Quyền được bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự (được quy định tại điều 16, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.
Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này. Quyền được xét xử công bằng Một trong những quyền cơ bản của con người trong hoạt động xét xử các vụ án án hình sự phải được Tòa án xét xử kịp thời theo thời hạn quy định chứ không để chậm trễ, quá hạn; Quá trình xét xử án hình sự của Tòa án phải đảm bảo tính chất công bằng và công khai.